Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu sự nhận thức văn hóa của du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản

Khóa luận phân tích sự thức nhận văn hóa của du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản, tập trung vào trải nghiệm và thách thức trong 3 tháng công tác.

Chuyên ngành

Việt Nam Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2015

67
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về văn hóa Nhật Bản

Văn hóa Nhật Bản là một trong những nền văn hóa phong phú và đa dạng nhất thế giới. Nó bao gồm nhiều yếu tố như truyền thống, phong tục tập quán, nghệ thuật và ngôn ngữ. Du học sinh Việt Nam khi đến Nhật Bản không chỉ học tập mà còn trải nghiệm sâu sắc về văn hóa Nhật Bản. Những trải nghiệm này giúp họ hiểu rõ hơn về cách sống, tư duy và giá trị của người Nhật. Theo một nghiên cứu, việc tiếp xúc với văn hóa mới giúp sinh viên phát triển kỹ năng giao tiếp và khả năng thích nghi. Điều này rất quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, khi mà việc giao lưu văn hóa trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

1.1. Đặc điểm nổi bật của văn hóa Nhật Bản

Văn hóa Nhật Bản nổi bật với sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Các lễ hội truyền thống, như lễ hội hoa anh đào, vẫn được tổ chức hàng năm, thu hút hàng triệu du khách. Bên cạnh đó, Nhật Bản cũng là nơi phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp văn hóa hiện đại như anime và manga. Du học sinh Việt Nam có cơ hội tham gia vào các hoạt động này, từ đó hiểu rõ hơn về truyền thống Nhật Bản và cách mà nó ảnh hưởng đến đời sống hiện đại.

II. Trải nghiệm du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản

Trải nghiệm du học tại Nhật Bản mang lại cho sinh viên Việt Nam nhiều cơ hội học hỏi và phát triển. Họ không chỉ học tập trong môi trường giáo dục tiên tiến mà còn có cơ hội giao lưu với sinh viên quốc tế. Những trải nghiệm này giúp họ nâng cao khả năng giao tiếp và hiểu biết về giao lưu văn hóa. Theo khảo sát, nhiều sinh viên cho biết họ đã thay đổi cách nhìn nhận về văn hóa của chính mình sau khi trải nghiệm văn hóa Nhật Bản. Điều này cho thấy sự thức nhận văn hóa là một quá trình quan trọng trong việc phát triển bản thân.

2.1. Những thách thức trong quá trình du học

Mặc dù có nhiều cơ hội, du học sinh Việt Nam cũng phải đối mặt với không ít thách thức. Sự khác biệt về ngôn ngữ và phong tục tập quán có thể gây khó khăn trong việc hòa nhập. Nhiều sinh viên cảm thấy bỡ ngỡ khi lần đầu tiên tiếp xúc với ngôn ngữ Nhật Bản và các quy tắc xã hội. Tuy nhiên, những khó khăn này cũng là cơ hội để họ phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề và khả năng thích nghi. Việc vượt qua những thách thức này không chỉ giúp họ trưởng thành mà còn tạo ra những kỷ niệm đáng nhớ trong hành trình du học.

III. Giá trị và ứng dụng thực tiễn của sự thức nhận văn hóa

Sự thức nhận văn hóa không chỉ giúp du học sinh Việt Nam hiểu rõ hơn về văn hóa Nhật Bản mà còn giúp họ phát triển bản thân. Những trải nghiệm này có thể áp dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống. Việc hiểu biết về các giá trị văn hóa khác nhau giúp sinh viên trở thành những công dân toàn cầu, có khả năng giao tiếp và làm việc hiệu quả trong môi trường đa văn hóa. Theo các chuyên gia, sự thức nhận văn hóa là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ và hợp tác quốc tế.

3.1. Tác động đến sự phát triển cá nhân

Sự thức nhận văn hóa giúp du học sinh phát triển kỹ năng mềm như giao tiếp, làm việc nhóm và tư duy phản biện. Những kỹ năng này rất cần thiết trong môi trường làm việc hiện đại. Nhiều sinh viên cho biết họ đã trở nên tự tin hơn khi giao tiếp với người nước ngoài và có khả năng thích nghi tốt hơn với những thay đổi trong cuộc sống. Điều này không chỉ có lợi cho sự nghiệp mà còn cho cuộc sống cá nhân của họ.

10/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về đề tài Chương 2: Sự thức nhận văn hóa Chương 3: Một số định hướng cho sự thức nhận văn hóa thành công 10 NỘI DUNG Chương Í TONG QUAN VE DE TÀI 1.1 Giới thuyết về một số khái niệm 1.1 Văn hóa và mối quan hệ “Con người — Văn hóa — Tự nhiên” Trước khi tìm hiéu sâu về sự thức nhận văn hóa, theo chúng tôi, việc xác định cơ sở lý luận của khái niệm văn hóa là rat quan trọng. Văn hóa (culture) với tư cách là đối tượng nghiên cứu của ngành văn hóa học, được định nghĩa là tất cả những gì con người sáng tạo ra. Trong “Tuyên bố về những chính sách văn hóa” tại Hội nghị Quốc tế năm 1982 ở Mê-hi-cô, UNESCO đã định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa hôm nay có thé coi là tông thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân.

Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dan thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩ mới mẻ Và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”. 11 Ở Việt Nam, chúng tôi xin đưa ra định nghĩa về văn hóa của GS.TSKH Tran Ng ọc Th êm — địn h ngh ĩa ma ch ún g tôi sẽ sử du ng là m nê n tan g lý luậ n cho khóa luận của mình: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chat và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [7; tr. Từ định nghĩa này của GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, chúng tôi xin tóm tắt lại 3 đặc điểm của văn hóa như sau: Thứ nhất, chủ thê văn hóa: con người Thứ hai, hoàn cảnh con người tạo ra văn hóa: trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội, qua quá trình hoạt động thực tiễn.

Thứ ba, nội dung của văn hóa: hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tỉnh thần. Trong định nghĩa trên, GS.TSKH Trần Ngọc Thêm đã chỉ rõ sự ảnh hưởng của tự nhiên và con người đến văn hóa thông qua mối quan hệ biện chứng “con người - văn hoá - tự nhiên”. Ông phân tích, trong mối quan hệ “con người — văn hóa — tự nhiên”, tự nhiên là cái có trước, tự nhiên tạo ra con người, sau đó, thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sáng tạo ra văn hóa. Ông khẳng định “Văn hoá là sản phẩm trực tiếp của con người và sản phẩm gián tiếp của tự nhiên.

Văn hoá là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người”. Vì vậy, “tự nhiên tồn tại trong nhận thức của con người dưới dạng những biểu trưng (biểu trưng - khái niệm, biểu trưng - từ ngữ.) do văn hoá tạo ra” [9]. Tuy nhiên, xuất phát từ đối tượng nghiên cứu của ngành văn hóa học là văn hóa, văn hóa được đặt làm trung tâm trong mối quan hệ này. Khác với mục đích nghiên cứu của GS.TSKH Tran Ngọc Thêm, mục đích nghiên cứu của chúng tôi là sự thức nhận văn hóa đứng trên góc nhìn của cá nhân, do vậy, trên tỉnh thần tiếp thu những cơ sở lý luận về văn hóa, chúng tôi sẽ chuyển góc nhìn và tập trung xem xét mối 12 quan hé nay theo hướn g “t e nh iê n — co n ng ườ i — va n hó a” mà ch ún g tôi sé phân tí ch sâ u h ơ n ở p h a n ti ếp th eo .2 Con ng ườ i và mo i qu an hệ “T ự nh iê n — Co n ng ườ i — Vă n hó a” Dựa trên cơ sở lý luận về văn hóa của GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, nếu xét trong mối quan hệ biện chứng “con người - văn hoá - tự nhiên”, văn hoá là sản phẩm trực tiếp của con người và sản phẩm gián tiếp của tự nhiên thì khi chuyển góc nhìn về phía con người trong mối quan hệ “tự nhiên — con người — văn hóa”, con người là sản phẩm trực tiếp của tự nhiên, con người là chủ thể sáng tạo ra văn hoá, và con người (sinh vật) chỉ có thé trở thành Người khi được sống trong một văn hóa.

Vậy nên, con người cũng chính là sản phẩm của văn hoá. Chúng ta có thé nhận thấy rõ điều trên từ vị trí của mỗi cá nhân. Mỗi đứa trẻ là sản phẩm của tự nhiên và chúng học cách ứng XỬ Với môi trường xung quanh bằng cách “học” hành động của những cá thể xung quanh chúng. Thực tế đã chứng minh một đứa trẻ sinh ra không được sống trong cộng đồng người mà lớn lên trong rừng với các loài thú, nó sẽ hành xử như loài thú.

Tuy nhiên, cùng với sự tồn tại của rất nhiều nền văn hóa đa dạng, tùy thuộc vào môi trường văn hóa mà đứa trẻ được nuôi dưỡng, nó sẽ trở thành sản phẩm của nền văn hóa đó. Tóm lại, việc xem xét con người trong mối quan hệ “tự nhiên — con người — văn hóa” giúp chúng ta nhận thức rõ sự ảnh hưởng của môi trường, bao gồm môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa tới sự phát triển của con người.3 Sự khác biệt văn hóa — Tiểu văn hóa Trong quá trình nghiên cứu văn hóa cũng như sự thức nhận văn hóa, việc nhận thức về sự khác biệt văn hóa cũng vô cùng quan trọng. Hiện nay, chúng ta có thé nhận thấy sự tổn tại của rất nhiều nền văn hóa. Cùng với đó là một xu thé khẳng định bản sắc văn hóa của mỗi cộng đồng, dân tộc giúp chúng ta nhận thức 13 sâu sắc hơn về sự khác biệt văn hóa.

