Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn (chuyên ngành Ngôn ngữ học, mã số 62 22 02 40) của tác giả Phan Thị Thu Thủy, với đề tài "Nghiên cứu văn bản quản lý hành chính nhà nước cấp trung ương từ quan hệ liên nhân và chức năng tác động", được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS Vũ Đức Nghiệu tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2020).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Văn bản quản lý nhà nước (QLNN) là công cụ thể hiện thẩm quyền và thực thi các chức năng quản lý xã hội. Trong hệ thống này, văn bản quản lý hành chính của các cơ quan hành chính trung ương (Chính phủ, các Bộ) giữ vai trò điều hành vĩ mô trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh và quốc phòng. Chất lượng xây dựng văn bản quyết định trực tiếp đến hiệu lực và hiệu quả quản lý.

Trong ngôn ngữ học tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu diễn ngôn hành chính trước đây phần lớn dừng lại ở việc khảo sát phong cách chức năng hành chính – công vụ nói chung, hoặc nghiên cứu các thể loại văn bản hành chính thông thường (như báo cáo, tờ trình). Các dạng văn bản quy phạm hành chính cấp trung ương có tính bắt buộc cao như Nghị định của Chính phủ và Thông tư của các Bộ chưa từng được khảo sát chuyên biệt dưới góc độ phân tích diễn ngôn. Đặc biệt, mối quan hệ liên nhân (xác lập vị thế, quyền lực giữa bên ban hành và bên tiếp nhận) cùng chức năng tác động thông qua các phương tiện ngôn từ (hành động ngôn từ, tình thái, cấu trúc lập luận) trong loại hình diễn ngôn này vẫn là khoảng trống nghiên cứu cần được giải quyết một cách có hệ thống.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ các đặc điểm ngôn ngữ của diễn ngôn nghị định và thông tư từ góc độ phân tích diễn ngôn, tập trung vào các phương thức và phương tiện ngôn ngữ biểu thị quan hệ liên nhân và thực hiện chức năng tác động.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (được xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ):
    1. Áp dụng khung lý thuyết dụng học về giao tiếp, quan hệ liên nhân, hành động ngôn từ, lý thuyết lập luận và các vấn đề cơ bản về văn bản hành chính làm cơ sở lý luận cho đề tài.
    2. Vận dụng khung lý thuyết để phân tích quan hệ liên nhân trong diễn ngôn nghị định, thông tư; làm rõ đặc điểm giao tiếp hành chính, các nhân tố giao tiếp, ngữ cảnh hành chính, biểu hiện của quan hệ liên nhân và yếu tố quyền lực.
    3. Khảo sát chức năng tác động trong diễn ngôn nghị định, thông tư; tập trung phân tích các phương tiện tác động của hành động ngôn từ điều khiển và cấu trúc lập luận.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quan hệ liên nhân, chức năng tác động và các phương tiện ngôn ngữ biểu thị hai bình diện này trong diễn ngôn nghị định và thông tư.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung phân tích quá trình giao tiếp hành chính, xác định vai giao tiếp thể hiện qua hành động ngôn từ; khảo sát chức năng tác động qua hành động ngôn từ (tuyên bố, tái hiện, điều khiển) và qua lập luận.
  • Phạm vi ngữ liệu:
    • 203 văn bản quy phạm hành chính cấp trung ương thuộc hai lĩnh vực Giáo dục & Đào tạo (GDĐT) và Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) được ban hành trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2018 (gồm 24 Nghị định của Chính phủ và 179 Thông tư của Bộ GDĐT, Bộ VHTTDL), với tổng dung lượng 1.324 trang văn bản A4.
    • 69 văn bản Tờ trình được thu thập để làm ngữ liệu đối chiếu, so sánh nhằm làm rõ sự khác biệt về quan hệ liên nhân giữa kiểu văn bản mang tính áp đặt quy phạm (nghị định, thông tư) và kiểu văn bản mang tính thỉnh cầu (tờ trình).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu ngôn ngữ trong văn bản QLNN và pháp luật trên thế giới đã hình thành từ sớm với hai nhóm trọng tâm: miêu tả đặc trưng ngôn ngữ và ứng dụng trong dịch thuật.

