Tổng quan nghiên cứu

Nghệ thuật múa rối nước truyền thống tại đồng bằng Bắc Bộ là một thành tố tiêu biểu trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, từng được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn trong danh mục 6 di sản văn hóa phi vật thể đầu tiên của Việt Nam đệ trình UNESCO công nhận là kiệt tác di sản thế giới. Tuy nhiên, trước làn sóng đô thị hóa và cơ chế kinh tế thị trường, các làng rối cổ truyền đang đối mặt với nguy cơ mai một nghiêm trọng khi hơn 80% vốn cổ phụ thuộc vào trí nhớ và kỹ năng của các nghệ nhân cao tuổi. Vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để bảo lưu tính nguyên bản của di sản đồng thời thích ứng linh hoạt với đời sống đương đại.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Dân tộc học tập trung phân tích thực chứng vai trò hạt nhân của nghệ nhân dân gian trong việc sáng tạo, gìn giữ, biểu diễn và chuyển giao nghệ thuật múa rối nước. Nghiên cứu trường hợp điển hình được triển khai tại Chi hội rối nước Minh Tân (làng Bảo Hà, xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng) – một địa phương có lịch sử nghề chạm khắc gỗ và tạc tượng hơn 500 năm, nằm cách Quốc lộ 10 khoảng hơn 3 km về phía Tây Bắc. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa được tiến hành liên tục trong 24 tháng (từ tháng 8/2006 đến tháng 7/2008), kết hợp đối sánh diện rộng với 5 phường rối cổ truyền nổi tiếng khác tại miền Bắc gồm Đào Thục (Hà Nội), Bồ Dương (Hải Dương), Nguyên Xá (Thái Bình), Phú Đa (Hà Tây cũ) và Nam Chấn (Nam Định).

Ý nghĩa học thuật và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc lượng hóa đóng góp của cá nhân nghệ nhân Đào Minh Tuân – người tiên phong thành lập phường rối tư nhân tự chủ 100% kinh phí hoạt động. Nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ khoa học giúp giải quyết bài toán xã hội hóa di sản, tạo đòn bẩy gia tăng 40% hiệu quả khai thác kinh tế du lịch làng nghề và bảo vệ quyền lợi cho cộng đồng thực hành di sản.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết liên ngành giữa Dân tộc học, Nhân học văn hóa và Xã hội học văn hóa. Trọng tâm là lý thuyết Chủ thể văn hóa gắn liền với khái niệm Báu vật nhân văn sống (Living Human Treasures) theo khung định nghĩa của UNESCO ban hành năm 1993 và Công ước Bảo vệ Di sản Văn hóa Phi vật thể năm 2003. Khái niệm này khẳng định nghệ nhân dân gian là những cá nhân ưu tú nắm giữ kỹ năng trình diễn, chế tác và tri thức bản địa đỉnh cao của cộng đồng.

Bên cạnh đó, đề tài kết hợp lý thuyết Biểu tượng và Nhân học tôn giáo tín ngưỡng nông nghiệp trồng lúa nước để luận giải cội nguồn tâm linh của không gian diễn xướng thủy đình. Bốn khái niệm công cụ nền tảng được định danh xuyên suốt bao gồm: Nghệ nhân dân gian (chủ thể sáng tạo và trao truyền di sản), Không gian văn hóa diễn xướng rối nước, Quân rối thủy lực - dây điều khiển, và Mô hình phường rối tư nhân trong cơ chế thị trường. Khung phân tích này cho phép đánh giá toàn diện nghệ nhân ở 3 tư cách: nghệ sĩ biểu diễn tài hoa, nghệ nhân điêu khắc kỹ thuật cao, và nhà quản lý văn hóa cơ sở năng động.

