CHƯƠNG 1 NHUNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BAN VE VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Van hóa Văn hóa là một khái niệm rộng lớn, bao trùm mọi mặt hoạt động cua xã hội, mọi lĩnh vực của cuộc sống, của cộng đồng, tới từng gia đình và các cá nhân. Văn hoá là một khái niệm đa nghĩa.
Thông thường, trong cộng đồng văn hoá được hiểu là trình độ học vấn, lối song, đạo đức,. Văn hoá là một vấn đề đa dạng, trừu tượng nên đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá: Theo các nhà văn hoá thì: “ Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”. Khái niệm về văn hóa thì có nhiều song khái niệm rộng nhất về văn hoá có lẽ là của Edouard Heriot, theo ông: “Văn hoá là cái còn lại sau khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn còn thiếu sau khi người ta đã học tất cả ”4]. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hoá là toàn bộ những giá tri vật chất và tinh than do loài người tạo ra trong lịch sử của mình trong mối quan hệ với con người, với tự nhiên và với xã hội”[3|.
Tổng giám đốc UNESCO - Frederico Mayor đưa ra một định nghĩa về văn hoá tại Hội nghị liên chính phủ về chính sách văn hoá năm 1970 tại Viense: “Văn hoá là tổng thé sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc”[2]. Theo khái niệm này, ý nghĩa của văn hoá được nâng cao trở thành yếu tố làm nên sự khác biệt giữa các quôc gia song lại được diện giải rat gan gũi va chi tiét va được cộng đồng quốc tế cũng như nhiều nhà nghiên cứu xã hội học hiện nay thừa nhận. Các khái niệm Đề cập đến khái niệm “Văn hóa doanh nghiệp” đã có rất nhiều ý kiến khác nhau.
Trước khi hai khái nệm “Văn hóa” và “doanh nghiệp” được ghép lại với nhau, đã có hàng chục định nghĩa khác nhau về văn hoá. Khi kết hợp “Văn hóa” với “doanh nghiệp” thì nghĩa của nó đã được thu hẹp đi rất nhiều. Tuy nhiên cụm từ “Văn hóa doanh nghiệp” vẫn có rất nhiều định nghĩa khác nhau. Cụ thể là: Theo Jaques (1952): Văn hóa của một doanh nghiệp là cách tư duy và hành động hàng ngày của các thành viên.
Đó là điều mà các thành viên phải học và ít nhiều phải tuân theo để được chấp nhận vào doanh nghiệp đó. Văn hóa theo nghĩa này bao gồm một loạt các hành vi ứng xử, các phương thức sản xuất, kỹ năng và kiến thức kỹ thuật, quan điểm về kỷ luật, các thông lệ và thói quen quản lý, các mục tiêu của những người liên quan, cách trả lương, quan điểm về các công việc khác nhau, niềm tin vào tính dân chủ trong các buồi thảo luận và những quy ước, những điều cắm ky Theo Denison (1990): VHDN chỉ những giá tri, tín ngưỡng va nguyên tắc bên trong tạo thành nên tang của hệ thông quản lý doanh nghiệp, cũng như một loạt các thủ tục quản lý và hành vi ứng xử minh chứng và củng cố cho những nguyên tắc cơ bản này. Theo tô chức lao động quốc tế (ILO): “VHDN là sự trộn lẫn đặc biệt các giá tri, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một t6 chức đã biết”[4]. Một định nghĩa phổ biến và được chấp nhận rộng rãi do chuyên gia nghiên cứu các tô chức Edgar Schein đưa ra: “VHDN là tổng hợp các quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các van đề nội bộ và xử lý các van đề với môi trường xung quanh” [4].
Là một khái niệm trừu tượng và có nhiều cách hiểu khác nhau, tuy nhiên có thé hiểu VHDN theo nghĩa day đủ như sau: VHDN là toan bộ các giá trị vật chất và tinh thần được gây dựng nên trong suốt quá trình hình thành, ton tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các gia tri, quan niệm và tập quán và truyền thống ăn sâu vào hoạt động của DN và chi phối đến tình cảm, nếp suy nghĩ, niềm tin, lý tưởng và hành vi của mọi thanh viên của DN trong việc thực hiện và theo đuôi các mục tiêu.VHDN là một trong những yếu tố gắn kết lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, hướng hành vi cá nhân vào việc thực hiện tốt nhất mục tiêu và sự kỳ vọng của doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp là tai sản vô hình nhưng vô giá, được thé hiện qua phong cách lãnh đạo và tác phong làm việc của nhân viên. Văn hóa doanh nghiệp có vị trí và vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của mỗi doanh nghiệp, bởi bat kỳ một doanh nghiệp nao nếu thiếu đi yếu tố văn hóa, ngôn ngữ, tư liệu, thông tin nói chung được gọi là tri thức thì doanh nghiệp đó khó có thé đứng vững và ton tại được. Trong khuynh hướng xã hội ngày nay thì các nguồn lực của một doanh nghiệp là con người mà văn hóa doanh nghiệp là cái liên kết và nhân lên nhiều lần các giá trị của từng nguồn lực riêng lẻ.
Như vậy, VHDN là sản phẩm của những người làm cùng trong một doanh nghiệp và đáp ứng nhu cau giá trị bền vững. VHDN xác lập một hệ thống các giá trị được mọi người trong DN chấp nhận, đề cao, chia sẻ và ứng xử theo các giá trị đó. VHDN tạo nên sự khác biệt cho DN và được coi là bản sắc riêng của mỗi DN. VHDN hay VH tổ chức còn được hiéu là một hệ thống hữu cơ các giá tri, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi do các thành viên trong DN đó sáng tạo và tích lũy trong quá trình tương tác với môi trường bên ngoài và hội nhập bên trong tô chức.
Trong quá trình đó, nó đã có hiệu lực và được coi là đúng đắn; do đó, được chia sẻ và phô biến rộng rãi giữa các thế hệ thành viên như một phương pháp chuẩn mực dé nhận thức, tư duy và cảm nhận trong mối quan hệ với các vấn đề mà họ phải đối mặt. Cách tiếp cận này nhấn mạnh đến ba van dé quan trọng: Thứ nhất: Các giá trị VHDN phải là một hệ thống có quan hệ chặt chẽ với nhau, được chấp nhận và phô biến rộng rãi giữa các thành viên trong DN. Sự tương tác giữa các giá trị VH sẽ tạo ra những đặc trưng nhất định của mỗi nền VH. Như vậy, khi xây dựng VHDN, DN phải hiểu rõ mục tiêu của mình là xây dựng một nền VH như thé nào và xác định các giá trị phù hợp với mục tiêu đó.
Thứ hai: Hệ thống các giá trị VH phải là kết quả của quá trình lựa chọn hoặc sáng tạo của chính thành viên bên trong DN, trong đó người sáng tạo và lãnh đạo đóng vai trò quyết định trong quá trình đó. Sự lựa chọn như vậy sẽ tạo ra bản sắc VH khác biệt giữa các tổ chức. Các giá trị này phải được kiểm nghiệm qua thực tế và đã chứng tỏ được sự ảnh hưởng tích cực đối với hiệu quả hoạt động của DN. Thứ ba: Các giá trị VHDN phải có một sức mạnh đủ để tác động đến nhận thức, tư duy và cảm nhận của các thành viên trong DN đối với các vấn dé và quan hệ của DN.
Nói cách khác, các giá trị VHDN chỉ được tồn tại khi các thành viên trong tổ chức đó sử dụng như những chuẩn mực trong nhận thức, tư duy, cảm nhận và hành động, xác định những ưu tiên, tốt, xấu. Những giá trị có khả năng ảnh hưởng như vậy là kết quả của một quá trình tác động lâu dài và liên tục của ban lãnh đạoDN. Trong các DN, phần nhiều các giá trị VHDN ban đầu được thể hiện thông qua các quy tắc, các quy định có tính chất bắt buộc nhưng khi được chấp nhận rộng rãi thì chúng lại trở thành những giá trị, những chuẩn mực và nguyên tắc bất thành văn chi phối hành vi của mọi thành viên trong tổ chức. Khi đó, VHDN sẽ đóng vai trò như một "hệ điều hành" của DN, tức là nó có tác động điều chỉnh từ các hoạt động thường nhật, sự phối hợp giữa các cá nhân, các bộ phận cho đến việc chọn lựa chiến lược hoạt động, cơ cau tô chức, khả năng thích ứng hay sự ổn định của một DN.
Do đó, VHDN có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả hoạt động, khả năng cạnh tranh và sự phát triển bền vững của mỗi DN[1]. Các biểu hiện của văn hóa doanh nghiệp VHDN được cấu thành từ 3 yếu tố, mỗi yếu tố được biểu hiện với những đặc điểm, hình thức khác nhau nhưng đều có một mục đích chung là thé hiện được đặc trưng VH của tổ chức và lan truyền VH ấy tới các thành viên trong tô chức.Schein, đề cập trong cuốn sách của ông mang tên “The corporate culture survival guide”, văn hoá doanh nghiệp có ba tầng giá tri: các gia tri hữu hình, các gia tri được chấp nhận và các giá tri nên tảng. Cấp độ I - Những giá trị văn hóa hữu hình Những giá trị văn hóa hữu hình là những cái thé hiện được ra bên ngoài ro rang, dễ nhận biết nhất của VHDN. Các thực thể hữu hình mô tả một cách tong quan nhất môi trường vật chất và các hoạt động xã hội trong một doanh nghiệp.
Bao gồm các hình thức cơ bản sau: 1. Kiến trúc đặc trưng và điện mạo doanh nghiệp Được coi là bộ mặt của DN, kiến trúc và điện mạo luôn được các DN quan tâm, xây dựng. Kiến trúc, diện mạo bề ngoài sẽ gây ấn tượng mạnh với khách hàng, đối tác. về sức mạnh, sự thành đạt và tính chuyên nghiệp của bat ky DN nao.
Dién mao thé hiện ở hình khối kiến trúc, quy mô về không gian của DN. Kiến trúc thé hiện ở sự thiết kế các phòng làm việc, bố trí nội thất trong phòng, màu sắc chủ đạo,.Tất cả những sự thể hiện đó đều có thé làm nên đặc trưng cho DN. Thực tế cho thấy, cấu trúc và điện mạo có ảnh hưởng đến tâm lý trong quá trình làm việc của người lao động.