  • Khởi đầu từ công trình của Mellinkoff (1963) với The Language of the Law, xác lập quan điểm ngôn ngữ pháp luật là sản phẩm nghề nghiệp đặc thù, chỉ ra việc sử dụng phép lặp từ vựng nhằm bảo đảm tính chính xác tuyệt đối. Các tác giả Hager (1960), Prederick Schauder (1982), Maley (1994) tiếp tục mở rộng các phân tích về cấu trúc ngôn ngữ văn bản quản lý.
  • Bhatia (1987, 1993) tiếp cận thể loại ngôn ngữ văn bản QLNN dựa trên mục đích giao tiếp, bối cảnh văn hóa - xã hội và mối quan hệ giữa các thành viên tham gia giao tiếp.
  • Peter Tiersma (1999) trong The Nature of Legal Language phân tích nguồn gốc lịch sử của ngôn ngữ pháp lý tiếng Anh (chịu ảnh hưởng của tiếng La-tinh và tiếng Pháp), chỉ ra các đặc trưng nổi bật như việc sử dụng câu bị động, cấu trúc đa mệnh đề con, phong cách nghi thức, cổ xưa và phi cá thể.
  • Về hướng dịch thuật pháp lý: Alcaraz Varo nghiên cứu các vấn đề chuyển ngữ và khoảng trống thuật ngữ trong Legal Translation; Alenka Kocbek (2008) với bài viết The Cultural Embeddedness of Legal Texts trên Journal of Language & Translation phân tích vai trò của khung văn hóa trong việc xử lý sự bất tương thích thuật ngữ giữa ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích.

Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam

  • Khuynh hướng phong cách học: Xếp văn bản QLNN vào phong cách hành chính – công vụ. Cù Đình Tú (1982) phân tích tính thể thức, nghiêm trang; Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa (1997) phân loại văn bản QLNN thuộc kiểu văn bản pháp quyền, chỉ ra hai chức năng cơ bản là thông báo và sai khiến, cùng các đặc trưng chính xác, minh bạch, nghiêm khắc, khách quan, khuôn mẫu cao; Vương Đình Quyền và Nguyễn Văn Hàm (1997), Lưu Kiếm Thanh (2010), Nguyễn Hữu Đạt phân tích các thuộc tính phi biểu cảm, đồng bộ, quy ước và trang trọng.
  • Khuynh hướng ngữ pháp văn bản và phân tích diễn ngôn:
    • Giai đoạn tập trung vào tính liên kết và cấu trúc văn bản: Trần Ngọc Thêm (1985) với Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, Nguyễn Thị Việt Thanh với Hệ thống liên kết lời nói, Diệp Quang Ban với các chuyên khảo tổng quan về phân tích diễn ngôn, Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Đức Dân tiếp cận dưới góc độ ngữ dụng học.
    • Giai đoạn tiếp cận diễn ngôn và phân tích diễn ngôn phê phán: Nguyễn Thiện Giáp trong Dụng học Việt ngữ dành chương riêng về diễn ngôn, ngữ cảnh và dụng học; Nguyễn Hòa tập trung vào vai trò tạo lập và tái tạo quyền lực của ngôn ngữ trong diễn ngôn.
    • Các công trình chuyên sâu về ngôn ngữ luật pháp và hành chính: Lê Hùng Tiến (1998) nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ luật pháp tiếng Việt (đối chiếu tiếng Anh) dựa trên ngữ pháp chức năng hệ thống; Dương Thị Hiền (2008) ứng dụng phân tích diễn ngôn phê phán so sánh Hiến pháp Hoa Kỳ và Hiến pháp Việt Nam; Nguyễn Thị Hường (2010) khảo sát tính mạch lạc trong báo cáo và tờ trình; Đỗ Thị Thanh Nga (2016) nghiên cứu ngôn ngữ văn bản hành chính thông dụng từ góc độ dụng học; Tống Duy Tình (2015) và Trần Anh Minh nghiên cứu thể thức, thẩm quyền và kỹ năng soạn thảo văn bản dưới góc độ khoa học quản lý.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Mặc dù các nghiên cứu trước đã chỉ ra đặc trưng phi cá thể và khuôn mẫu của văn bản hành chính, nhưng chưa có công trình nào khảo sát trực diện mối quan hệ liên nhân (quan hệ quyền lực dọc giữa bên ban hành có quyền lực nhà nước và bên tiếp nhận phục tùng) cũng như phương thức hiện thực hóa chức năng tác động qua các hành động ngôn từ chuyên biệt và cấu trúc lập luận trong diễn ngôn Nghị định và Thông tư cấp trung ương.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm vận dụng