Phương pháp nghiên cứu

Công trình sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập qua phương pháp điền dã Dân tộc học sâu sát. Cỡ mẫu nghiên cứu thực địa bao gồm 1 đơn vị tổ chức cơ sở (Phường rối Minh Tân), 1 nghệ nhân sáng lập (ông Đào Minh Tuân), cùng 15 diễn viên nòng cốt nam nữ trong phường rối. Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 30 cư dân địa phương thuộc các nhóm tuổi từ 18 đến trên 65 tuổi và 5 cán bộ quản lý văn hóa - xã hội tại xã Đồng Minh và huyện Vĩnh Bảo.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng xã hội được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện cao nhất về góc nhìn cộng đồng. Lý do lựa chọn phương pháp quan sát tham dự dài hạn là nhờ mối liên hệ công tác hơn 10 năm của cơ quan nghiên cứu tại địa phương, giúp tác giả thâm nhập trực tiếp vào đời sống sinh hoạt, quá trình tập luyện và các chuyến lưu diễn thực tế. Nguồn dữ liệu thứ cấp được khai thác từ 20 báo cáo lưu trữ địa phương, các tư liệu sắc phong thời Hậu Lê (Cảnh Hưng) của dòng họ tạc tượng làng Bảo Hà và hệ thống tài liệu chuyên khảo về múa rối nước Việt Nam. Phương pháp so sánh đồng đại và lịch đại được áp dụng triệt để nhằm làm rõ sự biến đổi của phường rối Minh Tân so với 5 phường rối cổ truyền lân cận trong suốt tiến trình từ năm 2006 đến năm 2008.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu mang lại 4 phát hiện thực chứng có giá trị khoa học cao về phương thức vận hành của nghệ thuật dân gian đương đại:

Thứ nhất, nghệ nhân dân gian nắm giữ 100% quy trình tích hợp khép kín từ chế tác tạo hình đến biểu diễn. Tại Minh Tân, nghệ nhân Đào Minh Tuân đã chuyển hóa thành công kỹ thuật chạm khắc tượng gỗ truyền thống hơn 500 năm của làng Bảo Hà sang việc đục đẽo, gọt giũa quân rối nước bằng gỗ sung, sơn ta chống thấm nước và thiết kế hệ thống sào dây phức tạp. Phường rối tự chủ 100% đạo cụ và sáng tạo hơn 15 tích trò độc diễn mới bên cạnh các tích trò cổ điển.

Thứ hai, mô hình phường rối tư nhân Minh Tân cho thấy khả năng thích ứng thị trường vượt trội. Khác với các phường rối cổ truyền dựa vào ngân sách hỗ trợ ít ỏi, phường rối Minh Tân tự đầu tư 100% cơ sở vật chất, thủy đình di động và duy trì tần suất từ 80 đến 120 buổi diễn/năm phục vụ khách du lịch và các lễ hội vùng. Thu nhập bình quân của diễn viên nông dân trong phường tăng gấp 1,5 đến 2 lần so với thu nhập thuần nông nghiệp tại địa phương.

Thứ ba, cơ chế trao truyền bí quyết nghề nghiệp đạt tỷ lệ kế thừa thế hệ trẻ trên 70%. Nhờ nghệ nhân trực tiếp uốn nắn kỹ năng điều khiển con rối dưới nước và truyền dạy khẩu truyền, đội ngũ diễn viên kế cận tại làng Bảo Hà nhanh chóng làm chủ các kỹ xảo khó như rối phun lửa, rối bơi lội và đấu vật.

Thứ tư, nghiên cứu phát hiện khoảng trống lớn trong chính sách đãi ngộ: hơn 85% nghệ nhân dân gian tại các làng quê chưa được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế hay phụ cấp sinh hoạt định kỳ từ nguồn ngân sách nhà nước, khiến việc duy trì nghề hoàn toàn phụ thuộc vào nhiệt huyết cá nhân và nguồn thu dịch vụ tự túc.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản giúp phường rối Minh Tân phát triển mạnh mẽ bắt nguồn từ cấu trúc làng nghề cộng sinh độc đáo. Sự gắn kết giữa nghề điêu khắc tạc tượng truyền thống và nghệ thuật sân khấu rối nước đã tạo nên bệ đỡ vững chắc về mặt mỹ thuật tạo hình, giúp quân rối Bảo Hà có nét diện mạo sắc sảo, sống động hơn hẳn so với nhiều vùng khác. Năng lực thị trường nhạy bén của cá nhân nghệ nhân trưởng phường đóng vai trò đầu tàu, biến di sản thành sản phẩm văn hóa có khả năng sinh lợi kinh tế trực tiếp cho nông dân.

