Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về thất nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp. Chương 2: Tình hình triển khai bảo hiểm thất nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh. Chương 3: Giải pháp và kiến nghị về việc triển khai bảo hiểm thất nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh. 10 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THẤT NGHIỆP VÀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1.
Khái quát về thất nghiệp 1. Khái niệm về thất nghiệp Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, lao động luôn tồn tại gắn liền với con người, thậm chí là động lực để phát triển và hoàn thiện con người. Lao động được coi là nhu cầu cơ bản nhất, chính đáng nhất của con người. Thật vậy, ai sinh ra ra cũng phải sống, muốn sống phải có cái ăn, cái mặc, chỗ ở.
muốn có những thứ thiết yếu đó đòi hỏi con người phải lao động và được lao động. Tuy nhiên, trong xã hội không phải ai cũng được đáp ứng nhu cầu đó. Xã hội càng phát triển đòi hỏi người lao động càng phải có kỹ thuật, tay nghề. Chính vì vậy, người lao động phải được đào tạo nghề, phải chuyên sâu vào từng lĩnh vực, từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh.
Nhưng đào tạo xong không phải ai cũng tìm được việc làm, thậm chí cả những người đang có việc làm cũng có thể mất việc trong những thời gian nhất định. Lý do thật đơn giản, phần lớn các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển và chậm phát triển, nguồn lao động xã hội thường tăng nhanh hơn cơ hội việc làm, do đó luôn tồn tại một bộ phận người thiếu hoặc không có việc làm, thực chất họ là những người thất nghiệp. Vấn đề thất nghiệp đã đươc nhiều nước, nhiều tổ chức, nhiều nhà khoa học bàn luận, song cũng còn nhiều ý kiến khác nhau nhất 11 là quan niệm về thất nghiệp. Sự khác nhau này là do hoàn cảnh xã hội và mục đích nghiên cứu cụ thể chi phối.
Luật BHTN của Cộng hòa liên bang Đức định nghĩa: Thất nghiệp là người lao động tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện những công việc ngắn hạn [1], [9]. Ở Thái Lan thì cho rằng thất nghiệp là tình trạng người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng chưa có việc làm, đang tìm kiếm việc làm và có đăng ký tại cơ quan giải quyết việc làm. Ở Pháp người ta cho rằng thất nghiệp là tình trạng người lao động không có việc làm, có khả năng làm việc và đang tìm kiếm việc làm. Người thất nghiệp là người lao động không có việc làm trong tuần lễ điều tra, có khả năng làm việc và đang tích cực tìm việc làm hoặc chờ kết quả xin việc làm [1].
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): “thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong độ tuổi lao động, muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm với mức lương thịnh hành. Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng không có việc làm, đang tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc” [1], [9]. 12 Hội nghị Thống kê lao động quốc tế lần thứ tám năm 1954 tại Giơnevơ đưa ra định nghĩa: “Thất nghiệp là người mà trong một ngày hoặc một tuần lễ cụ thể thuộc những loại sau đây: + Người lao động có thể đi làm nhưng đã hết hạn hợp đồng hoặc bị tạm dừng hợp đồng, đang không có việc làm và đang tìm việc làm. + Người lao động có thể đi làm trong một thời gian xác định và đang tìm việc làm có lương mà trước đó chưa hề có việc làm hoặc vị trí hành nghề cuối cùng trước đó không phải là người làm công ăn lương hoặc đã thôi việc.
+ Người đang không có việc làm có thể đi làm ngay và đã có sự chuẩn bị cuối cùng để làm công việc mới vào một ngày nhất định sau một thời gian đã được xác định. + Người phải nghỉ việc tạm thời hoặc không thời hạn mà không có lương. Ở Việt Nam, thất nghiệp đã, đang và sẽ trở thành một vấn đề nan giải cần được giải quyết. Trong bộ luật lao động năm 2009 đã có những quy định cụ thể về việc làm, người có việc làm, người thiếu việc làm, thất nghiệp và người thất nghiệp như sau: “+ Việc làm: Là mọi hoạt động tạo ra thu nhập không bị pháp luật cấm.
Những hoạt động lao động của con người mà không tạo ra 13 thu nhập hoặc tạo ra thu nhập nhưng bị pháp luật cấm thì không được coi là việc làm. + Người có việc làm: Là người từ đủ 15 tuổi trở lên, đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân và thời gian làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định trong tuần lễ điều tra. + Người thiếu việc làm: Là người trong độ tuổi lao động, có việc làm nhưng thời gian làm việc dưới mức quy định chuẩn cho người có đủ việc làm và có nhu cầu làm thêm. Mức thời gian chuẩn tùy thuộc và ngành nghề và tính chất công việc do Nhà nước quy định cụ thể cho từng thời kỳ.