Luận án vận dụng tích hợp ba mô hình lý thuyết của ngôn ngữ học hiện đại và lý thuyết văn bản quản lý nhà nước:

  1. Lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ và Ngữ pháp chức năng hệ thống:
    • Mô hình giao tiếp 6 nhân tố của Roman Jakobson (1960): Người phát, Người nhận, Thông điệp, Ngữ cảnh, Tiếp xúc, Mã.
    • Mô hình giao tiếp 4 nhân tố của Lyons (1977) (được Đỗ Hữu Châu phát triển): Chủ thể phát (Chủ ngôn) – Thể phát (Người truyền ngôn) – Thể nhận (Người tiếp ngôn) – Chủ thể nhận (Người thụ ngôn).
    • Lý thuyết ba siêu chức năng của M.A.K. Halliday: Chức năng tư tưởng (biểu ý), Chức năng tạo văn bản và Chức năng liên nhân; cùng ba biến số ngữ cảnh tình huống: Trường diễn ngôn (field), Không khí diễn ngôn (tenor), Cách thức diễn ngôn (mode).
    • Khung phân tích quan hệ liên nhân của Gilman: Trục quyền lực (quan hệ dọc, mang tính cố định theo vị thế thể chế) và trục thân hữu (quan hệ ngang, mang tính biến động theo khoảng cách xã hội).
  2. Lý thuyết hành động ngôn từ (Speech Acts):
    • Phân loại ba hành vi của Austin (1962): Hành vi tạo lời (locutionary), Hành vi tại lời (illocutionary), Hành vi mượn lời (perlocutionary).
    • Hệ thống 5 nhóm hành động ngôn từ theo Searle (1969, 1970) dựa trên 4 tiêu chí (đích tại lời, hướng khớp lời - hiện thực, trạng thái tâm lý, nội dung mệnh đề) và 4 điều kiện thỏa mãn/may mắn (felicity conditions): nội dung mệnh đề, chuẩn bị, chân thành, căn bản.
    • Các khái niệm: Lực ngôn trung (illocutionary force), biểu thức ngữ vi (BTNV), phát ngôn ngữ vi, động từ ngữ vi, hành động ngôn từ trực tiếp và gián tiếp.
  3. Lý thuyết lập luận:
    • Khung lý thuyết lập luận của Nguyễn Đức Dân (1998): Cấu trúc 3 thành tố logic gồm Luận cứ/Tiền đề, Kết luận/Kết đề, và Lí lẽ/Luật suy diễn.
    • Phân loại lập luận theo cơ sở lập luận (chuẩn mực và qua ngôn ngữ), theo mục đích (chân lý và thuyết phục), theo phương pháp (lô-gíc hình thức và phi hình thức).
  4. Lý thuyết về văn bản quản lý hành chính nhà nước:
    • Bốn chức năng của văn bản QLNN: Thông tin, Quản lý, Pháp lý, Văn hóa – xã hội.
    • Năm đặc điểm ngôn ngữ: Tính chính xác – minh bạch, Tính mẫu mực và lập khuôn, Tính khách quan, Tính trang trọng lịch sự, Tính phổ thông.
       [MÔ HÌNH LÝ THUYẾT VẬN DỤNG TRONG LUẬN ÁN]
Lý thuyết giao tiếp    Lý thuyết hành động      Lý thuyết lập luận
& Chức năng liên nhân        ngôn từ             (Nguyễn Đức Dân)
(Jakobson, Lyons,       (Austin, Searle)        - Luận cứ (LCPL, LCTT)
 Halliday, Gilman)     - Lực ngôn trung         - Kết luận (Kết đề)
- Trục quyền lực dọc   - BTNV & Động từ ngữ vi  - Luật suy diễn
- Trục thân hữu ngang  - Nhóm HĐNT: Tuyên bố,   - Mạch lạc diễn ngôn
                         Tái hiện, Điều khiển

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp phân tích diễn ngôn: Phân tích các nhân tố giao tiếp, ngữ cảnh thể chế, ngữ vực, xác định cấu trúc liên kết và mạch lạc trong văn bản.
  • Phương pháp phân tích ngữ nghĩa và ngữ dụng học: Khảo sát nghĩa của các vị từ tình thái, cấu trúc ngữ vi, lực ngôn trung và mối quan hệ giữa nghĩa tường minh và hàm ý.
  • Phương pháp miêu tả: Miêu tả chi tiết các biểu thức ngôn hành, động từ ngôn hành, các phương tiện biến đổi cường độ lực ngôn trung và cấu trúc lập luận.
  • Thủ pháp thống kê: Thống kê định lượng tần số xuất hiện của các nhóm hành động ngôn từ, động từ ngữ vi, phương tiện biểu hiện chủ thể phát/nhận, vị từ tình thái và các loại luận cứ trong toàn bộ 1.324 trang ngữ liệu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận của luận án

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước về ngôn ngữ văn bản QLNN và pháp luật, đồng thời xây dựng hệ thống khái niệm công cụ cho toàn bộ đề tài. Tác giả phân định rõ hai giai đoạn tiếp cận văn bản tại Việt Nam: từ ngữ pháp văn bản tĩnh (tập trung vào liên kết hình thức) chuyển sang phân tích diễn ngôn động (xem văn bản là sản phẩm của quá trình giao tiếp xã hội gắn liền với quyền lực và ngữ cảnh).

Chương này xác lập các cơ sở lý luận nòng cốt về 3 siêu chức năng ngôn ngữ của Halliday, phân loại hành vi ngôn từ của Searle, lý thuyết lập luận của Nguyễn Đức Dân và các tiêu chuẩn phong cách hành chính – công vụ. Đồng thời, tác giả định nghĩa bản chất của Nghị định (văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ) và Thông tư (văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng) là các thông điệp hành chính điều hành mang tính quyền lực thể chế.

Chương 2: Quan hệ liên nhân trong giao tiếp qua diễn ngôn nghị định, thông tư

Chương 2 tập trung phân tích quan hệ liên nhân giữa các bên tham gia giao tiếp trong diễn ngôn nghị định và thông tư, đặt trong sự so sánh với văn bản tờ trình.

  • Bản chất giao tiếp và vai giao tiếp: Giao tiếp trong nghị định, thông tư mang tính chất giao tiếp song phương nhưng bất đối xứng về quyền lực. Người phát ($Sp_1$) là chủ thể mang quyền lực công quyền cấp trung ương (Chính phủ, Bộ trưởng), người nhận ($Sp_2$) là các cơ quan cấp dưới, tổ chức và mọi công dân chịu sự điều chỉnh. Trên trục quan hệ liên nhân của Gilman, quan hệ này nằm hoàn toàn trên trục quyền lực dọc (người trên quyền giao tiếp với người dưới quyền) và triệt tiêu yếu tố thân hữu (khoảng cách xã hội xa, tính chất công vụ phi cá thể).
  • Biểu hiện của quan hệ liên nhân qua hành động ngôn từ (HĐNT):
    • Luận án khảo sát và thống kê các nhóm HĐNT xuất hiện trong văn bản. Trong nghị định và thông tư, HĐNT điều khiển chiếm tỷ lệ áp đảo tuyệt đối, đóng vai trò là hành động ngôn từ chủ đạo thực hiện quyền lực quản lý.
    • Ngược lại, trong văn bản tờ trình (dữ liệu đối chiếu), HĐNT điều khiển chủ yếu mang tính chất thỉnh cầu, đề xuất từ cấp dưới lên cấp trên.
  • Đặc điểm biểu thức ngữ vi điều khiển (BTNVĐK) và sự thể hiện chủ thể:
    • Khảo sát sự có mặt/lược bỏ của chủ thể phát ($Sp_1$) và chủ thể nhận ($Sp_2$): $Sp_1$ thường được ẩn đi hoặc biểu hiện dưới dạng danh xưng cơ quan công quyền khách quan, thể hiện ý chí của nhà nước thay vì cá nhân người soạn thảo.
    • Động từ ngôn hành điều khiển trong nghị định, thông tư tập trung vào nhóm động từ mang tính áp đặt, bắt buộc, cho phép hoặc cấm đoán, hoàn toàn vắng mặt các động từ mang tính thỉnh cầu.
  • Quan hệ liên nhân thể hiện qua tình thái:
    • Khảo sát trên 1.324 trang dữ liệu, luận án thống kê tần số xuất hiện của hệ thống vị từ tình thái và tổ hợp từ biểu thị tình thái. Tình thái bắt buộc (như phải, có trách nhiệm, chịu trách nhiệm) và tình thái cấm đoán (nghiêm cấm, không được) chiếm ưu thế, phản ánh quyền lực tuyệt đối của cơ quan ban hành.

Chương 3: Chức năng tác động của diễn ngôn nghị định, thông tư

Chương 3 đi sâu phân tích cơ chế tạo lập chức năng tác động của diễn ngôn nghị định và thông tư nhằm điều chỉnh hành vi của người tiếp nhận thông qua hai công cụ chính: hành động ngôn từ và lập luận.

  • Đích tác động và bản chất hành động giao tiếp phức hợp: Văn bản quản lý hành chính là một hành động giao tiếp phức hợp hướng tới hai đích: đích nhận thức (làm cho bên nhận nắm rõ quy định) và đích tác động (buộc bên nhận phải thực hiện, không thực hiện hoặc chịu sự điều chỉnh hành vi).
  • Chức năng tác động qua các nhóm hành động ngôn từ:
    1. HĐNT tuyên bố: Xác lập hiệu lực văn bản, ban hành quy chế, công bố thành lập hoặc bãi bỏ các quy định cũ. Phương tiện tác động mang tính quyết định pháp lý tức thì.
    2. HĐNT tái hiện: Miêu tả các quy chuẩn, tiêu chuẩn chuyên môn, định nghĩa khái niệm nghiệp vụ, xác định đối tượng áp dụng.
    3. HĐNT điều khiển: Là trung tâm tạo lực tác động, được phân chia thành 3 phân nhóm chức năng:
      • Tác động mang nghĩa yêu cầu/bắt buộc (sử dụng cấu trúc mệnh lệnh, vị từ bắt buộc).
      • Tác động mang nghĩa cấm đoán (sử dụng từ ngữ phủ định dứt khoát, chế tài).
      • Tác động mang nghĩa cho phép (xác định quyền hạn, điều kiện được thực hiện).
    • Luận án phân tích hệ thống các phương thức làm biến đổi cường độ lực ngôn trung điều khiển cả bên trong biểu thức ngôn hành (từ ngữ chỉ mức độ, thứ bậc trách nhiệm) và bên ngoài biểu thức ngôn hành (kèm theo điều kiện pháp lý, hình thức xử lý vi phạm).
  • Chức năng tác động qua cấu trúc lập luận:
    • Luận cứ trong nghị định và thông tư: Luận án phân loại và tổng hợp hai hệ thống luận cứ chính: Luận cứ pháp lý (LCPL - căn cứ vào Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết cấp trên) và Luận cứ thực tiễn (LCTT - xuất phát từ yêu cầu quản lý ngành, chức năng nhiệm vụ, tình hình thực tế).
    • Kết luận (kết đề): Là toàn bộ các điều khoản quy phạm, mệnh lệnh hành chính được suy ra từ hệ thống căn cứ pháp lý và thực tiễn.
    • Chỉ dẫn lập luận và tính mạch lạc: Sử dụng các từ chỉ dẫn lập luận chuyên biệt (căn cứ vào, theo đề nghị của, để thi hành), tổ chức hệ thống điều khoản theo logic thứ bậc chặt chẽ, tạo nên tính mạch lạc diễn ngôn và tính thuyết phục bắt buộc thi hành.

Bảng tổng hợp các danh mục thống kê, sơ đồ và biểu đồ trong luận án

Loại Ký hiệu Tên gọi nội dung trong văn bản luận án Trang
Bảng Bảng 2.1 Quan hệ vai trong nghị định, thông tư và tờ trình 65
Bảng 2.2 Thống kê các HĐNT trong nghị định 68
Bảng 2.3 Thống kê các HĐNT trong thông tư 69
Bảng 2.4 Số liệu thống kê các HĐNT trong tờ trình 74
Bảng 2.5 Thống kê phương tiện ngôn ngữ biểu hiện Sp1 trong BTNHĐK 81
Bảng 2.6 Thống kê sự có mặt - lược bỏ Sp1 trong HĐNTĐK của nghị định, thông tư và tờ trình 82
Bảng 2.7 Thống kê các động từ ngôn hành điều khiển (khiến) trong HĐNTĐK 83
Bảng 2.8 Bảng thống kê các động từ ngôn hành điều khiển (mang tính cầu) trong diễn ngôn tờ trình 86
Bảng 2.9 So sánh ĐTNHĐK trong nghị định, thông tư và tờ trình 87
Bảng 2.10 Thống kê phương tiện ngôn ngữ biểu hiện Sp2 trong BTNHĐK của tờ trình 89
Bảng 2.11 Thống kê sự có mặt - lược bỏ Sp2 trong HĐNTĐK của diễn ngôn nghị định, thông tư và tờ trình 90
Bảng 2.12 Bảng thống kê tần số xuất hiện các vị từ tình thái và tổ hợp từ biểu thị tình thái trong diễn ngôn nghị định, thông tư (1324 trang dữ liệu A4) 95
Bảng 2.13 So sánh ĐT TT trong nghị định, thông tư và Tờ trình 101
Bảng 3.1 Chức năng của hành động ngôn từ 109
Bảng 3.2 Hệ thống các phương thức biến đổi cường độ lực ngôn trung trong biểu thức ngôn hành 129
Bảng 3.3 Hệ thống các phương thức biến đổi cường độ lực ngôn trung điều khiển bên ngoài biểu thức ngôn hành 130
Bảng 3.4 Bảng tổng hợp luận cứ lý trí trong thông tư 142
Bảng 3.5 Bảng tổng hợp luận cứ pháp lý trong nghị định 143
Sơ đồ Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ liên nhân giữa người nói với người nghe 19
Sơ đồ 1.2 Mô hình giao tiếp của Jacobson 24
Sơ đồ 1.3 Mô hình giao tiếp của Lyons 26
Sơ đồ 1.4 Sơ đồ văn bản quản lý nhà nước 44
Sơ đồ 1.5 Sơ đồ các tiểu loại ngôn ngữ luật pháp 48
Biểu đồ Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ các HĐNT trong nghị định 68
Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ các HĐNT trong thông tư 69
Biểu đồ 2.3 Thống kê phương tiện ngôn ngữ biểu hiện Sp1 trong BTNHĐK 81
Biểu đồ 2.4 Thống kê phương tiện ngôn ngữ biểu hiện Sp2 trong BTNHĐK tờ trình 90
Biểu đồ 3.1 Luận cứ pháp lý trong thông tư 142
Biểu đồ 3.2 Luận cứ pháp lý trong nghị định 143

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án góp phần nhận diện và xác lập loại hình diễn ngôn nghị định và thông tư dưới góc độ ngôn ngữ học và phân tích diễn ngôn hiện đại, đưa văn bản quy phạm hành chính vượt ra khỏi phạm vi miêu tả tĩnh của phong cách học truyền thống.
  • Làm sáng tỏ các đặc điểm của quan hệ liên nhân và chức năng tác động trong văn bản quản lý hành chính nhà nước cấp trung ương; chứng minh mối quan hệ bất đối xứng về quyền lực chi phối trực tiếp đến việc lựa chọn cấu trúc ngữ pháp, hành động ngôn từ, các phương tiện tình thái và cách thức tổ chức lập luận.
  • Cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm và luận cứ khoa học góp phần phát triển lý luận phân tích diễn ngôn hành chính tiếng Việt.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đề xuất các căn cứ khoa học giúp chuẩn hóa việc sử dụng ngôn ngữ trong soạn thảo, thẩm định và ban hành văn bản nghị định, thông tư của các cơ quan công quyền cấp trung ương, bảo đảm tính minh bạch, chính xác và hiệu lực tác động.
  • Kết quả nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo trực tiếp cho việc giảng dạy các học phần chuyên môn như Tiếng Việt và Giao tiếp hành chính, Kỹ năng xây dựng và ban hành văn bản quản lý nhà nước tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành quản lý nhà nước và luật học (như Học viện Hành chính Quốc gia, các trường đại học khối xã hội nhân văn và luật).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Giới hạn về phạm vi khảo sát: Ngữ liệu của luận án tập trung vào 203 văn bản Nghị định và Thông tư trong hai lĩnh vực Giáo dục & Đào tạo và Văn hóa, Thể thao và Du lịch được ban hành từ năm 2005 đến năm 2018 (cùng 69 tờ trình đối chiếu). Đề tài chưa khảo sát văn bản thuộc các cơ quan lập pháp (Quốc hội), cơ quan tư pháp (Tòa án, Viện kiểm sát) hoặc văn bản hành chính của các khối ngành kinh tế, kỹ thuật và cấp chính quyền địa phương.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phân tích diễn ngôn sang các thể loại văn bản pháp quy khác (Luật, Pháp lệnh, Quyết định của Thủ tướng) và các cấp quản lý địa phương, hoặc khảo sát diễn ngôn hành chính trong bối cảnh chính phủ điện tử và chuyển đổi số văn bản công vụ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học (đặc biệt trong các phân ngành Ngữ dụng học, Phân tích diễn ngôn, Ngôn ngữ học xã hội).
  • Giảng viên và sinh viên các ngành Quản lý nhà nước, Luật học, Hành chính công khi tiếp cận các học phần về kỹ thuật soạn thảo văn bản và giao tiếp công vụ.
  • Cán bộ, công chức làm công tác pháp chế, xây dựng và thẩm định văn bản quy phạm pháp luật tại Văn phòng Chính phủ và các Bộ, ngành trung ương.

