đặt vấn đề “so với ngôn ngữ đơiợc sử dụng trong đời sống thì ngôn ngữ trong văn bản QLNN có điểm gì khác biệt trong khi ngôn ngữ trong văn bản QLNN vẫn sử dụng phần lớn các từ ngữ, các mô hình câu,. của ngôn ngữ bình thơjờng. Điểm khác biệt lớn nhất trong văn bản QLNN là việc sử dụng nhiều phép lặp từ vựng nhằm đảm bảo tính chính xác của văn bản QLNN”. [Dẫn theo Nguyễn Van Khang, 2014, tr.501] [41] Tiếp sau cOng trinh The Language of the Law cia Melinkoff, nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ văn bản QLNN đơjợc công bố.
Tựu chung lại có thé thay một số khuynh hojớng nghiên cứu cơ bản: Khuynh hojớng thứ nhất tập trung phân chia thể loại ngôn ngữ văn bản QLNN. Một trong những tác giả tiêu biểu của khuynh hojớng này là Bhatia (1987)[65]. Theo ông, từ góc độ ngôn ngữ, các văn bản QLNN có thê đojợc chia thành nhiều tiểu loại khác nhau, tùy thuộc vào mục đích giao tiếp trong từng ngữ cảnh cụ thé, vào các sự kiện hoặc hoạt động giao tiếp liên quan, mối quan hệ xã hội hoặc mối quan hệ chuyên môn giữa các thành viên tham dự vào các hoạt động giao tiếp, phụ thuộc vào tri thức chung giữa các thành viên tham gia quá trình giao tiếp và nhiều yếu tố khác nữa. Sự khác biệt giữa các tiểu loại nay doje phan ánh trong vốn từ 10 fo we vung — ngit phdp.
Khuynh hojớng thứ hai tập trung nghiên cứu chức năng ngôn ngữ văn bản QLNN, chẳng hạn, Heikki E. Các nghiên cứu văn bản QLNN với mục đích phục vụ công việc dịch thuật cũng thu hút dojge su quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa, đáp ứng nhu cầu trao đổi văn hóa, giao thojơng giữa các quốc gia. Đặc biệt khi trên thế giới đang hình thành những cộng đồng kinh tế chung thì hoạt động dịch thuật dé tìm hiểu hệ thống văn bản QLNN của từng quốc gia là hết sức cần thiết. Alcaraz Varo trong công trình nghiên cứu “ Dịch thuật pháp luật” (Legal translation) [87] quan tâm đến những “lỗ hồng” trong dịch thuật ngôn ngữ văn bản QLNN và những chủ đề gây tranh cãi khi chuyển ngữ giữa hai hệ thống văn bản QLNN khác nhau.
Ông cũng đề xuất khá nhiều phojơng pháp đa dạng nhằm hỗ trợ công việc của mà các nhà dịch thuật. Cùng mối quan tâm với Alcaraz Varo, tác giả Alenka Kocbek của đại học Primorska đã công bố bài “Khung văn hóa của các văn bản QLNN” (The Cultural Embeddedness of Legal Texts) [76] đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và dịch thuật (Journal of Language & Translation) số 9 ngày 2/9/2008. Bài viết đề cập đến vai trò của khung văn hóa trong hoạt động dịch thuật ngôn ngữ văn bản QLNN từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích, trong bối cảnh tiếng Anh vốn đoợc coi là ngôn ngữ chung trên toàn thế giới. Tác giả đã đề xuất một số giải pháp cho sự không tơJơng ứng về những khái niệm và thuật ngữ QLNN trong các ngôn ngữ nhơi sáng tạo ra những thuật ngữ mới và nâng cao hiéu biết về văn bản QLNN của ngôn ngữ đích.
