Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Ket quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục Bài báo 14 CHƯƠNG 2: TỎNG QUAN Dựa vào mục đích nghiên cứu, trong phần này sẽ trình bày những nội dung cơ bản về lý thuyết liên quan đến các khái niệm, cơ sở lý luận làm nền tảng cho nghiên cứu như: Chủ đầu tư xây dựng công trình, dự án, quản lý dự án, ban quản lý dự án, nhà thầu trong hoạt động xây dựng, tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát. Trong phần này cũng trình bày tóm tắt các nghiên cứu trong nước và trên thế giới về chậm trễ tiến độ trong xây dựng giao thông ở những năm gần đây, qua đó nhầm nhận diện các nhân tố có khả năng xuất hiện trong nghiên cứu sự chậm trễ tiến độ trong các dự án giao thông tại tỉnh Đồng Tháp.1 Dự án Dự án là các hoạt động được sắp xếp nhàm đạt được một kết quả cụ thể trong phạm vi ngân sách và thời gian nhất định - dự án không phải là kế hoạch. Dự án có 5 đặc trưng cơ bản: - Có một hay một hệ thống các mục tiêu cụ thể, rõ ràng và định lượng được. - Dự án là một chuỗi các hoạt động liên tục, nối tiếp nhau mà kết quả của từng hoạt động là cơ sở cho những hoạt động tiếp theo.
- Ràng buộc về nguồn lực (các yếu tố nguồn lực đầu vào như: tiền, nhân lực, vật liệu, thiết bị.) - Ràng buộc về thời gian: thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc. - Tổ chức dự án là một bộ máy tạm thời của riêng dự án đó. Sau khi kết thúc dự án, tổ chức dự án cũng kết thúc sứ mạng. Các dự án đều có chu trình 4 giai đoạn: xác định và xây dựng dự án - lập kế hoạch - quản lý thực hiện - kết thúc dự án.2 Quản lý dự án “Theo hướng dẫn về những kiến thức chủ yếu, quan trọng trong Quản lý dự án( PMBOK Guide) của viện Quản lý Dự án (PMI) thì Quản lý dự án là việc áp dụng các kiến thức, kỹ năng, công cụ và kỹ thuật vào các hoạt động của dự án nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.
Chức năng chính của quản lý dự án: 15 + Chức năng lập kế hoạch, bao gồm việc xác định mục tiêu, công việc và dự tính nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án. + Chức năng tổ chức, tiến hành phân phối nguồn lực gồm tiền, lao động, trang thiết bị, việc điều phối và quản lý thời gian. + Chức năng lãnh đạo. + Chức năng kiểm soát, là quá trình theo dõi kiểm tra tiến độ dự án, phân tích tình hình thực hiện, tổng họp, đánh giá, báo cáo kết quả thực hiện và đề xuất các giải pháp giải quyết các khó khăn trong quá trình thực hiện dự án.
“Quản lý điều hành dự án” hay chức năng phối họp. Các lĩnh vực quản lý dự án: 1/ Quản lý tổng họp dự án. 2/ Quản lý phạm vị dự án. 3/ Quản lý thời gian dự án.
4/ Quản lý chi phí dự án. 5/ Quản lý chất lượng dự án. 6/ Quản lý nhân lực dự án. 7/ Quản lý thông tin dự án.
8/ Quản lý rủi ro dự án. 9/ Quản lý hồ sơ dự án”.3 Ban quản lý dự án Ban quản lý dự án (BQLDA) là một tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập, chịu trách nhiệm trước pháp luật về các vấn đề nẩy sinh trong quá trình thực hiện quản lý dự án. BQLDA có thể thành lập từ nhân sự của chủ đầu tư hoặc là 1 tổ chức (hoặc một công ty có đăng ký giấy phép kinh doanh) thực hiện thay mình công tác tổ chức giám sát, điều hành để đảm bảo dự án được thực hiện đúng tiến độ, đúng yêu càu kỹ thuật, kinh tế. Có thể phân loại BQLDA như sau: - BQLDA được thành lập từ nhân sự của chủ đầu tư - BQLDA được chủ đầu tư thuê mướn 16 2.4 Chủ đầu tư xây dựng công trình “Chủ đầu tư xây dựng công trình là người sở hữu nguồn vốn hay là người được giao quản lý và sử dụng vốn đầu tư xây dựng công trình bao gồm: 1.
Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước thì Chủ đầu tư xây dựng công trình do người quyết định đầu tư quyết định trước khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với quy định của Luật ngân sách Nhà nước. a/ Đổi với dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư; Chủ đầu tư là một trong các cơ quan, tổ chức sau: Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương (gọi chung là cơ quan cấp Bộ), ủy ban nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và doanh nghiệp Nhà nước. b/ Đối với dự án do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan cấp Bộ, Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư, chủ đầu tư là đơn vị quản lý sử dụng công trình. c/ Khi chưa xác định được đơn vị quản lý, sử dụng công trình hoặc đơn vị quản lý, sử dụng công trình không đủ điều kiện làm chủ đầu tư thì người quyết định đầu tư có thể giao cho đơn vị đủ điều kiện làm chủ đầu tư.