Các phần có giá trị tham khảo sâu: Hệ thống bảng thống kê định lượng về hành động ngôn từ và vị từ tình thái (Chương 2); Khung phân tích cấu trúc luận cứ pháp lý và mô hình biến đổi cường độ lực ngôn trung (Chương 3).


Câu hỏi thường gặp

1. Khung lý thuyết phân tích diễn ngôn và giao tiếp được luận án sử dụng gồm những mô hình nào?

Luận án sử dụng tích hợp mô hình giao tiếp 6 nhân tố của Roman Jakobson, mô hình giao tiếp 4 nhân tố của Lyons (được Đỗ Hữu Châu phát triển), lý thuyết 3 siêu chức năng của Halliday (đặc biệt là siêu chức năng liên nhân), lý thuyết hành động ngôn từ của Austin và Searle, cùng lý thuyết cấu trúc lập luận 3 thành tố của Nguyễn Đức Dân.

2. Ngữ liệu nghiên cứu của luận án được thu thập từ nguồn nào và dung lượng bao nhiêu?

Ngữ liệu gồm 203 văn bản quy phạm hành chính cấp trung ương thuộc lĩnh vực GDĐT và VHTTDL ban hành trong giai đoạn 2005 – 2018 (24 Nghị định của Chính phủ, 179 Thông tư của hai Bộ) với 1.324 trang văn bản A4, kết hợp với 69 văn bản Tờ trình làm ngữ liệu so sánh đối chiếu.

3. Quan hệ liên nhân trong diễn ngôn nghị định, thông tư có đặc điểm gì khác biệt so với văn bản tờ trình?

Trong nghị định và thông tư, quan hệ liên nhân diễn ra theo trục quyền lực dọc cố định từ người trên quyền (Chính phủ, Bộ trưởng) xuống người dưới quyền, HĐNT điều khiển mang tính áp đặt, mệnh lệnh, quy phạm và triệt tiêu tính thân hữu. Ngược lại, trong tờ trình, người phát ở vị thế dưới quyền gửi lên cấp trên, HĐNT điều khiển chủ yếu mang tính thỉnh cầu, đề xuất.

4. Chức năng tác động trong diễn ngôn nghị định, thông tư được thực hiện thông qua những phương tiện ngôn ngữ nào?

Chức năng tác động được hiện thực hóa qua ba nhóm hành động ngôn từ (tuyên bố, tái hiện, điều khiển với 3 phân nhóm nghĩa: yêu cầu, cấm đoán, cho phép), hệ thống vị từ tình thái bắt buộc, các phương thức biến đổi cường độ lực ngôn trung và cấu trúc lập luận chặt chẽ kết hợp giữa luận cứ pháp lý với luận cứ thực tiễn.


Kết luận

Luận án của tác giả Phan Thị Thu Thủy đã tiếp cận văn bản quản lý hành chính nhà nước cấp trung ương dưới góc độ phân tích diễn ngôn hiện đại. Thông qua việc khảo sát định lượng và định tính 203 Nghị định, Thông tư (đối chiếu với 69 Tờ trình), công trình đã chứng minh cơ chế biểu hiện của quan hệ liên nhân quyền lực và chức năng tác động qua hệ thống hành động ngôn từ, vị từ tình thái và cấu trúc lập luận. Kết quả nghiên cứu đóng góp tư liệu khoa học cho phân tích diễn ngôn hành chính tiếng Việt và cung cấp cơ sở ứng dụng thiết thực cho hoạt động soạn thảo văn bản quản lý nhà nước.