Những kết quả của hojớng nghiên cứu này có thể ứng dụng vào việc dạy và học phong cách ngôn ngữ văn bản QLNN trong các trojờng luật, troJờng hành chính, hữu ích với cả những dịch giả trong lĩnh vực ngôn ngữ văn bản QLNN, 11 những luật sơi có nhu cầu tìm hiểu thông tin về hệ thống văn bản QLNN. Nói chung, những nghiên cứu này đóng góp vào việc nâng cao hiểu biết về QLNN, hữu ích cho ngojời làm công tác xây dựng văn bản QLNN và ngơjời sử dụng văn bản QLNN. Nghiên cứu văn bản quản lý nhà nóc (QLNN) ở Việt Nam Với đặc thù của văn bản QLNN, đặc biệt tầm quan trọng của kiểu loại văn bản này trong xã hội, trực tiếp tham gia vào công tác quản lý nhà nojớc, văn bản QLNN đã đojợc không ít nhà nghiên cứu quan tâm từ các góc độ khác nhau. Bản thân việc xác định nội hàm cùòng những đặc trơing cơ bản của thuật ngữ văn bản QLNN đã đơiợc thực hiện trong các tài liệu chính thức của bộ Nội vụ, trong các giáo trình giảng dạy về quản lý hành chính của nhiều trojong dai hoc va cao dang.
Tuy vậy, với toi cách là một đối tojợng nghiên cứu, các văn bản QLNN đoJợc quan ân theo hai khuynh hơjớng chủ yếu sau: 1. Khuynh hgớng nghiên cứu văn bản quản lý nhà ngớc với tg cách là mã kiểu loại trong phong cách hành chính Nghiên cứu văn bản QLNN từ cách tiếp cận phong cách chức năng có thể nói là một trong những khuynh hojớng đầu tiên. Khi nghiên cứu các văn bản QLNN dojới góc độ của phong cách học, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thojờng xếp chúng vào kiểu loại phong cách hành chính — công vụ với những đặc trong chung của các văn bản thuộc thê loại này. Voong Đình Quyền, Nguyễn Văn Hàm (1997) trong giáo trình Văn bản và lam trữ đại cgjơøng (NXB Giáo dục) [49] thì gọi các văn bản Hiến pháp, bộ luật, luật, pháp lệnh, nghị định, thông tơi bằng một tên chung là văn bản quản lí hành chính nha nojéc.
Cac tác giả Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (1997) trong giáo trình hong cách học tiếng Việt (ÑXB Giáo dục) [42] và Lơiu Kiếm Thanh (2010) trong Ngôn ngữ văn bản quản lý hành chính nhà ngóc (NXB Khoa học và Kỹ thuật) [Š1] đều xếp tắt cả VBQLNN vào phong cách hành chính - công vụ. Nguyễn Hữu Đạt [22] xác định các văn bản nhoỊ: Hiến pháp, các bộ luật, sắc 12 lệnh, nghị định.là một tiêu loại của phong cách hành chính-công vụ. Trong công trình của mình, tác giả chỉ rõ, đây là phong cách đơxợc sử dụng dé trao déi những công việc hành chính sự vụ hàng ngày giữa các cơ quan hành chính, các đoàn thể, các cấp từ trung ơJơng xuống địa phoJơng với các thành viên và bộ phận xã hội œö liên quan. Tác giả còn chỉ ra một số đặc điểm của phong cách này là tính khuôn mẫu đồng loạt; tính phi biéu cảm; tính hệ thống, đồng bộ và thống nhất; tính ngắn gọn, súc tích và không đa nghĩa; tính trang trọng và tính quốc tế; tính quy ojớc và khả biến theo thời gian.
Cù Đình Tú (1982) trong hong cách học tiếng Việt [60] cũng xếp các văn văn bản Hiến pháp, luật, bộ luật, điều lệ, nội quy.vào phong cách hành chính tiếng Việt và chỉ ra những đặc điểm riêng của phong cách này là mang tính thể thức, nghiêm trang về hình thức. Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa đã có những nghiên cứu sâu và hệ thống hơn đối với ngôn ngữ của thê loại VBQLNN. Hai tác giả này cũng xếp các văn bản QLNN thuộc phong cách hành chính - công vụ, thuộc kiêu văn bản pháp quyền, đối lập với các kiểu văn bản quân sự, ngoại giao và văn tho. Cac tac giả này cũng chỉ ra một cách chỉ tiết chức năng và đặc trong của cả phong cách hành chính công vụ.