Cho đến nay, nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt vă n hó a đư ợc đô ng đảo các nh à kh oa học xác địn h là do sự khá c biệ t của điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội trong quá trình phát triển của các chủ thể văn hóa khác nhau. Trong khi nghiên cứu về sự khác biệt văn hóa, khái niệm tiểu văn hóa cũng rất cần được chú ý. Tiểu văn hóa được định nghĩa là một bộ phận nằm trong nên văn hóa chung, chia sẻ những giá trị chung nhưng cũng có những nét khác biệt với nền văn hóa chung đó. Trong nghiên cứu văn hóa, khi chúng ta sử dụng một số tiêu chí dé chia nhỏ một nền văn hóa, ta sẽ có các tiêu văn hóa.

Ví dụ: khi chia nhỏ nền văn hóa Việt Nam, theo giới hạn thời gian, ta có văn hóa Đông Sơn, văn hóa Hòa Bình.; giới hạn theo không gian, ta có văn hóa Hà Nội, văn hóa Nam Bộ.; giới hạn theo lĩnh vực, ta có văn hóa giao tiếp, văn hóa đọc. Tuy nhiên, nếu ta chọn hệ quy chiếu là văn hóa Đông Nam Á và tiêu chí giới hạn theo không gian, văn hóa Việt Nam lại trở thành một tiêu văn hóa cùng với văn hóa Lào, văn hóa Thái Lan. Như đã nói ở trên, nội dung của văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần, do vậy, khi nói về sự khác biệt giữa các nền văn hóa chính là nói về sự khác biệt giữa hệ thống các giá trị vật chất và giá trị tỉnh thần. Việc xác định một tiểu văn hóa trong một nền văn hóa chung cũng dựa trên sự khác biệt trong hệ thống giá trị giữa chúng.

Vì vậy, để hiểu về sự khác biệt văn hóa, việc xem xét mối quan hệ giữa văn hóa và giá trị là vô cùng cần thiết.4 Văn hóa và Giá trị Theo GS. TSKH Trần Ngọc Thêm, tính giá trị là một trong bốn đặc trưng quan trọng của văn hóa, giúp chủ thé văn hóa phân biệt giữa “giá tri” và “phi giá trị” và lựa chọn những gì có “giá trị? để thực hiện chức năng điều chỉnh xã hội, tạo động lực cho sự phát triển của xã hội. Văn hóa được chia làm hai dạng chính, 14 văn hóa vật chất và văn hóa tinh than. “V ăn ho á vậ t ch at ba o gồ m to àn bộ nh ữn g sản phẩm do hoạt động sản xuất vật chất của con người tạo ra: đồ ăn, đồ mặc, nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, công cụ sản xuất, phương tiện đi lại.

Văn hoá tỉnh thần bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất tỉnh thầ n của con ngư ời tạo ra: tư tưở ng, tín ngư ỡng - tôn giáo , ngh ệ thuậ t, lễ hội, pho ng tục, đạo đức , ngô n ngữ , văn chu ong. Hệ giá tri văn hoá của một dân tộc, vì thế, bao gồm toà n bộ hàn g triệ u giá trị vật chấ t và tỉnh thầ n mà chủ thể (dân tộc) của nền văn hoá đó đã tích lũy được. Tuy nhiên, toàn bộ hệ giá trị văn hoá đó bắt đầu từ cái gốc là hệ giá trị bản sắc văn hoá. Hệ giá trị bản sắc văn hoá chỉ gồm giá trị tỉnh thần, có số lượng hữu hạn [8].

Về tinh chất của giá trị, trong báo cáo “Giá trị và sự chuyến đổi hệ giá tri văn hoá truyền thống Việt Nam”, GS. TSKH Tran Ngọc Thêm đã khang định: “giá trị văn hoá có tính chủ quan và tính tương đối”. Giá trị văn hóa mang tính chủ quan vì nó là kết quả của quá trình so sánh và đánh giá các khách thể từ góc nhìn và theo tiêu chí của chủ thé văn hóa. Giá trị văn hóa mang tính tương đối là vì nó là kết quả của việc chủ thể văn hóa so sánh và đánh giá mọi đối tượng khách quan không dựa trên bản chất tự thân của chúng mà “qua lăng kính độ quan trọng và độ hữu ích của chúng đối với cuộc sống của mình”.

Do vậy, cùng một đối tượng khách quan, nhưng tùy vào hệ quy chiếu “không gian — thời gian — chủ thé” nó sẽ mang những giá trị khác nhau. Điều này cũng đúng với giá trị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