Tổng quan luận án

Bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự là một phương thức xử lý tài sản kê biên mang tính cưỡng chế của Nhà nước nhằm bảo đảm hiệu lực thi hành của các bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Theo thực tiễn thi hành án tại Việt Nam, đây là loại tài sản đầu tiên và truyền thống được đưa ra bán đấu giá. Tuy nhiên, quá trình triển khai áp dụng pháp luật cho thấy loại tài sản này đang đối mặt với tình trạng các tổ chức đấu giá e ngại thực hiện và khách hàng không muốn tham gia mua, đặc biệt đối với tài sản là bất động sản do tính phức tạp về hồ sơ pháp lý và nguy cơ rủi ro cao. Báo cáo của cơ quan quản lý năm 2017 ghi nhận 7.535 việc đã kê biên, định giá lại và đấu giá nhưng không thành, trong đó có 5 việc bán đấu giá từ 3 lần trở lên. Trong 06 tháng đầu năm 2018, toàn quốc còn 5.603 việc tương ứng với 7.144 tỷ 138 triệu 714 nghìn đồng đã kê biên, định giá nhưng chưa xử lý được (với 3 việc đấu giá từ 3 lần trở lên), cùng 628 vụ việc đã bán đấu giá thành nhưng chưa thể bàn giao tài sản cho người trúng đấu giá. Tình trạng này làm gia tăng lượng án tồn đọng, ảnh hưởng xấu đến việc xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng và làm giảm hiệu lực thực tế của các định hướng cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 48/NQ-TW và Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị. Sự ra đời của Luật Thi hành án dân sự sửa đổi năm 2014, Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, Luật Đấu giá tài sản năm 2016 và Nghị quyết số 42/2017/QH14 vẫn chưa giải quyết triệt để các vướng mắc, tạo ra khoảng trống lý luận và thực tiễn cần được giải quyết một cách toàn diện.

Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng hệ thống lý luận cơ bản về bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự, làm rõ cơ sở khoa học của việc xây dựng pháp luật, xác định các nội dung lập pháp cần điều chỉnh, đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống yêu cầu và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự.

Hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu được xác định trong văn bản gồm:

  1. Câu hỏi nghiên cứu 1: Đấu giá tài sản, bán đấu giá tài sản là gì? Hai khái niệm về đấu giá tài sản, bán đấu giá tài sản về bản chất có gì khác nhau? Đặc điểm của bán đấu giá tài sản?
    Giả thuyết nghiên cứu 1: Hiện nay có những quan điểm, cách xác định khác nhau về khái niệm đấu giá tài sản, bán đấu giá tài sản xuất phát từ góc độ nghiên cứu, thực tiễn và quan điểm lập pháp ở từng nước, từng thời kỳ, đòi hỏi phải nghiên cứu để làm rõ bản chất pháp lý.

  2. Câu hỏi nghiên cứu 2: Bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự là gì? Đặc điểm của bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự?
    Giả thuyết nghiên cứu 2: Tồn tại nhiều cách hiểu và xác định khác nhau về khái niệm, đặc điểm bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự dựa trên góc độ tiếp cận, thực tiễn áp dụng và kỹ thuật lập pháp tại các quốc gia.

  3. Câu hỏi nghiên cứu 3: Tại sao phải xây dựng pháp luật về bán đấu giá tài sản? Hoặc dựa vào những cơ sở khoa học nào cần phải xây dựng pháp luật về bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự?
    Giả thuyết nghiên cứu 3: Việc ban hành pháp luật bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự không phải là quy định ngẫu nhiên mà được thiết lập dựa trên các cơ sở khoa học xác định về kinh tế và quyền con người.

  4. Câu hỏi nghiên cứu 4: Những nội dung cơ bản nào cần được pháp luật điều chỉnh trong hoạt động bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự ở Việt Nam?
    Giả thuyết nghiên cứu 4: Các nội dung điều chỉnh của pháp luật chịu sự chi phối từ đường lối, chính sách, tính thống nhất của hệ thống pháp luật, năng lực của chủ thể thực thi và cơ chế kiểm soát vi phạm.

  5. Câu hỏi nghiên cứu 5: Pháp luật về bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự ở Việt Nam có những nội dung gì? Đánh giá pháp luật trong lĩnh vực này điều chỉnh hợp lý chưa và bất cập như thế nào trong thực tiễn áp dụng?
    Giả thuyết nghiên cứu: Những bất cập xuất phát từ các quy định về trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản và quy định của pháp luật thi hành án dân sự về quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia.

  6. Câu hỏi nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật: Với những tồn tại và bất cập đã được nghiên cứu, đánh giá thì cần có những yêu cầu và kiến nghị gì cho việc giải quyết những bất cập về bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự ở Việt Nam?
    Giả thuyết nghiên cứu: Bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự vẫn còn tồn tại nhiều điểm nghẽn chưa được giải quyết, ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể, làm tăng án tồn đọng và tác động tiêu cực đến trật tự kinh tế - xã hội.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống các quy định pháp luật chuyên ngành, văn bản pháp luật có liên quan và thực tiễn áp dụng pháp luật về bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự tại Việt Nam từ khi có Luật Thi hành án dân sự năm 2008, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2014 và Luật Đấu giá tài sản năm 2016.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các vấn đề lý luận, thực trạng quy định và thực tiễn thi hành pháp luật trong mốc thời gian từ năm 2008 đến năm 2018 tại Việt Nam, có sự đối chiếu, so sánh với pháp luật của một số quốc gia. Nội dung nghiên cứu giới hạn vào 5 nhóm vấn đề chính: tài sản đưa ra đấu giá; chủ thể trong bán đấu giá; trình tự, thủ tục đấu giá; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của các chủ thể; các điều kiện bảo đảm hoạt động bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu cho thấy vấn đề đấu giá tài sản và bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự đã được phản ánh trong nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước:

Nhóm nghiên cứu về bán đấu giá tài sản nói chung ở Việt Nam bao gồm đề tài cấp Bộ của Viện Khoa học pháp lý (2011); luận án tiến sĩ của Nguyễn Mạnh Cường (2010); luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Hoa (2010), Đặng Thị Tâm (2014); sách chuyên khảo của Nguyễn Công Bình (2007), Lê Thị Hà (2011); cùng các bài viết tạp chí của Bùi Thái Bình (2012), Võ Đình Toàn (2012), Nguyễn Thị Minh (2012), Hải Dương (2011), Đặng Trần Hoàng Linh (2012), Đỗ Hoàng Yến (2017), Nguyễn Đại Dân và Nguyễn Thị Thu Hồng (2017).

Nhóm nghiên cứu trực tiếp về bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự tại Việt Nam có đề tài nghiên cứu cấp cơ sở của Trường Đại học Luật Hà Nội (2011) và Học viện Tư pháp (2013); luận án tiến sĩ của Nguyễn Thanh Thủy (2008), Nguyễn Quang Thái (2008), Nguyễn Tuấn An (2014); luận văn thạc sĩ của Bùi Thị Thu Hiền (2014); giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội (2009, 2011) và Học viện Tư pháp (2012, 2014, 2018); cùng hệ thống bài viết chuyên đề của Đặng Duy Bằng (2012), Vũ Hoà (2012), Hồ Quân Chính (2012), Nguyễn Hồng Sinh (2012), Hoàng Quốc Hùng và Nguyễn Hồng Sinh (2012), Lê Anh Tuấn (2013), Nguyễn Thị Thu Hồng (2014), Đoàn Văn Hường (2014), Lê Vĩnh Chân (2015), Lê Thị Kim Dung, Văn Thị Tâm Hồng và Phạm Quốc Nam (2017), Nguyễn Nhàn (2016).

Nhóm tài liệu nghiên cứu pháp luật quốc tế bao gồm các bài viết và tài liệu khảo cứu kinh nghiệm của Thế Anh (2006) về Trung Quốc; Dân Đức (2006) về Nhật Bản; Thanh Minh, Mai Hoa, Huyền Trang (2012); tài liệu phục vụ lập pháp của Bộ Tư pháp (2008, 2014, 2015); cùng các công trình của các tác giả nước ngoài như J.Bentley (1996), Sakai (2013), Vijay Krishna (2002), Nicholas Unkovic (2012), P. Steinberg (2005) và bà Pascale Liégeois thuộc Bộ Tư pháp Cộng hòa Pháp.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: Các công trình trước đây phần lớn chỉ tiếp cận hoạt động bán đấu giá tài sản dưới góc độ thương mại, dân sự thuần túy hoặc chỉ xem bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự như một thủ tục nhỏ nằm trong quy trình kê biên, xử lý tài sản của thi hành án dân sự nói chung. Chưa có công trình khoa học nào ở cấp độ luận án tiến sĩ nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện về bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự. Đặc biệt, sau khi Luật Thi hành án dân sự sửa đổi năm 2014 và Luật Đấu giá tài sản năm 2016 có hiệu lực, các nghiên cứu công bố mới chỉ dừng lại ở phạm vi các bài viết tạp chí phân tích từng vấn đề kỹ thuật riêng lẻ, chưa có sự tổng kết, đánh giá thực tiễn hệ thống giai đoạn 2014–2018 và chưa đề xuất các giải pháp lập pháp cụ thể vào từng điều luật.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên các lý thuyết và khung phân tích cơ bản sau:

  • Cơ sở lý thuyết kinh tế: Lý thuyết giá trị, lý thuyết cạnh tranh và các quy luật cung - cầu trong kinh tế thị trường. Luận án dẫn giải phân tích của Vijay Krishna về nguồn gốc từ ngữ "augeō" (nghĩa là "tôi làm tăng thêm") và phân tích của P. Steinberg về lý thuyết đấu giá tổ hợp để khẳng định bản chất của đấu giá là phương thức xác định giá trị của loại hàng hóa có mức giá biến động hoặc khó định lượng.
  • Cơ sở lý thuyết pháp lý và xã hội: Lý thuyết về bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực dân sự và kinh tế theo đường lối của Nghị quyết số 48/NQ-TW; lý thuyết về trật tự công bằng xã hội; và quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cùng định hướng cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị.
  • Khung phân tích khái niệm: Hoạt động bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự được phân tích dưới 4 góc độ: (1) Hoạt động của chủ thể có thẩm quyền bán đấu giá tài sản để thi hành án; (2) Trình tự, thủ tục trong thi hành án dân sự; (3) Quan hệ pháp luật trong thi hành án dân sự (gồm chủ thể, khách thể và nội dung); (4) Hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được thực hiện hoàn toàn theo hướng nghiên cứu định tính kết hợp phân tích văn bản quy phạm và xã hội học pháp luật:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để phân tích quy định pháp luật, tổng quan tài liệu và khái quát các yêu cầu, giải pháp.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với mô hình pháp luật của Cộng hòa Pháp, Nhật Bản, Cộng hòa Liên bang Đức, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Singapore và Trung Quốc.
  • Phương pháp lịch sử cụ thể: Xem xét sự hình thành của chế định từ thời La Mã cổ đại, thời kỳ thế kỷ XVIII tại Hà Lan, Pháp và thời kỳ Pháp thuộc tại Việt Nam (theo Luật dân sự, thương sự tố tụng thi hành trong các Tòa Nam án Bắc Kỳ năm 1931).
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp các dữ liệu hành chính thứ cấp từ các cơ quan quản lý.

Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu bao gồm:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam qua các thời kỳ: Bộ luật Dân sự năm 2005 và 2015, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và sửa đổi năm 2014, Luật Đấu giá tài sản năm 2016, Nghị định số 05/2005/NĐ-CP, Nghị định số 17/2010/NĐ-CP, Nghị định số 58/2009/NĐ-CP, Nghị định số 125/2013/NĐ-CP, Nghị định số 62/2015/NĐ-CP và Nghị quyết số 42/2017/QH14.
  • Dữ liệu thống kê chính thức từ Báo cáo công tác thi hành án năm 2017 của Chính phủ và Báo cáo tại Hội nghị sơ kết công tác thi hành án dân sự 06 tháng đầu năm 2018 của Bộ Tư pháp.
  • Số liệu thống kê danh sách các tổ chức đấu giá tại Việt Nam tính đến tháng 9 năm 2018.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Những vấn đề lý luận về bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm, bản chất pháp lý và đặc điểm của bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự. Luận án phân tích khái niệm này dưới 4 góc độ:

  • Dưới góc độ hoạt động của chủ thể có thẩm quyền: Bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự là hoạt động đưa tài sản đã kê biên ra bán đấu giá công khai theo luật định, được thực hiện bởi tổ chức đấu giá tài sản được lựa chọn hoặc Chấp hành viên nhằm thi hành bản án, quyết định.
  • Dưới góc độ trình tự, thủ tục: Đây là quá trình gồm 3 giai đoạn: thủ tục trước khi đấu giá (kê biên, xác định giá khởi điểm, lựa chọn tổ chức đấu giá); thủ tục tổ chức cuộc đấu giá (ký hợp đồng, ban hành quy chế, niêm yết, thông báo, đăng ký tham gia, trả giá); và thủ tục sau đấu giá (ký hợp đồng mua bán, nộp tiền, bàn giao tài sản chuyển quyền sở hữu hoặc tiến hành giảm giá để bán lại nếu đấu giá không thành). Luận án khẳng định quan điểm cho rằng "cơ quan thi hành án dân sự xác định giá khởi điểm" là không chính xác về mặt pháp lý, vì giá khởi điểm do đương sự thỏa thuận, do tổ chức thẩm định giá xác định bằng chứng thư, hoặc do Chấp hành viên xác định sau khi tham khảo cơ quan chuyên môn.
  • Dưới góc độ quan hệ pháp luật: Phân định rõ chủ thể đặc thù (người phải thi hành án là chủ sở hữu; cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, Thừa phát lại; tổ chức đấu giá và Đấu giá viên; người tham gia, người trúng đấu giá; người được thi hành án và người có quyền nghĩa vụ liên quan); khách thể (lợi ích pháp lý của các bên); và nội dung quyền, nghĩa vụ.
  • Dưới góc độ hệ thống quy phạm pháp luật: Là tập hợp các quy phạm thuộc nhiều ngành luật khác nhau như Luật Thi hành án dân sự, Luật Đấu giá tài sản, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Đất đai, Luật Công chứng.

Chương này cũng xác định 4 đặc điểm pháp lý riêng biệt: (1) Căn cứ pháp lý bắt buộc phải dựa trên bản án, quyết định có hiệu lực của cơ quan tài phán; (2) Người có thẩm quyền đưa tài sản ra bán đấu giá không phải chủ sở hữu mà là Chấp hành viên được Nhà nước trao quyền; (3) Tài sản bắt buộc phải trải qua thủ tục cưỡng chế kê biên và định giá trước khi bán; (4) Mục đích hoạt động nhằm thực hiện nghĩa vụ thi hành án và bảo vệ quyền lợi của các bên đương sự. Về cơ sở khoa học, việc xây dựng pháp luật lĩnh vực này bắt nguồn từ yêu cầu thi hành nghĩa vụ dân sự, bảo vệ quyền con người và bảo đảm tài sản được định đoạt theo đúng quy luật kinh tế thị trường.

Chương 2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự ở Việt Nam

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng từ năm 2005 đến năm 2018 theo 4 nhóm nội dung cơ bản:

  1. Quy định về tài sản và chủ thể: Thực tiễn bộc lộ nhiều khó khăn trong việc xác định loại quyền sử dụng đất được phép kê biên, xử lý tài sản chung của hộ gia đình hoặc vợ chồng, xử lý tài sản đang thế chấp tại ngân hàng, cũng như sự chồng chéo về quyền hạn giữa Chấp hành viên và Đấu giá viên.
  2. Quy định về trình tự, thủ tục: Các bất cập tập trung ở khâu định giá và định giá lại tài sản (thiếu giới hạn số lần yêu cầu, bất cập về nghĩa vụ chịu chi phí định giá lại); quy chế bán đấu giá thiếu chuẩn hóa; tiền đặt trước quy định thấp dẫn đến tình trạng bỏ cọc; thủ tục niêm yết, thông báo công khai còn hình thức; và điểm nghẽn nghiêm trọng sau đấu giá là thời gian bàn giao bất động sản cho người trúng đấu giá bị kéo dài do đương sự chống đối, cản trở.
  3. Quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý: Pháp luật còn thiếu cơ chế xử lý rõ ràng đối với trường hợp người trúng đấu giá vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền mua tài sản dẫn đến việc hủy bỏ hợp đồng mua bán; chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động bán đấu giá còn nhẹ, chưa đủ sức răn đe.
  4. Quy định về bảo đảm hoạt động bán đấu giá: Tiêu chuẩn, đào tạo và đạo đức nghề nghiệp của Đấu giá viên chưa đồng đều; thù lao dịch vụ đấu giá chưa khuyến khích tổ chức đấu giá tiếp nhận các tài sản thi hành án phức tạp; cơ chế kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân chưa thống nhất; cơ chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan thi hành án dân sự với Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, cơ quan quản lý đất đai và tổ chức tín dụng còn thiếu chặt chẽ.

Thực trạng này được minh chứng bằng dữ liệu thống kê từ các cơ quan quản lý nhà nước:

Tiêu chí thống kê Năm 2017 06 tháng đầu năm 2018
Số vụ việc đã kê biên, định giá lại và đấu giá nhưng không thành 7.535 việc 5.603 việc
Số vụ việc bán đấu giá từ 3 lần trở lên 5 việc 3 việc
Giá trị tài sản đã kê biên, định giá nhưng chưa xử lý được Không nêu trong văn bản 7.144 tỷ 138 triệu 714 nghìn đồng
Số vụ việc bán đấu giá thành nhưng chưa bàn giao được tài sản cho người trúng đấu giá Không nêu trong văn bản 628 vụ việc

Chương 3. Yêu cầu và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự ở Việt Nam

Chương 3 xác định 5 yêu cầu nền tảng cho việc hoàn thiện pháp luật: (1) Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và khả thi của hệ thống pháp luật; (2) Bảo vệ hài hòa quyền, lợi ích hợp pháp và xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia; (3) Bảo đảm tính cụ thể, chặt chẽ, tuân thủ trình tự, thủ tục chung về đấu giá tài sản; (4) Bảo đảm tính hiệu quả trong nền kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập quốc tế; (5) Đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước, phục vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Trên cơ sở các yêu cầu đó, luận án đề xuất 4 nhóm kiến nghị cụ thể:

  1. Sửa đổi, bổ sung quy định về tài sản và chủ thể: Hoàn thiện quy định về điều kiện kê biên tài sản, tài sản chung, tài sản cầm cố thế chấp; phân định rành mạch quyền hạn, nghĩa vụ của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự và tổ chức đấu giá tài sản chuyên nghiệp.
  2. Sửa đổi, bổ sung quy định về trình tự, thủ tục: Thực hiện bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự thống nhất theo thủ tục chung của Luật Đấu giá tài sản; áp dụng thống nhất mức giảm giá tài sản sau các lần bán không thành; quy định cụ thể thủ tục rút gọn trong bán đấu giá để rút ngắn thời gian xử lý tài sản; thiết lập quy trình cưỡng chế bàn giao tài sản chặt chẽ với thời hạn rõ ràng nhằm bảo đảm quyền lợi của người mua trúng đấu giá.
  3. Sửa đổi, bổ sung quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý: Bổ sung chế tài xử lý người trúng đấu giá không ký hợp đồng hoặc không thanh toán tiền; quy định rõ ràng căn cứ hủy hợp đồng mua bán tài sản đấu giá; nâng cao mức xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm quy chế đấu giá, thông đồng, dìm giá.
  4. Sửa đổi, bổ sung quy định về bảo đảm hoạt động: Nâng cao tiêu chuẩn và chất lượng đào tạo nghề cho Đấu giá viên; điều chỉnh quy định về thù lao dịch vụ đấu giá tài sản thi hành án dân sự tương xứng với tính chất phức tạp của công việc; hoàn thiện cơ chế kiểm sát trực tiếp của Viện kiểm sát; tăng cường trách nhiệm và cơ chế phối hợp cưỡng chế của cơ quan Công an và chính quyền địa phương trong việc bảo vệ bàn giao tài sản.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống đầu tiên ở cấp độ luận án tiến sĩ về bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự tại Việt Nam. Luận án đã xây dựng khái niệm pháp lý về bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự và hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ này dưới 4 góc độ tiếp cận khoa học; phân định rõ sự khác biệt giữa đấu giá tài sản và bán đấu giá tài sản; làm sáng tỏ các đặc điểm đặc thù của tài sản thi hành án dân sự so với các loại tài sản tư pháp, tài sản công hoặc tài sản thương mại thông thường; và luận giải cơ sở khoa học của việc lập pháp dựa trên lý thuyết kinh tế thị trường, quyền con người và yêu cầu thực thi hiệu lực bản án.

Về mặt thực tiễn và hoàn thiện pháp luật, luận án đánh giá toàn diện thực trạng quy định và số liệu thực thi pháp luật giai đoạn 2008–2018, chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến tình trạng bán đấu giá không thành và ách tắc trong bàn giao tài sản. Luận án đề xuất một cơ chế mới mang tính thực tiễn: chuyển giao toàn bộ các khâu xác định giá và tổ chức bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự sang các tổ chức thẩm định giá và tổ chức đấu giá chuyên trách, độc lập. Đồng thời, luận án cung cấp căn cứ khoa học cụ thể để sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự, Luật Đấu giá tài sản và các văn bản hướng dẫn theo hướng: áp dụng trình tự thống nhất, áp dụng mức giảm giá chuẩn hóa, đưa vào thủ tục rút gọn và thiết lập cơ chế bàn giao tài sản gắn liền với trách nhiệm và kinh phí cưỡng chế rõ ràng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án chỉ tập trung nghiên cứu trong giới hạn các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự và đấu giá tài sản trong khung thời gian từ năm 2008 đến năm 2018, gắn với 5 nội dung trọng tâm (tài sản, chủ thể, trình tự thủ tục, quyền nghĩa vụ trách nhiệm và điều kiện bảo đảm). Luận án chưa bao quát toàn bộ các trình tự xử lý tài sản tư pháp khác phát sinh ngoài thi hành án dân sự thông thường như tài sản trong tố tụng phá sản doanh nghiệp.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo, các công trình kế tiếp cần theo dõi và đánh giá tác động thực tế của Luật Đấu giá tài sản năm 2016 cùng Nghị quyết số 42/2017/QH14 sau năm 2018; đồng thời nghiên cứu chuyên sâu hơn về các hình thức đấu giá trực tuyến áp dụng cho tài sản thi hành án dân sự và cơ chế liên ngành bảo đảm an ninh trật tự trong việc cưỡng chế bàn giao các bất động sản phức tạp.

Giá trị tham khảo

Nghiên cứu có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với cơ quan quản lý và lập pháp (Quốc hội, Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự): Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn phục vụ việc rà soát, sửa đổi Luật Thi hành án dân sự, ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Đấu giá tài sản và tháo gỡ điểm nghẽn nợ xấu.
  • Đối với cán bộ thực tiễn (Chấp hành viên, Đấu giá viên, Thừa phát lại, Thẩm phán, Kiểm sát viên): Là tài liệu tham khảo nghiệp vụ giúp nhận diện rủi ro pháp lý, thực hiện đúng quy trình kê biên, định giá, ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá và thực hiện cưỡng chế bàn giao tài sản.
  • Đối với các cơ sở đào tạo luật (Học viện Tư pháp, Trường Đại học Luật Hà Nội...): Đóng góp tài liệu nghiên cứu và giảng dạy chuyên sâu cho các chương trình đào tạo nghiệp vụ thi hành án dân sự, kỹ năng đấu giá tài sản và đào tạo Thừa phát lại.

Câu hỏi thường gặp

  1. Thực trạng bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự tại Việt Nam giai đoạn 2017 - đầu năm 2018 diễn ra như thế nào?
    Theo số liệu thống kê được dẫn trong luận án, năm 2017 toàn quốc có 7.535 việc kê biên, định giá lại và bán đấu giá nhưng không thành (trong đó có 5 việc bán từ 3 lần trở lên). Trong 06 tháng đầu năm 2018, có 5.603 việc với tổng giá trị 7.144 tỷ 138 triệu 714 nghìn đồng chưa xử lý được (3 việc bán từ 3 lần trở lên), cùng 628 vụ việc đã đấu giá thành công nhưng cơ quan thi hành án chưa thể bàn giao tài sản cho người mua trúng đấu giá.

  2. Bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự có những điểm đặc thù nào so với bán đấu giá tài sản thông thường?
    Bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự có 4 đặc điểm riêng biệt: căn cứ pháp lý phải dựa trên bản án, quyết định có hiệu lực của cơ quan tài phán; người đưa tài sản ra bán không phải là chủ sở hữu mà là Chấp hành viên được Nhà nước trao quyền; tài sản bắt buộc phải qua thủ tục cưỡng chế kê biên và định giá trước khi bán; mục đích là nhằm thu hồi tiền thực hiện nghĩa vụ thi hành án thay vì phục vụ mục đích thương mại tự nguyện.

  3. Pháp luật Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc quy định thể thức phát mại tài sản thi hành án như thế nào?
    Theo Luật dân sự, thương sự tố tụng thi hành trong các Tòa Nam án Bắc Kỳ năm 1931 được trích dẫn trong luận án, cuộc phát mại do Lục sự Tòa án tuyên bố, Thừa phát lại rao giá. Khi đấu giá lấy tiếng trống làm hiệu, mỗi lần trả giá không được dưới một đồng bạc; sau mỗi lần trả giá cách 2 phút đánh một tiếng trống, nếu sau 3 tiếng trống không ai trả cao hơn thì tài sản thuộc về người trả giá cuối cùng. Trường hợp trúng đấu giá mà không nộp tiền và không có người bảo lĩnh thì bị lập biên bản về hành vi "đấu giá liều" để đề nghị truy tố hình sự.

  4. Tại sao luận án khẳng định việc cho rằng "cơ quan thi hành án dân sự xác định giá khởi điểm" là không chính xác?
    Luận án chỉ rõ rằng cơ quan thi hành án dân sự không trực tiếp quyết định giá khởi điểm. Theo quy định pháp luật thi hành án dân sự, giá khởi điểm được xác lập dựa trên một trong ba hình thức: các bên đương sự thỏa thuận về giá; tổ chức thẩm định giá độc lập xác định thông qua chứng thư thẩm định giá; hoặc Chấp hành viên xác định trên cơ sở tham khảo ý kiến chuyên môn của cơ quan tài chính, chuyên môn có liên quan.

  5. Luận án đề xuất giải pháp trọng tâm nào để giải quyết tình trạng tài sản đấu giá thành nhưng không bàn giao được?
    Luận án kiến nghị xây dựng cơ chế bàn giao tài sản chặt chẽ, quy định cụ thể thời hạn tổ chức bàn giao bắt buộc; phân định rõ trách nhiệm và chế tài xử lý của từng chủ thể tham gia; bảo đảm kinh phí tổ chức cưỡng chế bàn giao; và tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành bắt buộc giữa cơ quan thi hành án dân sự với lực lượng Công an và chính quyền địa phương nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người trúng đấu giá.

Kết luận

Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu về bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự tại Việt Nam, kết hợp phân tích lý luận đa chiều với đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật giai đoạn 2008–2018. Thông qua việc phân tích các căn cứ khoa học, nguyên lý kinh tế thị trường và số liệu thực tế, tác giả đã chỉ rõ các điểm nghẽn trong khâu định giá, thủ tục đấu giá và bàn giao tài sản. Các yêu cầu và kiến nghị hoàn thiện pháp luật được đề xuất là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác lập pháp, hoạt động thi hành án dân sự và công tác đào tạo các chức danh tư pháp tại Việt Nam.