Về chức năng ngôn ngữ, phong cách này thực hiện hai chức năng chính là chức năng thông báo và chức năng sai khiến. Hai chức năng này tạo cho các văn bản hành chính - công vụ một màu sắc phong cách, đặc biệt là sự bắt buộc thi hành đều đơjợc thông báo. Về đặc điểm ngôn ngữ, theo Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa, loại văn bản này mang tính chính xác, minh bạch, tính nghiêm khắc khách quan và tính khuôn mẫu cao [42] dịu điểm của các công trình nghiên cứu theo phong cách học đã đoJa ra những đặc trong về ngôn ngữ cho hệ thống văn bản thuộc phong cách hành chính công vụ. Những đặc troịng riêng về ngôn ngữ của nhóm văn bản này giúp phân biệt với các nhóm văn bản khác nhơi văn bản khoa học, báo chí, văn học nghệ thuật.
Khuynh hgớng nghiên cứu văn bản quản lí nhà ngớc từ cách tiến can aia phân tích văn bản/diễn ngôn Nghiên cứu các văn bản QLNN từ góc độ phân tích diễn ngôn gắn liền với sự phát triển của khoa học phân tích diễn ngôn voi to cách là một phân ngành của ngôn ngữ học. Nho] nhiều nhà nghiên cứu phân tích, giai đoạn đầu từ những năm 1980 cho đến những năm 2000 phân tích diễn ngôn chủ yếu tập trung vào ohân tích ngữ pháp văn bản mà cốt lõi là phân tích sự liên kết, cầu trúc, tính mạch lạc của văn bản, trong đó đại điện là một số nhà nghiên cứu nhơi Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Việt Thanh, Diệp Quang Ban, Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu. Trần Ngọc Thêm [57] với “ Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” đã đánh dấu một cột mốc cho sự khởi đầu của ngôn ngữ học văn bản tại Việt Nam, trong đó tập trung khảo sát sự liên kết về mặt nội dung và hình thức của văn bản. Tiếp nối công trình nghiên cứu của nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm là công trình nghiên cứu “Hệ thống liên kết lời nói” của nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Việt Thanh [52] với trọng tâm là tiếp tục nghiên cứu các phojong tiện liên kết hình thức và nội dung trên cơ sở chất liệu lời nói.
Sau đó, hàng loạt chuyên khảo của Diệp Quang Ban đã mang tính tông quát hơn, tiếp cận và giới thiệu những trào lơiu nghiên cứu cơ bản của phân tích diễn ngôn trên thế giới với những đặc trong của từng giai đoạn phát triển, từng hệ vấn đề. Bên cạnh đó, các công trình của Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân [8,11,15] lại có đề cập tới phân tích diễn ngôn dơjới góc độ dụng học. Trong cuốn “Dụng học Việt ngữ” [26] nhà nghiên cứu Nguyễn Thiện Giáp có một chơjơng đề cập đến diễn ngôn và phân tích diễn ngôn. Tác giả đề cập đến các nội dung nhơi ngữ cảnh và ý nghĩa, cấu trúc thông tin, diễn ngôn và phân tích diễn ngôn, điễn ngôn và văn hóa, ngữ dụng học diễn ngôn, dụng học và giao thoa văn hóa.
Nguyễn Hòa là đại diện tiêu biểu cho giai đoạn 3 của nghiên cứu diễn ngôn, nhất quán sử dụng thuật ngữ diễn ngôn. Trong các nghiên cứu của Nguyễn Hòa, yếu tố quyền lực và chức năng tác động của ngôn ngữ đojợc quan tâm nhiều khi đề cập 14 đến diễn ngôn phê phán, một đojờng hojớng phân tích diễn ngôn tập trung vào vấn đề xã hội, nhất là đến vai trò tạo và tái tạo quyền lực của ngôn ngữ trong xã hội. [33,34,35] Tiếp sau những nghiên cứu về mặt lý thuyết là sự xuất hiện của nhiều nghiên cứu ở các mức độ khác nhau khi vận dụng lý thuyết phân tích diễn ngôn vào việc phân tích các thể loại diễn ngôn cụ thê nhơi văn học nghệ thuật, bản báo chí, chính luận, hành chính.