CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và đặc điểm văn hóa doanh nghiệp 1. Khái niệm văn hóa và văn hoá doanh nghiệp 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, rất phong phú và phức tạp nên khái niệm văn hóa cũng có rất nhiều nghĩa khác nhau, tùy theo góc độ tiếp nhận mà mỗi người có cách hiểu khác nhau, dẫn đến nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm văn hóa.
Văn hóa là một khái niệm có nội hàm rộng và nhiều cách hiểu, liên quan đến mọi mặt của đời sống vật chất và tinh thần của con người. Năm 1874, nhà nhân chủng học người Anh Edward Burnett Tylor (1832-1917) đã định nghĩa nó trong cuốn sách Văn hóa nguyên thủy (xuất bản lần đầu năm 1871): "Văn hóa là một nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục, và tất cả những khả năng, thói quen và thói quen. con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội ”. Năm 1943, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam đã đưa ra định nghĩa: "Vì mục tiêu tồn tại và sự sống, loài người đã sáng tạo, phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hoá.
, nghệ thuật, trong quần áo, Các công cụ của cuộc sống hàng ngày về cách thức và cách sử dụng. Tất cả những sáng tạo và phát minh này đều là văn hóa. " Theo định nghĩa của UNESCO (được chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về chính sách văn hóa tổ chức ở Venice năm 1970), văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho một con người trở nên đặc biệt, từ những sản phẩm phức hợp hiện đại nhất đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, cách sống và lao động. Vào tháng 12 năm 1986, UNESCO đã phát triển thêm định nghĩa về văn hóa: "Văn hóa là tổng thể sống động của các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và cộng đồng trong quá khứ và hiện tại qua nhiều thế kỷ hoạt động sáng tạo.
đã hình thành những giá trị, truyền thống và những biểu hiện là yếu tố chân chính của bản sắc nhân dân riêng của mỗi dân tộc ”. Qua định nghĩa của UNESCO, chúng ta thấy văn hóa là một tổng thể bao gồm tất cả những gì mà con người tạo ra, và văn hóa là sự khác biệt giữa con người với nhau cả về vật chất lẫn tinh thần. Luan van 10 Vì vậy, văn hóa có thể hiểu là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình thời gian hoặc lịch sử. Mỗi xã hội đều có nền văn hóa riêng.
Rất khó để chúng ta định nghĩa văn hóa một cách chính xác, nhưng chúng ta luôn có thể hiểu và cảm nhận được nó. Văn hóa quyết định rõ ràng cách xã hội ứng xử, và đôi khi rất khó để nhìn thấy tác động của văn hóa đó. Nói chung, văn hóa có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi quyết định. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Một tổ chức hay doanh nghiệp cũng có thể được coi là một mô hình thu nhỏ của xã hội vì chúng đều được tạo ra bởi một nhóm người.
Họ phân biệt bản thân bằng ranh giới của họ với các nhóm khác. Làm việc cùng nhau, mọi người dần dần tạo ra cách riêng của họ, được coi là một thói quen và đôi khi là một cách hiển nhiên - bằng cách hòa nhập với những người khác trong tổ chức để đạt được mục tiêu chung. Đây có thể hiểu là nét văn hóa riêng của tổ chức, doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp, là một phần của văn hóa chung, là một phạm trù tương đối hẹp về một khía cạnh của hoạt động kinh doanh cụ thể, nơi hình thành và nuôi dưỡng những giá trị này.
Văn hóa doanh nghiệp là đối tượng được nhiều chuyên ngành quan tâm và nghiên cứu nên có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa doanh nghiệp. Theo tác giả Dương Thị Liễu (2008): “Văn hóa doanh nghiệp là tất cả những giá trị tinh thần mang tính đặc trưng của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến tình cảm, lý trí và hành vi của mọi thành viên trong doanh nghiệp” (Dương Thị Liễu, 2008). Theo tác giả Phạm Xuân Nam (1996): “Văn hóa doanh nghiệp là hệ thống các ý nghĩa, niềm tin chủ đạo, tư tưởng và cách suy nghĩ được mọi thành viên trong tổ chức thống nhất và có ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của tổ chức. ở mức độ nào đó là hành vi của các thành viên của cá nhân trước đó ”(Phạm Xuân Nam, 1996, tr.
Chuyên gia tổ chức Edgar Schein (2016) đưa ra một định nghĩa phổ biến và được nhiều người chấp nhận: "Văn hóa doanh nghiệp là tổng thể các khái niệm chung mà các thành viên của một công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và giải quyết các vấn đề ngoại vi". Luan van 11 Trong khuôn khổ bài báo này, các tác giả đồng ý với cách hiểu chung nhất về Ph. Đỗ Minh Cường (2001): "Văn hóa doanh nghiệp là một dạng văn hóa tổ chức bao gồm các giá trị và các yếu tố văn hóa do doanh nghiệp tạo ra trong quá trình sản xuất, hoạt động và sáng tạo. Doanh nghiệp xác định và tác động đến tình cảm, tính hợp lý, và hành vi của tất cả các thành viên của nó.
”(Đỗ Minh Cường, 2001, tr. Đặc điểm văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp có thể hiểu là “nhân cách” của doanh nghiệp. Ở mỗi cá nhân, tính cách giúp phân biệt người này với người khác, “văn hóa” cũng là bản sắc riêng giúp một doanh nghiệp hoạt động trong cùng lĩnh vực với các doanh nghiệp khác và cung cấp những dịch vụ độc đáo, những sản phẩm tương tự ra thị trường. VHDN có 3 đặc điểm: Trước hết, văn hóa doanh nghiệp là “con người”: việc tập hợp một nhóm người trong một tổ chức để cùng làm việc sẽ hình thành thói quen và đặc điểm của đơn vị.
