CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẠO ĐỘNG LỰC 1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ ĐỘNG LỰC, TẠO ĐỘNG LỰC 1. Khái niệm nhu cầu Nhu cầu được hiểu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn không thõa mãn về một cái gi đó. Nó thể hiện là sự cần thiết về một cái gì đó.
Nhưng “cái gì đó” chỉ là hình thức biểu hiện bên ngoài của nhu cầu. Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu của cơ thể sống là một hệ thống phức tạp, nhiều tầng lớp, bao gồm vô số các chuỗi mắt xích của hình thức biểu hiện và nhu yếu liên kết chằng chịt, có khẳả năng phát triển và đa dạng hóa [6]. Hình thức biểu hiện nhất định của nhu cầu được cụ thể hóa thành đối tượng nhất định.
Đối tượng của nhu cầu chính là cái mà nhu cầu hướng tới và có thể làm thõa mãn những nhu cầu đó. Một đối tượng có thể làm thõa mãn một số nhu cầu, một nhu cầu có thể làm thõa mãn bởi một số đối tượng với mức độ thõa mãn có khác nhau. Nhu cầu của người lao động rất phong phú và đa dạng. Nhu cầu và sự thõa mãn của nhu cầu đều gắn liến với nền sản xuất xã hội và sự phân phối các giá trị vật chất và tinh thần trong điều kiện xã hội đó.
Nhung dù trong nền sản xuất nào thì nhu cầu người lao động cũng gồm hai nhu cầu chính: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Nhu cầu vật chất là nhu cầu hàng đầu, đảm bảo người lao động có thể sống để tạo ra của cải vật chất, thõa mãn được những nhu cầu tối thiểu cùng với sự phát triển của xã hội các nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Trình độ phát triển xã hội ngày càng cao thì nhu Luan van 9 cầu ngày càng nhiều, càng phức tạp hơn, thậm chí những nhu cầu đơn giản nhất cũng không ngừng thay đổi. Nhu cầu tinh thần của người lao động cũng rất phong phú, nó đòi hỏi những điều kiện để con người tồn tại và phát triển về mặt trí lực nhắm tạp ra trạng thái tâm lý thoải mái trong quá trình lao động.
Trên thực tế, mặt dù hai nhân tố này là hai lĩnh vực khác biệt saong chúng có mối quan hệ khăng khít nhau. Trong quá trình phân phối nhân tố vật chất lại chứa đựng yếu tố tinh thần và ngược lại, những động lực về tinh thần phải được thể hiện qua vật chất thì sẽ có ý nghĩa hơn. Cả hai yếu tố vật chất và tinh thần cùng tồn tại trong bản thân người lao động nó không chỉ có một yêu cầu vật chất hay tinh thần mà nó có nhiều đòi hỏi khác nhau. Tuy nhiên ở mỗi thời điểm người lao động ưu tiên thực hiện yêu cầu mà được coi là cấp thiết nhất.
Khái niệm động cơ Con người trong quá trình lao động, các nhà quản trị thường đặt ra câu hỏi: Tại sao người lao động làm việc? Trong điều kiện như nhau, vì sao có người làm việc nghiêm túc, hiệu quả công việc cao, có người thì ngược lại?. Và câu trả lời được tìm ra đó là hệ thống động cơ, nhu cầu và lợi ích của người lao động đã tạo ra điều đó. Động cơ được hiểu là sự sẵn sàng quyết tâm thực hiện với sự nỗ lực ở mức độ cao để đạt được các mục tiêu của tổ chức và nó phụ thuộc vào khả năng đạt được kết quả để thỏa mãn những nhu cầu của cá nhân [6]. Động cơ là kết quả của sự tương tác giữa cá nhân và tình huống.
Động cơ có tác dụng chi phối thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động. Các cá nhân khác nhau có các động cơ khác nhau. Mức độ thúc đẩy động cơ cũng sẽ khác nhau giữa các cá nhân cũng như mỗi cá nhân ở các tình huống khác nhau. Nói chung, người lao động có động cơ làm việc một cách tự nhiên.