Trong trường họp đơn vị quản lý, sử dụng công trình không đủ điều kiện làm chủ đầu tư thì đơn vị quản lý, sử dụng công trình đó có trách nhiệm cử người tham gia với chủ đầu tư trong việc tổ chức lập dự án, thiết kế, theo dõi, quản lý, nghiệm thu, tiếp nhận đưa công trình vào khai thác sử dụng. - Trường họp không xác định được chủ đầu tư theo quy định thì người quyết định đầu tư có thể ủy thác cho đơn vị khác có đủ điều kiện làm chủ đầu tư hoặc đồng thời làm chủ đầu tư. Đối với các dự án sử dụng vốn tín dụng, người vay vốn là chủ đầu tư. Đối với các dự án sử dụng vốn khác, chú đầu tư là chủ sở hữu vốn hoặc là người đại diện theo quy định của pháp luật.5 Nhà thầu trong hoạt động xây dựng “Nhà thầu trong hoạt động xây dựng (sau đây gọi là nhà thầu) là tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ hợp đồng trong hoạt động đầu tư xây dưng.6 Tư vấn xây dựng “Tư vấn xây dựng là một loại hình tư vấn đa dạng trong công nghiệp xây dựng, kiến trúc, quy hoạch đô thị và nông thôn,.
có liên quan chặt chẽ với tư vấn đầu tư, thực hiện phần việc tư vấn tiếp nối sau việc của tư vấn đầu tư. TRƯỜNG OẠI HỌC MÔ ĨP.HCM 17 THƯ VIỆN Tư vấn xây dựng giúp cho khách hàng (chủ đầu tư xây dựng) tổ chức việc khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng và tổ chức đấu thầu để mua sắm thiết bị đầu tư, đấu thầu xây lắp công trình. Thông thường, đối với các dự án công trình hạ tầng kỹ thuật, chỉ có một công ty tư vấn đầu tư và xây dựng đảm nhiệm công việc từ đầu đến cuối. Kỹ sư tư vấn xây dựng là người có đủ trình độ, chuyên môn để thực hiện công tác tư vấn xây dựng.
Ở Việt Nam, để được hành nghề kỹ sư tư vấn xây dựng cần phải có chứng chỉ hành nghề, phải có tối thiểu 5 năm hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và số lượng công trình đã tham gia phải đủ lớn. Tổ chức tư vấn xây dựng là những đon vị chuyên ngành, hoạt động độc lập về mặt pháp lý và phục vụ khách hàng theo họp đồng. Ở các nước trên thế giới, các tổ chức này phần lớn thuộc Hiệp hội tư vấn xây dựng.7 Tư vấn giám sát “Tư vấn giám sát (TVGS) thi công xây dựng công trình là hoạt động dịch vụ tư vấn thực hiện các công việc giám sát quá trình thi công xây dựng công trình theo nội dung hợp đồng ký kết với chủ đầu tư. Giám sát thi công xây dựng công trình bao gồm giám sát công tác thi công xây dựng và công tác lắp đặt thiết bị đối với các công trình xây dựng mới, sữa chữa, cải tạo nâng cấp, phá dở, bảo hành, bảo trì công trình.8 Kế hoạch tiến độ Ke hoạch tiến độ dự án là bảng mô tả trình tự và thời gian thực hiện từng công việc và toàn bộ dự án nhằm đảm bảo dự án thực hiện đúng thời gian quy định với trách nhiệm của các bên khi lập tiến độ dự án.
Chủ đầu tư: xác định ngày hoàn thành dự án, xác định mức độ ưu tiên của các công việc. Đơn vị thiết kế: lập tiến độ thiết kế phù hợp với tiến độ của bên chủ đầu tư có xét đến mức độ ưu tiên của công việc. Nhà thầu thi công: lập tiến độ cho tất cả công tác thi công theo yêu càu của hợp đồng bao gồm cả công tác cung ứng và vận chuyển vật tư (có xét đến mối quan hệ qua lại giữa các thầu phụ và phối hợp sử dụng nhân công, máy thi công). Các đơn vị khác, tổ chức khác.9 Ảnh hưởng của việc chậm tiến độ của dự án Chậm tiến độ khiến cho thời gian hoàn thành dự án sẽ vượt quá thời gian quy định trong hợp đồng.
Có thể kể đến tác động xấu của việc chậm tiến độ trong các dự án giao thông như: 18 - Ảnh hưởng đếnsức khỏe và sự kém an toàn khi đi lại của người dân. - Môi trường xung quanh càng thêm ô nhiễm. - Giảm chất lượng công trình. - Gây thất thoát lãng phí.
- Tăng chi phí của chủ đầu tư, đon vị thi công. - Làm giảm uy tín của các đơn vị liên quan. - Mất niềm tin của người dân với lãnh đạo. - Mất đi cơ hội đầu tư phát triển kinh tế.
- Ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế, xã hội, sự phát triển của đất nước, an ninh quốc phòng.2- Các nghiên cứu tương tự đã được công bố 2.1 Các nghiên cứu tại Việt Nam Lê Hoài Long và cộng sự (2008) nghiên cứu về chậm trễ và vượt chi phí trong các dự án xây dựng lón ở Việt Nam, so sánh kết quả với một số quốc gia khác. Trong nghiên cứu này, 87 chuyên gia được phỏng vấn nhằm tìm ra 21 nguyên nhân gây ra chậm trễ và vượt chi phí trong các dự án xây dựng lớn ở Việt Nam. Các nguyên nhân được tiến hành phân tích để xếp hạng mức độ, tần số và chỉ số quan trọng, sự đồng thuận của các bên (chù đầu tư- nhà thầu- tư vấn- các nguyên nhân khác).