CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về văn hóa doanh nghiệp 1. Khái niệm về văn hoá doanh nghiệp Văn hóa - như có học giả đã nói, đó là cái cân bằng khi xã hội có nhiều nguy cơ biến động. Hoặc có thể hiểu nôm na rằng, mọi vật chất có thể mất đi, cái còn đọng lại chính là văn hóa.
Bất kể quốc gia nào, tổ chức nào, giáo phái nào muốn trường tồn thì phải có văn hóa riêng và doanh nghiệp cũng không nằm ngoài quy luật đó. Trong điều kiện hội nhập, cạnh tranh trên một môi trường ngày càng phẳng, văn hóa doanh nghiệp càng trở nên quan trọng. Văn hóa doanh nghiệp hiện nay đang là đề tài tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn của giới doanh nghiệp, các nhà quản lý và trên phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, văn hóa doanh nghiệp là gì, thì không phải doanh nghiệp nào cũng thấu hiểu, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Trước hết, khái niệm văn hóa doanh nghiệp nói riêng và văn hóa nói chung là rất khó phân định, bởi có đến hàng trăm định nghĩa về văn hóa. Song, có thể hiểu văn hóa theo các cách sau: Theo ngôn ngữ của phương Tây, thì văn hóa có nghĩa là tạo dựng, giữ gìn và chăm sóc. Trong nhân loại học và xã hội học, khái niệm văn hóa được đề cập đến theo một nghĩa rộng nhất, đó là bao gồm tất cả mọi thứ vốn là một bộ phận trong đời sống con người. Văn hóa không chỉ là những gì liên quan đến tinh thần mà bao gồm cả vật chất.
Theo đó, có thể hiểu văn hóa doanh nghiệp như là các giá trị tinh thần, vật chất và tri thức… được xây dựng trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, trở thành quan niệm, tập quán, truyền thống của doanh nghiệp đó. Trên thế giới có một số định nghĩa văn hoá doanh nghiệp như sau: 1. Phẩm chất riêng biệt của tổ chức được nhận thức phân biệt nó với các tổ chức khác trong lĩnh vực. Văn hóa thể hiện tổng hợp các giá trị và cách hành xử phụ thuộc lẫn nhau phổ biến trong doanh nghiệp và có xu hướng tự lưu truyền, thường trong thời gian dài.
Văn hóa doanh nghiệp là những niềm tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tương đối ổn định trong doanh nghiệp. Theo UNESSCO: "Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và của mỗi cộng đồng) đã diễn ra Luan van 11 trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao nhiêu thế kỷ nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống, và dựa trên đó, từng dân tộc đã khẳng định bản sắc riêng của nước mình”(Văn hóa và văn hóa doanh nghiệp, NXB lao động, Hà Nội, 2001). Trong bài “Xây dựng văn hóa doanh nghiệp - Yếu tố quyết định sự trường tồn của doanh nghiệp”của TS Phan Quốc Việt & Ths. Nguyễn Huy Hoàng, Trung tâm Phát triển Kỹ năng Con người Tâm Việt được đăng trên tạp chí Doanh nhân thành đạt đã trích dẫn khái niệm VHDN của N.Demetr - nhà xã hội học người Pháp như sau: “Văn hóa doanh nghiệp - đó là hệ thống những quan niệm, những biểu tượng, những giá trị, và những khuôn mẫu hành vi được tất cả các thành viên trong doanh nghiệp nhận thức và thực hiện theo.
Điều đó có nghĩa là trong DN tất cả các thành viên đều gắn bó với nhau bởi những tiêu chí chung trong hoạt động sản xuất kinh doanh”. Tóm lại, VHDN gồm những nội dung sau: - VHDN là toàn bộ hệ thống các chuẩn mực về tinh thần và vật chất quy định mốí quan hệ, thái độ và hành vi ứng xử của tất cả các thành viên trong DN, hướng tới những giá trị tốt đẹp được xã hội đồng tình, tạo ra nét riêng độc đáo đồng thời là sức mạnh lâu bền của DN thể hiện qua sức mạnh sản phẩm của DN. Những chuẩn mực đó được quy định trên cơ sở đặc điểm riêng về loại hình, ngành hàng của từng DN và các thể chế văn hóa xã hội nơi DN hoạt động. VHDN tạo nên thương hiệu, đó là hình tượng về chất lượng hàng hóa, dịch vụ của DN, đồng thời nó cũng "đúc”nên những nét nhân cách, phong thái riêng rất dễ nhận ra của các thành viên của DN trong xã hội.
- VHDN là toàn bộ các giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của DN, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của DN ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của DN trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích; Là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của DN, là sự tổng hợp các giá trị, các tiêu chuẩn, các thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức. Luan van 12 - VHDN là lực lượng vất chất và tinh thần của DN. Sự kết hợp hài hoà các yếu tố cần thiết trong mỗi DN để tạo ra bầu không khí làm việc hăng say của người lao động, tạo ra nhiều của cải vật chất để mọi người lại tiếp tục lao động sáng tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng tốt hơn. VHDN còn được coi là nền tảng để phát triển DN, được cấu thành bởi mục đích và phương pháp kinh doanh, là tổng hoà các quan niệm về giá trị được tạo ra từ đạo đức, ý tưởng, triết lý, mục đích và phương pháp kinh doanh.