Động cơ này bắt nguồn từ một thực tế là mọi người đều mong muốn được khẳng định bản thân mình, được thành đạt, được tự chủ và có thẩm quyền trong công việc Luan van 10 của mình… Chính vì vậy, để người lao động làm việc tốt thì những nhà quản trị, quản lý cần phải loại trừ những hoạt động tiêu cực có thể triệt tiêu động cơ làm việc tự nhiên của người lao động. Kế tiếp cần phải phát triển những yếu tố thực sự có thế thúc đẩy tất cả các nhân viên làm việc, bằng cách nào đầy, người sử dụng lao động sẽ tận dụng được động cơ thúc đẩy của nhân viên dưới quyền. Khái niệm động lực Tại Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa VII đã ra Nghị quyết xác định mục tiêu cải cách hành chính của nước ta là “xây dựng một nền hành chính trong sạch, có đủ năng lực sử dụng đúng quyền lực và từng bước hiện đại hóa để quản lý có hiệu lực và hiệu quả công việc của Nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướn, phục vụ đắc lực đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống, và làm việc theo pháp luật” (trích Nghị quyết Hội nghị VIII) Để đạt mục tiêu đó cần phải tạo động lực trong lao động, làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức, hình thành và phát triển ở cán bộ, công chức thái độ tích cực, hăng hái lao động, nâng cao chất lượng lao động, hiệu quả công tác. Có như vậy mới tạo ra một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại, có tính chuyên nghiệp, xây dựng một đội ngũ công chức gần dân, quan hệ mật thiết với nhân dân, được nhân dân tin cậy, tạo ra sự lành mạnh trong văn hóa công sở, giảm quan liêu, tham nhũng, vì vậy tạo động lực lao động cho cán bộ, công chức là nhiệm vụ cấp bách, một khâu quan trọng trong công cuộc cải cách hành chính của nước ta.
Vậy động lực là gì?. Theo Maier và Lawler (1973), đã đưa ra một mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng x Động lực Trong đó: Khả năng = Khả năng bẩm sinh x Đào tạo x Các nguồn lực khác. Động lực = Khao khát x tự nguyện Luan van 11 Như vậy, có thể thấy rằng động lực lao động có tác dụng rất lớn đến quá trình làm việc của mỗi cá nhân. Theo Maier và Lawler động lực là sự khao khát tự nguyện của mỗi cá nhân; Higgins (1994), động lực là lực đẩy từ bên trong của mỗi cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thõa mãn; Bedeian (1993), động lực là sự cố gắng để đạt mục tiêu; động lực là cái thúc đẩy làm cho phát triển; động lực là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được mục tiêu của tổ chức.
Tóm lại khi nói đến động lực trong lao động của cá nhân, tức là nói đến sự khao khát và tự nguỵện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức đã đặt ra. Vậy động lực có thể định nghĩa ‘‘là sự khao khát và tự nguỵện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức đã đặt ra’’ [2]. Khái niệm tạo động lực Trong một tổ chức, một cơ quan, doanh nghiệp. Nếu lãnh đạo quan tâm đến động lực lao động của nhân viên mình, thì mỗi nhân viên trong cơ quan, doanh nghiệp đó sẽ tự giác dồn hết khả năng làm tốt hơn những công việc được giao sao cho có hiệu quả lớn nhất.
Những việc làm đó xuất phát từ sự tự nguyện muốn khẳng định bản thân với tập thể, cơ quan, doanh nghiệp, góp phần giúp cơ quan, doanh nghiệp đạt được những mục đích, kế họach đặt ra. Từ các tiếp cận trên về động lực, có thể khái quát về tạo động lực như sau: “Tạo động lực là một biện pháp có mục đích của nhà quản lý để đạt được những nhu cầu chưa được thõa mãn” hay “Tạo động lực là những hoạt động có tính chất khuyến khích động viên nhằm tác động vào nhu cầu của người lao động để tạo nên sự chuyển biến hành vi của họ hướng theo mục tiêu mà cơ quan, doanh nghiệp mong muốn” [4]. Một nhân viên làm việc trong cơ quan, doanh nghiệp có những nhu cầu Luan van 12 khác nhau. Đó là nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần và nhu cầu xã hội và cũng có thể là nhu cầu hoạt động làm việc.
Đây là đòi hỏi khách quan của mọi con người nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của bản thân họ trong những điều kiện nhất định. Để đáp ứng những nhu cầu ấy, cần phải có những chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động, nhằm làm cho họ có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng với công việc và mong muốn đóng góp cho cơ quan, doanh nghiệp, đó chính là quá trình tạo động lực. Như vậy có thể hiểu rằng tạo động lực là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc hoặc tạo động lực là việc làm của nhà quản lý nhằm khuyến khích, động viên nhân viên để họ nâng cao hiệu quả làm việc của bản thân, thông qua đó nhà quản lý đạt được những kết quả, những mục tiêu mà cơ quan, doanh nghiệp đặt ra. Các lý thuyết về tạo động lực thúc đẩy người lao động.
Để khuyến khích động viên tinh thần làm việc của nhân viên, nhà quản lý phải sử dụng những biện pháp khuyến khích tác động vào nhu cầu của họ. Con người có nhiều nhu cầu khác nhau, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra các cách tiếp cận với các nhu cầu đó. Nghiên cứu các học thuyết về tạo động lực cho thấy có các học thuyết sau: Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow Theo học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow, cho rằng con người có nhiều nhu cầu khác nhau mà họ khao khát được thỏa mãn, được chia ra 5 nhu cầu cơ bản.