+ Người không có việc làm: Là người không làm việc gì để hưởng lương, tiền công vì nhiều lý do khác nhau như không tìm được việc làm, không có nhu cầu làm việc mặc dù trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động. + Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong lực lượng lao động có khả năng lao động, muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức lương tối thiểu. + Người thất nghiệp là người từ 15 đến 60 tuổi đối với nam, đến 55 tuổi đối với nữ, làm việc theo hợp đồng lao động, có nhu cầu làm việc, vì những lý do khác nhau mà không có việc làm và đang đi tìm việc làm trong tuần lễ điều tra. 14 Các quan niệm của các nước tuy có khác nhau nhưng đều thống nhất người thất nghiệp ít nhất phải có 4 tiêu chí: + Trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, + Đang không có việc làm, + Đang tìm kiếm việc làm, + Sẵn sàng làm việc.
Phân loại thất nghiệp Thất nghiệp là vấn đề khá phức tạp, liên quan đến nhiều khía cạnh của cuộc sống. Để hiểu biết đầy đủ về vấn đề này cần phải tiếp cận từ nhiều phía. Tùy theo mục đích nghiên cứu và việc lựa chọn tiêu thức phân loại, có nhiều hình thái thất nghiệp khác nhau [5], [9], [11], [17], [20]. Căn cứ vào tính chất thất nghiệp Căn cứ vào tính chất của thất nghiệp thì thất nghiệp được chia thành: + Thất nghiệp tự nhiên: Loại thất nghiệp này xảy ra do quy luật cung – cầu của thị trường sức lao động.
Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất mà một nền kinh tế có thể đạt được và nó thường có xu hướng gia tăng. + Thất nghiệp cơ cấu: Xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung - cầu về lao động. Cầu về loại lao động này tăng lên, nhưng cầu về 15 loại lao động khác giảm đi, trong khi cung điều chỉnh không kịp cầu. Trong nền kinh tế thị trường, sẽ có những ngành kinh tế phát triển cần thu hút thêm lao động, nhưng cũng có những ngành bị thu hẹp làm một bộ phận người lao động bị dư thừa và trở thành thất nghiệp.
+ Thất nghiệp tạm thời: Là loại thất nghiệp do sự di chuyển lao động giữa các vùng, miền hoặc do sự thay đổi môi trường làm việc giữa các giai đoạn khác nhau của người lao động. Thất nghiệp tạm thời thường xảy ra trong thời gian ngắn và không đáng lo ngại. + Thất nghiệp thời vụ: Đây là loại thất nghiệp gắn liền với chu kỳ sản xuất kinh doanh của các ngành, đặc biệt là ngành nông, lâm, ngư nghiệp. + Thất nghiệp chu kỳ: Theo chu kỳ phát triển kinh tế, sau giai đoạn hưng thịnh là giai đoạn suy thoái.
Trong giai đoạn suy thoái, mức cầu về lao động giảm xuống do đó làm gia tăng thất nghiệp. Loại thất nghiệp này diễn ra theo chu kỳ và mang tính quy luật. Căn cứ vào mức độ thất nghiệp Theo tiêu thức này, thất nghiệp được chia làm 2 loại: Thất nghiệp toàn phần và thất nghiệp bán phần. 16 + Thất nghiệp toàn phần: Là hiện tượng người lao động hoàn toàn không có việc làm hoặc thời gian làm việc thực tế dưới 8 giờ một tuần và họ vẫn có nhu cầu làm thêm.
+ Thất nghiệp bán phần: Là trường hợp người lao động vẫn có việc làm, nhưng khối lượng công việc ít hoặc thời gian lao động thực tế trung bình từ 3 đến 4 giờ một ngày và họ vẫn có nhu cầu làm thêm. Căn cứ vào ý chí của người lao động + Thất nghiệp tự nguyện: Là loại thất nghiệp phát sinh khi người lao động từ chối một công việc nào đó do sự thay đổi môi trường làm việc hay do mức lương không thỏa đáng hoặc công việc không phù hợp với trình độ chuyên môn, mặc dù họ vẫn có nhu cầu làm việc. Thất nghiệp tự nguyện thường xảy ra trong thời gian ngắn, không mang tính xã hội. + Thất nghiệp không tự nguyện: Xuất hiện khi người lao động trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc và chấp nhận mức lương được trả nhưng người sử dụng lao động không chấp nhận hoặc không có người sử dụng lao động.
Nguyên nhân của thất nghiệp Thất nghiệp là một thực tế khách quan của nền kinh tế thị trường, cũng là một vấn đề nan giải đối với Chính phủ mỗi nước. Muốn khắc phục được vấn đề này trước hết ta phải hiểu được 17 nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp. Sau đây là những nguyên nhân chính [7], [9]: - Do chu kỳ sản xuất kinh doanh thay đổi. Theo chu kỳ phát triển kinh tế, sau hưng thịnh là đến suy thoái, khủng hoảng.
Ở thời kỳ hưng thịnh, sản xuất kinh doanh được mở rộng, nguồn lực xã hội được huy động vào sản xuất, nhu cầu về sức lao động tăng nhanh nên thu hút được nhiều lao động. Ngược lại, ở thời kỳ suy thoái sản xuất đình trệ, cầu về lao động giảm trong khi cung có thể lại tăng, điều này dẫn đến sự dư thừa lao động gây nên tình trạng thất nghiệp. - Do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là quá trình tự động hóa trong sản xuất khiến năng suất lao động tăng cao, chất lượng sản phẩm tốt hơn, giá thành lại rẻ làm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm.