Chương 1: Tiễn dặn người yêu - Áng trữ tình đặc sắc Chương 2: Tiễn dặn người yêu - Áng văn chương tự sự hấp dẫn Chương 3: Dấu ấn của Tiễn dặn người yêu trong đời sống văn chương hiện đại dân tộc Thái 18 Chƣơng 1. TIỄN DẶN NGƢỜI YÊU - ÁNG TRỮ TÌNH ĐẶC SẮC 1. Đôi nét về thể loại trữ tình Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán chủ biên [12] định nghĩa trữ tình là "một trong ba phương thức thể hiện đời sống (bên cạnh tự sự và kịch) làm cơ sở cho loại tác phẩm văn học. Nếu tự sự thể hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả bằng con đường tái hiện một cách khách quan các hiện tượng đời sống, thì trữ tình lại phản ánh đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là con người tự cảm thấy mình qua những ấn tượng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới và nhân sinh"[12,tr 316].
Vì bộc lộ trực tiếp ý thức và cảm xúc nên nguyên tắc phản ánh của trữ tình mang tính chủ quan và điều này bộc lộ thành các biểu hiện sau của thể loại: Thứ nhất, vì thể hiện tâm trạng nên tác phẩm trữ tình “không có cốt truyện” (hiểu theo nghĩa chặt chẽ của từ này); thứ hai, trong phương thức trữ tình “cái tôi trữ tình giữ vị trí đặc biệt quan trọng vì nó là nguồn trực tiếp duy nhất của nội dung tác phẩm” và cái tôi này thường xuất hiện dưới dạng nhân vật trữ tình; thứ ba, thời gian trong tác phẩm trữ tình là thời gian hiện tại ngay cả khi “tác phẩm nói về quá khứ, về những chuyện đã qua” do xúc động trữ tình “được trình bày trực tiếp, trong trạng thái sống động như trong quá trình đang diễn ra”. Điều này tạo nên sức truyền cảm lớn cho tác phẩm trữ tình. Vì nội dung như vậy, nên phương thức trữ tình “đòi hỏi một hình thức thể hiện phù hợp, tương ứng. Lời văn của tác phẩm phải hàm súc, giàu nhịp điệu”.
Tác phẩm trữ tình có thể “được viết bằng thơ hoặc văn xuôi, nhưng thơ vẫn là hình thức tổ chức ngôn từ phù hợp nhất với nó”. Vì vậy, đôi khi người ta vẫn đồng nhất phương thức trữ tình với thơ trữ tình. Song, các nhà nghiên cứu dựa vào cấu trúc ngôn từ để phân chia thành thơ trữ tình và văn xuôi trữ tình. "[12, tr 316 - 318] Để nhận diện một tác phẩm trữ tình, người ta thường căn cứ vào những dấu hiệu chung, như: sự biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con người, những cảm xúc, tâm trạng; tác phẩm trữ tình, vì vậy có thể xâm nhập và tái 19 hiện những chân lí phổ biến nhất của tồn tại con người, như: sự sống, cái chết, tình yêu, lòng chung thủy, lí tưởng, ước mơ, tương lai, hạnh phúc.
Chính vì vậy mà tầm khái quát của tác phẩm trữ tình thường mang tính phổ quát về tồn tại và nhân sinh. Phương thức trữ tình cũng tái hiện đời sống, nhưng sự tái hiện này không mang mục đích tự thân mà tạo diều kiện để chủ thể bộc lộ những cảm xúc, chiêm nghiệm, suy tưởng của mình. Nguyên tắc cơ bản của tác phẩm trữ tình tính chủ quan trong việc chiếm lĩnh hiện thực và đây cũng là nhân tố cơ bản quy định những đặc điểm cốt yếu của tác phẩm trữ tình. Đặc sắc của hình tƣợng nhân vật trữ tình trong Tiễn dặn người yêu 1.
Về nhân vật trữ tình Nhân vật trữ tình còn có cách gọi khác là “cái tôi trữ tình” là hình tượng nhà thơ trong thơ trữ tình, "đồng dạng" của tác giả - nhà thơ hiện ra từ văn bản của kết cấu trữ tình như một con người có đường nét hay một vai sống động có số phận cá nhân xác định hay có thế giới nội tâm cụ thể. Nhân vật trữ tình có thể là một "cái tôi" đã được sáng tạo ra, được khái quát như một tính cách văn học được xây dựng trên cơ sở các sự thật của chính tác giả. Nhân vật trữ tình cũng có thể là yếu tố để tác giả thổ lộ tình cảm chân thật của họ trong những tình huống trữ tình. Tuy vậy, nhân vật trữ tình luôn mang trong nó một sự độc lập, vừa chủ quan, vừa khách quan mà tác giả thơ trữ tình xuất hiện trong đó như "người đại diện cho xã hội, thời đại và nhân loại" (Bêlinxki).
Ở nhân vật trữ tình, tác giả đã hoàn toàn đưa họ ra khỏi cái cá nhân đời thường của họ. Nhân vật trữ tình là hình tượng trực tiếp bộc lộ những suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm và không có diện mạo, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể, song lại rất cụ thể trong giọng điệu, trong cảm xúc, trong cách cảm, cách nghĩ. Nhân vật trữ tình, một mặt, vừa biểu hiện thế giới nội tâm, chủ quan của chủ thể, vừa phản ánh thực tế khách quan của cuộc sống xã hội, song, về cơ bản, nhân vật trữ tình hay cái tôi trữ tình thường bộc lộ cảm xúc, 20 tâm trạng, ý nghĩ và dĩ nhiên, những xúc cảm, tâm trạng này thường được khơi nguồn hoặc có nguyên nhân gốc rễ từ thực tế đời sống xã hội. Trong Tiễn dặn người yêu, không chỉ có một mà có tới hai nhân vật trữ tình, đó là “anh yêu” và “em yêu”.
Chúng tôi gọi là nhân vật trữ tình “kép”. Nói đúng hơn cái tôi trữ tình đã phân thân thành hai nhân vật trữ tình để giãi bày xúc cảm, tâm trạng trước tình huống trớ trêu: yêu nhau mà không lấy được nhau, không lấy được nhau mà thề yêu nhau suốt đời. Nhân vật trữ tình kép này tuy hai mà một, tuy một mà hai, xúc cảm, tâm tư của họ tạo nên bản tình ca bất hủ. Đặc sắc trong hình tượng nhân vật trữ tình “kép” Nếu chỉ căn cứ vào tên gọi “Tiễn dặn người yêu” thì người ta dễ nghĩ, ở đây chỉ có nhân vật trữ tình là người “tiễn dặn” người yêu là chàng trai - người chủ động kể câu chuyện: “Nay hãy kể từ trước tới sau/ Kể từ thuở đôi ta nằm lòng mẹ bên phải/ Mẹ em yêu và mẹ anh yêu”.
Song, trong văn bản lại có cả tiếng nói trữ tình của cô gái - người được “tiễn dặn”. Tiếng nói trữ tình của cô gái khá cụ thể và đậm nét, người đọc có thể hình dung được tính cách, tâm hồn của cô gái. Vậy, thực tế, Tiễn dặn người yêu là tiếng nói trữ tình của đôi lứa yêu nhau tha thiết, cháy bỏng mà không lấy được nhau. Theo chúng tôi, tình huống “tiễn dặn” ở đây là tiếng lòng, là xúc cảm tâm trạng của đôi lứa trong một cuộc tình nhiều trắc trở.
Tiếng nói ấy đan xen, khi là nỗi niềm, tâm trạng của chàng trai, lúc là nỗi niềm, tâm trạng của cô gái. Nhân vật trữ tình lúc hòa vào một: “đôi ta”, lúc tách thành hai: “anh yêu”, “em yêu” gắn với hạnh phúc tình yêu lẫn nỗi đau chia lìa, tình yêu thật độc đáo. Chúng tôi gọi việc liên tục tách ra và nhập lại ở các chủ thể trữ tình như vậy là “tiếng nói trữ tình kép” hay “hình tượng trữ tình kép”. Hình tượng trữ tình “kép” trong tác phẩm biểu hiện cụ thể, rõ nét ở sự song song tồn tại của cả ba nhân vật trữ tình: đôi ta, anh yêu, em yêu.
Ba hình tượng này xuất hiện với tần suất khác nhau, mang dạng vẻ khác nhau ở cảm xúc, ngôn ngữ và liên tục hoán đổi “vai” cho nhau trong từng hoàn cảnh cụ thể. 21 Đoạn mở đầu (từ câu đầu đến câu 99), chủ thể trữ tình xuất hiện trong danh xưng đôi ta với xúc cảm chủ đạo là niềm hạnh phúc ngập tràn trong tình yêu đầu đời của đôi lứa được se duyên từ thưở còn thơ. Tiếng nói trữ tình “đôi ta”gắn với hạnh phúc tình yêu Rất khó để phân biệt tiếng nói trữ tình từ câu mở đầu cho đến câu 95 là của chàng trai hay cô gái. Hai từ “đôi ta” luôn là chủ thể của các nội dung liền đó.
Trước khi gặp bi kịch, đôi lứa trong Tiễn dặn người yêu đã có những năm tháng thật ngọt ngào hạnh phúc. Họ đúng là đôi trời sinh, mối tình của họ như một thứ duyên trời định: “kể từ lúc đôi ta nằm lòng mẹ.”, lúc anh hoài thai trong bụng mẹ “bên phải” thì “em yêu” cũng ở bụng mẹ “bên trái”. Điệp khúc "Bé xinh vào lòng mẹ” lặp lại tám lần đâu phải chỉ dành cho riêng anh hay em, bởi đến câu: “Đã qua mười tháng chờ/ Đã đủ chín tháng đợi/ Mười tháng chờ đôi ta ra đời ăn cơm”. Hóa ra “Bé xinh” chính là “đôi ta”.
Hình ảnh “mẹ yêu” với chín tháng thai nghén như là kỳ công của tạo hóa dành cho cả anh và em. Nhân vật trữ tình nhắc lại thời gian “mang nặng” của mẹ với niềm biết ơn, cũng là niềm hạnh phúc. Điều đáng chú ý là không có sự phân biệt giữa anh và em, chỉ có danh xưng “bé xinh” - “đôi ta”, mẹ “anh yêu” và mẹ “em yêu” đều là “mẹ yêu”, có chung cảm giác thai nghén, có chung niềm yêu thương chờ đợi “bé xinh” chào đời. Nhân vật trữ tình đã nói về ơn sinh thành với nỗi niềm biết ơn và kính trọng, cùng với tình cảm ấy là niềm hạnh phúc đôi lứa ngọt ngào, được bên nhau, thuộc về nhau, trở thành “đôi ta” ngay từ khi còn trong bụng mẹ.
“Kể từ thưở đôi ta nằm lòng mẹ bên phải Ở lòng mẹ bên trái Mẹ em yêu và mẹ anh yêu Thèm ăn gỏi cá chua.” Nhân vật trữ tình lần về nguồn cơn của mối tình mình như một cách để được chìm đắm trong từng khoảnh khắc của tình yêu. Lời thơ cứ thế tuôn trào, người đọc bị lôi cuốn vào câu chuyện tình yêu trong sáng, đẹp tinh khiết 22 như cánh hoa ban nơi núi rừng Tây Bắc. Trong dòng tâm tư của nhân vật trữ tình, những kỷ niệm dấu yêu của quá khứ hiện về. Tình yêu của đôi lứa ấy như một thứ duyên phận trời định.
Lời tự tình gợi nhắc quá khứ sinh thành như muốn ngầm khẳng định, tình yêu của họ có nguồn gốc, có cội rễ vô cùng bền chắc, không dễ gì chia lìa. Cứ thế, “anh yêu” và “em yêu” lớn lên cùng nhau, tình yêu của họ cũng lớn lên cùng năm tháng. Tuổi thơ của “đôi ta” gắn với những kỉ niệm êm đềm: “ôm cổ mẹ chăn gà, bám vai mẹ chăn lợn, đeo cổ bác ăn cơm, đòi hái dâu theo mẹ”, “cưỡi bông lau phi ngựa”.