Vì vậy, văn hóa doanh nghiệp có thể được hình thành một cách tự phát hoặc tự nguyện. Theo thời gian, những thói quen này sẽ trở nên rõ ràng và hình thành nhân cách của ĐVTN. Do đó, một doanh nghiệp, dù muốn hay không, dần dần phát triển văn hóa của tổ chức của mình. Khi văn hóa doanh nghiệp được hình thành một cách tự phát, nó có thể phù hợp với mục tiêu và nguyện vọng phát triển của tổ chức.
Nếu một doanh nghiệp muốn văn hóa của mình thực sự phục vụ cho định hướng phát triển chung và góp phần tạo nên sức mạnh cạnh tranh của chính mình thì việc chủ động tạo ra những giá trị văn hóa lý tưởng là điều cần thiết. Thứ hai, văn hóa doanh nghiệp có “giá trị”: văn hóa doanh nghiệp không có tốt hay xấu, riêng lẻ, cũng không tốt hay xấu. Chỉ có một nền văn hóa phù hợp hoặc không phù hợp với định hướng của doanh nghiệp. Giá trị là kết quả của sự đánh giá của chủ thể đối với đối tượng theo một hay nhiều thang đo nhất định, và những phán đoán này được thể hiện dưới dạng đúng-sai, tốt-xấu, đẹp-xấu,… nhưng vốn dĩ không phù hợp.
Giá trị cũng là một khái niệm tương đối phụ thuộc vào chủ thể, không gian và thời gian. Trên thực tế, mọi người thường áp đặt giá trị của mình, giá trị của tổ chức, của người khác, của đơn vị nên rất dễ đưa ra những nhận định đúng sai về văn hóa của một công ty. Luan van 12 Thứ ba, văn hóa doanh nghiệp có tính “ổn định”: cũng giống như tính cách của mỗi người, một khi đã hình thành văn hóa doanh nghiệp thì rất khó thay đổi. Theo thời gian, các hoạt động khác nhau của các thành viên trong công ty sẽ góp phần tích tụ niềm tin và giá trị, hình thành nên văn hóa.
Sự tích lũy các giá trị tạo ra sự ổn định văn hóa. Vai trò của văn hoá doanh nghiệp đối với sự phát triển chung của doanh nghiệp trong thời đại kinh tế số. Nói về văn hóa doanh nghiệp chúng ta có thể hiểu rằng: nếu như cơ sở vật chất, trang thiết bị được coi là “phần xác” thì văn hóa doanh nghiệp chính là “phần hồn” trong mỗi doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp là một tài sản vô cùng quý giá góp phần tạo nên hình ảnh, uy tín và sức mạnh to lớn của doanh nghiệp.
Thời đại công nghệ 4.0 hay cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang gõ cửa từng nhà, từng nền kinh tế trên toàn cầu. Cuộc cách mạng này mang đến cơ hội và thách thức dành cho các doanh nghiệp cũng như các công ty tại Việt Nam và các nước trên thế giới. “Chuyển đổi số” từ lâu đã trở thành vấn đề cấp thiết trong quá trình vận hành của các doanh nghiệp, nó không còn là thời kỳ mà chúng ta tự hỏi “Liệu tổ chức có nên trải qua chuyển đổi số hay không?” mà đã trở thành “Chúng ta phải thực hiện chuyển đổi số khi nào”. VHDN ảnh hưởng lớn đến quá trình chuyển đổi số bởi nó chính là tinh thần, cách nghĩ, hành động, giá trị, đạo đức, mục đích của DN.
VHDN chính là môi trường cho chuyển đổi số. Bởi văn hóa tác động trực tiếp tới yếu tố con người trong doanh nghiệp, văn hóa không đủ mạnh có thể dẫn đến sự phản đối, thậm chí là chống lại của nhân sự đối với sự thay đổi. Kéo theo đó là tính hiệu quả cũng như lợi nhuận không được đảm bảo trong quá trình đầu tư chuyển đổi. Đây cũng là nguyên nhân để khẳng định rằng văn hóa mới là chìa khóa nền tảng, là “kẻ cầm đầu” trong chuyển đổi số trong doanh nghiệp.
Vai trò của VHDN trong thời đại kinh tế số thể hiện ở một số khía cạnh như sau: Tạo lợi thế cạnh tranh: Chuyển đổi số tạo ra những cơ hội kinh doanh mới cho DN. Các DN mạnh dạn đưa ra những sáng kiến mới, phát huy tính sáng tạo của nhân viên và không ngại sự thất bại. Khi một ý tưởng không thành công, DN sẽ nhanh Luan van 13 chóng chuyển sang ý tưởng mới, thúc đẩy sản phẩm dịch vụ mới. Sự thay đổi này được đánh giá nhanh chóng bởi thông qua các phương tiện máy tính, điện thoại thông minh… sản phẩm sẽ đến thẳng khách hàng mà không phải qua bất kỳ một công đoạn trung gian nào.
Sự tham gia tương tác của khách hàng, đánh giá sau mỗi trải nghiệm là những thông tin cầ thiết và đáng trân trọng để cải thiện tình hình. Các DN có thể tạo ra các sản phẩm giống nhau dựa trên công nghệ nhưng văn hóa của mỗi DN thì khác nhau.