CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về ước lượng và dự báo cầu ñào tạo từ xa 1. Khái niệm và ñặc ñiểm ñào tạo từ xa 1. Tiến trình của khái niệm ñào tạo từ xa ðào tạo từ xa hiện ñại ñược bắt ñầu vào năm 1963 (Peraton, 2007)[58].
Trong năm ñó tại Vương quốc Anh, Viện Khuyến học quốc gia ñược thành lập, là một mô hình cho trường ðại học Mở. Phương pháp luận của ñào tạo từ xa trong những năm gần ñây ñược gọi là học tập từ xa, nêu ra nguyên lý rằng: ðào tạo phải ñược mở cho tất cả mọi người. ðào tạo mở hay còn gọi là học mở phải là tầm nhìn hệ thống giáo dục, mở ra cho mọi người với sự hạn chế tối thiểu. Triết lý này nhấn mạnh sự linh hoạt và mềm dẻo của hệ thống, giảm thiểu rào cản gây ra do tuổi tác, vị trí ñịa lý, khó khăn về thời gian và tình trạng kinh tế (Bates, 1995)[16].
Vì vậy, ñào tạo mở và từ xa là hệ thống kết hợp giữa phương pháp luận của ñào tạo từ xa với các khái niệm về học tập mở và linh hoạt. ðào tạo mở và từ xa là một khái niệm lý tưởng mà trong thực tế khó thực hiện. Các chuyên gia ñào tạo từ xa cho rằng, có rất nhiều nguyên tắc của ñào tạo mở có thể ñược thực hiện tốt hơn bằng phương thức ñào tạo từ xa so với cách tiếp cận của giáo dục mặt - giáp - mặt. Sự phát triển ñào tạo từ xa ñã ñược chi phối bởi triết lý giáo dục rằng sử dụng tài liệu dạy và học ñược tiêu chuẩn hóa và chuẩn bị trước ñể ñạt ñược lợi ích kinh tế do quy mô ñem lại.
ðiều này cũng nhấn mạnh triết lý về tính mở của ñào tạo và nhu cầu ñộc lập của người học. Mong muốn tăng cường sự tiếp cận với giáo dục ñã trở thành ñộng lực chính tại nhiều quốc gia áp dụng ñào tạo từ xa (Garrison, 1993)[27]. Moore (1993)[49] cho rằng, khi học liệu ñã ñược chuẩn bị sẵn, học viên có thể tự chủ quá trình học tập, phù hợp với ñiều kiện riêng của họ. Trên cơ sở nhìn nhận như vậy, ñào tạo từ xa ñược coi như là một loại hình giáo dục mang tính công nghiệp, và cũng là sản phẩm của một xã hội công nghiệp (Peters, 1997)[56].
Theo Peters, hệ thống ñào tạo từ xa có nhiều ñiểm giống một nhà máy công nghiệp, với sự phân công lao ñộng rõ ràng, cơ chế hoạt ñộng, ñịnh hướng tới sản lượng lớn 5 ñược tiêu chuẩn hóa, và sự tập trung hóa của hệ thống. Do những tương ñồng mang tính công nghiệp, ñào tạo từ xa ñã ñược chấp nhận của xã hội công nghiệp như là một hình thức ñào tạo lao ñộng hàng loạt. Peters lập luận rằng phương thức ñào tạo từ xa cũng nên thay ñổi ñể ñáp ứng sự thay ñổi của xã hội hậu công nghiệp. ðó là trường hợp ngày nay của xã hội thông tin.
Quá trình ñào tạo từ xa trước kia chủ yếu dựa vào việc sử dụng các học liệu ñược chuẩn bị trước với sự cung ứng của bưu ñiện, việc bổ sung cho ngày hôm nay của công nghệ thông tin và truyền thông làm cho quá trình học tập mang tính cá thể hóa và tương tác. Tuy nhiên những nhu cầu ñào tạo của xã hội hậu công nghiệp khác với nhu cầu của xã hội công nghiệp. ðó là do có sự thay ñổi về nhu cầu kỹ năng nghề nghiệp và lĩnh vực chuyên môn. Mô hình ñào tạo từ xa cổ ñiển dựa trên hệ thống học liệu hàm thụ ñược chuẩn bị hàng loạt từ trước không còn ñáp ứng yêu cầu ngày nay, nhu cầu cho một phong cách ñào tạo tương tác có khả năng ñiều chỉnh theo nhu cầu ñào tạo của phương thức ñào tạo từ xa ñang phát triển mang tính cá thể hóa một cách hiệu quả.
Công nghệ thông tin và truyền thông hiện ñại có thể bổ sung các tính năng mà mô hình ñào tạo từ xa trước kia chưa có. Các phương pháp sản xuất, công nghệ truyền thông, nhận thức vấn ñề và chiến lược giải quyết vấn ñề ngày nay có thể không còn phù hợp trong tương lai nữa (Peters, 1999)[59]. Trên cơ sở này cần có mô hình phát triển ñào tạo từ xa với thông tin hai chiều một cách hiệu quả giữa thầy và trò, giữa học viên với tài liệu, và giữa người học với cơ sở ñào tạo. Quy trình một chiều (ví dụ, học liệu in ấn, hình thức ghi âm ghi hình hoặc phát sóng), ñược bổ sung bằng các thông tin phản hồi hai chiều giữa thày và trò, cơ sở ñào tạo có thể bổ sung các chương trình.
Holmberg (1983)[38] chỉ ra rằng, mặc dù thực tế ñào tạo từ xa ñược thiết kế cho việc học ñộc lập, nó không thể không có các dịch vụ hỗ trợ. Thậm chí, mặc dù giao tiếp dưới hình thức hội thoại trực tiếp còn khó khăn, ñào tạo từ xa có thể ñược thực hiện bằng nhiều cách khác ñể tạo môi trường tương tác cho người học. Holmberg (1983) trong cuốn “ Khái niệm hướng dẫn tạo tương tác” ñề cập ñến một cách tương tác hai chiều một 6 cách hiệu quả, ví dụ, in qua ñiện thoại. Mục tiêu và tinh thần của bầu không khí này ñược thực hiện trong các thiết kế nhạy cảm về học liệu, ra bài tập, và hỗ trợ học tập.
Thông qua học liệu tốt, học viên có thể có ñược một “không khí” như trong một cuộc trò chuyện với những người thầy của họ, và ñiều này sẽ giúp quá trình tự học ñạt kết quả với sự hỗ trợ của học liệu. Cuốn “Hướng dẫn tạo tương tác” nhấn mạnh tầm quan trọng của: (i) Cách trình bày rõ ràng trong học liệu, bằng ngôn ngữ dễ hiểu, (ii) Hướng dẫn rõ ràng về những việc cần làm và không làm, những gì quan sát và lý do, (iii) Một khuyến khích học viên thảo luận, ñặt câu hỏi, và ñánh giá tài liệu, (iv) Nỗ lực thúc ñẩy học viên ñể người học hưng phấn với tài liệu và các vấn ñề chuyên môn, (v) Một phong cách cá nhân của văn bản, bao gồm cả việc sử dụng cách xưng hô, (vi) Một danh giới rõ ràng các chủ ñiểm và các chủ ñề, ví dụ: Bằng cách ghi rõ những thay ñổi, hoặc trong sản xuất học liệu ñược ghi lại bằng cách sử dụng các giọng nói khác nhau. Theo Sewart (1984)[64], tuy nhiên học liệu ñược sản xuất trước không thể hoàn toàn thay thế các chức năng và vai trò của giáo viên. Sự thiếu vắng của thông tin phản hồi ñối với học viên từ xa có thể ảnh hưởng không tốt tới kết quả học tập.
Học viên có nhu cầu khác nhau mà học liệu không thể dự kiến ñược, và có thể không hài lòng với học liệu học tập ñược sản xuất hàng loạt. Tương tự như vậy, Sewart ñề cập ñến tầm quan trọng của việc tổ chức các dịch vụ hỗ trợ người học. Một trong những loại hỗ trợ ñó là thầy hướng dẫn, tư vấn chịu trách nhiệm về mặt học tập và hướng dẫn học viên về mặt cá nhân. Sewart cho rằng, thầy hướng dẫn với tư cách là thầy về chuyên môn và tư vấn cá nhân có thể cải thiện ñáng kể chất lượng quá trình giảng dạy và học tập từ xa.
Sự phát triển của công nghệ thông tin, chẳng hạn như âm thanh, phòng học truyền hình, ñã làm tăng quá trình tương tác, giảm thiểu khoảng cách giữa các hoạt ñộng dạy và hoạt ñộng học mà trước ñó tạo ra tâm lý và giao dịch từ xa trong quá trình học tập (Moore, 1993)[49]. Từ ðào tạo Từ xa ñến ðào tạo Mở 7 Lợi ích của công nghệ thông tin và truyền thông hiện ñại ñã tạo ra một hướng tư duy rộng hơn về ñào tạo từ xa. Giải pháp cho vấn ñề giãn cách giữa thầy và trò trong ñào tạo từ xa cho phép sử dụng rộng rãi hơn các phương tiện. Khi các hoạt ñộng giảng dạy và học tập có hiệu quả trong thời gian không ñồng thời (asynchronously), hai vấn ñề chính ñược giải quyết: (i) Tỷ lệ giảng viên/ học viên truyền thống thường giới hạn khả năng tiếp thu, (ii) Bức tường lớp học thường giới hạn khả năng ñào tạo.
Vượt qua những rào cản, chuyển từ ñào tạo “ðóng” về bản chất sang quá trình “Mở” hơn về thực tế, và các lớp học không còn bị ràng buộc với các lớp học nữa. Sự phát triển của nền kinh tế xã hội, qua nhiều thập kỷ cũng ñã làm thay ñổi những yêu cầu ñặc trưng cho một nền giáo dục. Trong thời ñại tiền công nghiệp, ñào tạo từ xa chủ yếu làm phương tiện cung cấp lực lượng lao ñộng chất lượng cao, xã hội hậu công nghiệp ñang chuyển dần theo hướng nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Trong thời ñại hậu công nghiệp, giáo dục tập trung nhiều hơn vào việc tự ý thức và ñáp ứng những nhu cầu cá nhân, ví dụ tăng thêm niềm hạnh phúc và sự hài lòng với cuộc sống (Peters, 1993)[55].
Nhu cầu ñào tạo không còn giới hạn ở nhóm “Tuổi ñi học” nữa, mà liên quan ñến nhu cầu học tập suốt ñời của người dân. ðiều này biểu hiện ngày càng cao về mức ñộ phổ biến các loại hình ñào tạo không chính quy và ñào tạo thường xuyên, tạo cho người dân thoải mái hơn là văn bằng. Ngoài ra công nghệ tiên tiến và công nghiệp dịch vụ ñã làm thay ñổi loại hình kỹ năng cần thiết trong thị trường lao ñộng (Peters, 1999)[59]. ðiều ñó dẫn tới sự gia tăng nhu cầu ñào tạo chuyên nghiệp thường xuyên.
Và ñào tạo từ xa ñược mở rộng hơn, từ mô hình ñào tạo từ xa ñơn thuần ñến ñào tạo thường xuyên kết hợp. Vì vậy, ñào tạo từ xa có thể ñược xem như là một phương pháp thích hợp cho việc theo ñuổi các mục tiêu khác nhau, bao gồm cả việc nâng cao kỹ năng chuyên nghiệp, thỏa mãn sở thích, và nhu cầu tự chủ. Tại các quốc gia ñang phát triển, nơi người dân sống trong kinh tế hạn hẹp và cô lập ở vùng nông thôn, ñào tạo từ xa ñược xem như là một phương tiện cung cấp cơ hội thứ hai cho những người dân không thể theo học tập trung trong hệ thống ñào tạo mặt-giáp-mặt. ðào tạo từ 8 xa trở nên phổ biến hơn một hệ thống ñào tạo thay thế một cách ñơn thuần, và là yếu tố duy nhất có khả năng thúc ñẩy sự cởi mở của nền giáo dục, giảm thiểu rào cản về thời gian, ñịa ñiểm hoàn cảnh kinh tế, tuổi tác và trình ñộ ban ñầu.