So sánh với các nghiên cứu trước đây tại Thái Bình và Nam Định, mô hình tư nhân hóa tại Minh Tân có tốc độ đổi mới kịch bản nhanh hơn 35% và mức độ cơ động cao hơn 50% trong phục vụ các tour du lịch quốc tế. Khi đối sánh trên bảng biểu cơ cấu thu - chi và biểu đồ phân bổ tần suất biểu diễn giai đoạn 2006-2008, dữ liệu thực tế chứng minh mô hình xã hội hóa văn hóa tự nguyện mang lại sức sống bền bỉ và tính chủ động cao hơn hẳn cơ chế bao cấp hành chính truyền thống.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực địa, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa công tác bảo tồn di sản:

  1. Hoàn thiện chính sách tôn vinh và trợ cấp tài chính đặc thù: Ban hành quy chế chi tiết về xét tặng danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú cho khối di sản phi vật thể dân gian; đảm bảo 100% nghệ nhân được công nhận nhận mức phụ cấp sinh hoạt từ 1,5 đến 2,0 triệu đồng/tháng cùng thẻ bảo hiểm y tế miễn phí trước năm 2012 do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì phối hợp với Sở Văn hóa - Thông tin Hải Phòng.
  2. Xây dựng tuyến du lịch di sản liên kết làng nghề: Thiết lập chuỗi sản phẩm du lịch kết hợp tour trải nghiệm tạc tượng làng Bảo Hà với thưởng thức múa rối nước tại chỗ, đặt mục tiêu tăng trưởng 25% đến 30% lượng khách du lịch hằng năm và đạt tối thiểu 150 suất diễn/năm trong giai đoạn 2010-2015 do Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo và Sở Du lịch Hải Phòng điều phối.
  3. Thúc đẩy giáo dục di sản học đường: Tổ chức định kỳ 2 khóa truyền dạy nghệ thuật rối nước/năm cho hơn 50 học sinh tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn xã Đồng Minh, tạo nguồn nhân lực kế cận bền vững từ năm 2009 dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Chi hội rối Minh Tân và Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam.
  4. Hỗ trợ vốn vay ưu đãi và mặt bằng trình diễn: Ngân hàng Chính sách Xã hội cùng chính quyền cơ sở cần giải ngân gói tín dụng ưu đãi từ 50 đến 100 triệu đồng cho các phường rối tư nhân đầu tư nâng cấp thủy đình, đồng thời miễn giảm 100% thuế sử dụng mặt nước công cộng phục vụ biểu diễn phi lợi nhuận trong giai đoạn 2010-2013.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình là tài liệu học thuật và thực tiễn giá trị cao cho 4 nhóm bạn đọc:

  • Nhà nghiên cứu Dân tộc học, Nhân học và Văn hóa học: Tiếp cận nguồn tư liệu điền dã thực chứng dày dặn qua 24 tháng theo dõi liên tục, nắm bắt phương pháp luận nghiên cứu trường hợp (case study) về chủ thể thực hành văn hóa phi vật thể tại đồng bằng Bắc Bộ.
  • Cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách: Sử dụng khung phân tích thực tế để xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về cơ chế đãi ngộ nghệ nhân dân gian, tháo gỡ điểm nghẽn trong công tác xã hội hóa hoạt động biểu diễn nghệ thuật truyền thống.
  • Nghệ nhân, ban chủ nhiệm các phường rối và làng nghề thủ công: Tham khảo kinh nghiệm quản trị thực tiễn, cách thức tổ chức phường rối tư nhân, đổi mới kỹ thuật tạo tác quân rối và phương pháp thương mại hóa dịch vụ văn hóa gắn với kinh tế du lịch.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Di sản văn hóa, Nghệ thuật sân khấu: Khai thác dữ liệu so sánh liên tỉnh giữa 5 trung tâm rối nước miền Bắc làm tài liệu tham khảo cho các đồ án, đề tài nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật truyền thống Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Nghệ nhân dân gian đóng vai trò gì quyết định sự tồn tại của rối nước Bảo Hà?

Nghệ nhân dân gian là chủ thể duy nhất tích hợp cả 3 năng lực cốt lõi: trực tiếp chạm khắc quân rối từ nghề tạc tượng gỗ truyền thống hơn 500 năm, nắm giữ bí quyết điều khiển máy sào dây dưới nước và tổ chức lưu diễn. Thiếu vắng nghệ nhân đầu tàu, toàn bộ chuỗi thực hành và sáng tạo nghệ thuật của phường rối sẽ bị gián đoạn hoàn toàn.

Mô hình phường rối tư nhân Minh Tân khác gì so với phường rối cổ truyền?

Phường rối tư nhân Minh Tân vận hành dựa trên cơ chế tự chủ tài chính 100%, tự trang trải chi phí đạo cụ và thủy đình di động. Mô hình này linh hoạt hơn các phường cổ truyền khi chủ động liên kết với hơn 10 công ty lữ hành, đạt từ 80 đến 120 suất diễn/năm và tạo nguồn thu nhập thực tế ổn định cho diễn viên nông dân.

Mối liên hệ giữa nghề tạc tượng Bảo Hà và nghệ thuật rối nước là gì?

Làng Bảo Hà vốn là cái nôi chạm khắc tượng Phật và tượng danh nhân nức tiếng từ thời Hậu Lê. Nhờ nền tảng tay nghề điêu khắc gỗ tinh xảo thừa hưởng từ các tổ nghề, các nghệ nhân múa rối Bảo Hà có khả năng tự gọt giũa quân rối có biểu cảm sống động, độ cân bằng nổi trên mặt nước chuẩn xác hơn nhiều địa phương khác.

Vì sao cần vận dụng khái niệm "Báu vật nhân văn sống" của UNESCO?

Khái niệm "Báu vật nhân văn sống" do UNESCO xác lập năm 1993 giúp chuyển dịch trọng tâm bảo tồn từ "vật thể" (con rối, thủy đình) sang "con người" (nghệ nhân). Điều này khẳng định tri thức, kỹ năng trình diễn và ký ức dân gian lưu giữ trong cơ thể nghệ nhân mới là linh hồn bất khả thay thế của di sản phi vật thể.

Khó khăn lớn nhất trong chính sách đãi ngộ nghệ nhân hiện nay là gì?

Hơn 85% nghệ nhân dân gian tại cơ sở chưa có lương cố định, thiếu bảo hiểm y tế và chế độ trợ cấp tuổi già. Các danh hiệu văn hóa chủ yếu mang giá trị tinh thần, chưa đi kèm cơ chế hỗ trợ tài chính định kỳ, tạo áp lực kinh tế nặng nề lên nỗ lực bảo tồn vốn cổ của các nghệ nhân cao tuổi.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định nghệ nhân dân gian là hạt nhân sống còn trong việc bảo lưu tính nguyên bản và phát triển nghệ thuật múa rối nước tại đồng bằng Bắc Bộ.
  • Công trình chứng minh tính hiệu quả của mô hình phường rối tư nhân Minh Tân (Hải Phòng), giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn di sản và tạo sinh kế kinh tế cho nông dân.
  • Cung cấp bức tranh thực nghiệm phong phú qua 24 tháng điền dã (2006-2008), so sánh đối chứng toàn diện với 5 làng rối cổ truyền tiêu biểu ở miền Bắc.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao về cơ chế đãi ngộ, liên kết du lịch làng nghề và giáo dục di sản học đường.
  • Mở ra hướng nghiên cứu tiếp nối về số hóa di sản và chính sách công trợ văn hóa trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng.

Các cơ quan quản lý văn hóa, viện nghiên cứu và cộng đồng học thuật cần nhanh chóng triển khai các chính sách hỗ trợ thực chất để tôn vinh và tiếp sức cho đội ngũ nghệ nhân dân gian – những người đang ngày đêm gìn giữ linh hồn di sản văn hóa dân tộc.