- VHDN là trạng thái tinh thần và vật chất đặc sắc của một DN được tạo nên bởi hoạt động quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh của DN trong một điều kiện lịch sử xã hội nhất định. VHDN tạo được sự khích lệ, động lực cho mọi người và trên hết tạo nên khí thế của một tập thể chiến thắng. Các cấp độ văn hóa doanh nghiệp (Edgar H. Schein) Văn hóa doanh nghiệp được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, từ dễ nhận biết đến ẩn sâu trong tiềm thức của tập thể mà phải qua thời gian dài mới hình dung ra được.Schein, văn hoá doanh nghiệp có thể chia thành 3 mức độ khác nhau.
Nguồn: Giáo trình văn hoá kinh doanh, 2011 Sơ đồ 1.1: Sơ đồ các cấp độ văn hoá doanh nghiệp 1. Cấp độ thứ nhất Những sản phẩm hữu hình của Doanh nghiệp bao gồm những quá trình và cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp bao gồm tất cả những hiện tượng và sự vật mà một Luan van 13 người có thể nhìn, nghe và cảm nhận khi tiếp xúc với một tổ chức có nền văn hoá xa lạ như: Kiến trúc, cách bài trí, công nghệ, sản phẩm; Các văn bản quy định nguyên tắc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; Lễ nghi và lễ hội hàng năm; Các biểu tượng, logo, khẩu hiệu, tài liệu quảng cáo của doanh nghiệp; Ngôn ngữ, cách ăn mặc, phương tiện đi lại, chức danh, cách bộc lộ cảm xúc, hành vi ứng xử thường thấy của các thành viên và các nhóm làm việc trong doanh nghiệp; Những câu chuyện và huyền thoại về tổ chức; Hình thức mẫu mã của sản phẩm; Thái độ và cung cách ứng xử của các thành viên doanh nghiệp. Đặc trưng cơ bản của lớp văn hoá này là rất dễ nhận thấy nhưng lại rất khó giải đoán được ý nghĩa đích thực, cũng giống như đối với những Kim tự tháp của người Ai Cập cổ và người Maya, là người đứng ngoài quan sát chúng ta chỉ có thể nhận ra chúng đều là những Kim tự tháp có hình dạng giống nhau, chứ không hiểu được ý nghĩ a bên trong khác nhau của chúng: đối với người Ai cập cổ thì Kim tự tháp là lăng mộ của các vị vua Pharaon; trong khi đối với người Maya thì Kim tự tháp lại là vừa là lăng mộ vừa là chốn đền thờ linh thiêng. Nói cách khác, người quan sát có thể mô tả những gì họ nhìn thấy và cảm thấy khi bước chân vào một doanh nghiệp nhưng lại không hiểu được ý nghĩa thực sự ẩn sau nó (chính là lớp văn hoá thứ ba).
Để hiểu được ý nghĩa đó họ phải thực sự hoà nhập vào cuộc sống trong doanh nghiệp một thời gian đủ dài và cách tốt nhất là tìm hiểu những giá trị, thông lệ và quy tắc được thừa nhận trong doanh nghiệp, vốn là kim chỉ nam cho hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp đó. Trên cơ sở đó, có thể chia lớp thứ nhất thành các nội dung sau: 1. Cách trang trí doanh nghiệp, đồng phục, các khẩu hiệu, bài ca của doanh nghiệp, tập quán, tôn giáo cũng như các truyền thuyết, giai thoại về các nǎm tháng gian khổ và vinh quang của doanh nghiệp, về nhân vật anh hùng của doanh nghiệp (nhất là hình tượng người thủ lĩnh khởi nghiệp). Các nếp ứng xử giữa các thành viên trong doanh nghiệp với nhau.
Các hành vi giao tiếp đối với khách hàng và đối tác kinh doanh. Cấp độ thứ hai Những tư tưởng, giá trị mà doanh nghiệp công bố, chia sẻ gồm các giá trị được chấp nhận bao gồm những chiến lược, mục tiêu và các triết lý của doanh nghiệp trong quá trình giải quyết các vấn đề để thích ứng với bên ngoài và hội nhập vào bên trong tổ chức. Những người khởi xướng, sáng lập ra doanh nghiệp và nhà lãnh đạo kế cận khi đề ra các quy định, nguyên tắc, triết lý, tư tưởng. đều yêu cầu mọi thành viên phải tuân theo.
Trải qua thời gian áp dụng, các quy định, nguyên tắc, triết lý, tư tưởng. đó sẽ dần trở thành niềm tin, thông lệ và quy tắc ứng xử chung mà mọi thành viên đều thấm nhuần, tức là trở thành “những giá trị được chấp nhận”. Những “giá trị được chấp nhận”cũng có tính hữu hình vì người ta có thể nhận biết và diễn đạt chúng một cách rõ ràng, chính xác. Chúng thực hiện chức năng hướng dẫn cho các thành viên trong doanh nghiệp cách thức đối phó với một số tình thế cơ bản và rèn luyện cách ứng xử cho các thành viên mới trong môi trường doanh nghiệp.
Hệ thống các giá trị này trở thành hiện thân của triết lý kinh doanh và là kim chỉ nam cho doanh nghiệp khi phải đối phó với những tình huống khó khăn. Nó gồm có: Những nguyên tắc và giá trị mà tổ chức phấn đấu đạt tới; Triết lý kinh doanh của doanh nghiệp.