Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI GIÚP SỨC TRONG ĐỒNG PHẠM THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm đồng phạm và các hình thức đồng phạm 1. Khái niệm đồng phạm Tội phạm có thể do một chủ thể thực hiện, cũng có thể là sự phối hợp cùng tham gia của nhiều chủ thể khác nhau. Khi một tội phạm được thực hiện bởi nhiều người phạm tội thì việc xác định TNHS đối với họ là rất phức tạp.
Một trong những cơ sở quan trọng để chúng ta xác định được đúng người đúng tội chính là những qui định đã được pháp điển hóa trong các BLHS. Luật hình sự các nước trên thế giới đều có quy định về đồng phạm. Bộ luật sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 1979 tại Điều 22 quy định: “Hai hay nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm” [28, tr. Theo Điều 33 Bộ luật hình sự của Liên Bang Nga cũng có quy định: “Hai hay nhiều người cùng cố ý thực hiện một tội cố ý là đồng phạm” [10, tr.
Pháp luật hình sự của các nước trên thế giới có những quy định rất đa dạng về đồng phạm. Nhưng điều mà chúng ta quan tâm hơn cả đó chính là những quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam về trường hợp nhiều người cùng tham gia vụ đồng phạm. Trên lãnh thổ của Nhà nước Việt Nam trước đây, trong thời kỳ phong kiến, cũng đã có các quy định sơ khai về đồng phạm. Luật hình sự phong kiến được hình thành và phát triển trên cơ sở của nhiều chế định khác nhau, thì vấn đề đồng phạm đã bước đầu được đề cập tới.
Bộ “Quốc triều hình luật” năm 1483 dưới triều nhà Lê đã xuất hiện những quy định về vấn đề nhiều người cùng phạm tội. Mặc dù chưa đưa ra định nghĩa về đồng phạm nhưng Bộ luật đã có những quy định về TNHS cho những người tham gia phạm tội. Điều 454 quy định: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những kẻ đồng mưu với nhau đi ăn cướp nhưng khi đi thì lại không đi, người đi lấy được của về chia nhau, mà kẻ đồng mưu ở nhà cũng lấy phần, thì xử tội như là có đi ăn cướp (ăn trộm cũng vậy) nếu không lấy được phần chia thì xử lưu đi châu gần. Trước kia vẫn từng đi ăn cướp mà khi ấy không đi, dù không lấy phần cũng xử tội như đi ăn cướp [8, tr.
Hoặc Điều 539 quy định: Những kẻ xúi giục cho người ta không biết là phạm pháp, hay là biết phép mà cứ xúi giục họ làm trái phép, cũng là để cho người ta phạm pháp rồi bất ngờ tố cáo hay là để người khác bắt, hay tố cáo, chủ ý để lấy thưởng hay hiềm khích mà xúi giục để cho người ta phạm tội, thì cũng bị xử như người phạm pháp [8, tr. Việc ghi nhận TNHS đối với “kẻ đồng mưu” hay “người xúi giục người khác phạm pháp” trong hai Điều luật trên cho thấy chế định đồng phạm đã được đề cập đến trong luật hình sự phong kiến Việt Nam. Bộ “Quốc triều hình luật” thể hiện đường lối xử lý của Nhà nước phong kiến dưới triều Lê, Điều 35 quy định: “Nhiều người cùng phạm một tội, thì lấy người khởi xướng làm đầu, người a tòng được giảm một bậc. Nếu tất cả những người trong nhà cùng phạm một tội, chỉ bắt người tôn trưởng” [37, tr.
Sau ngày thành lập Nhà Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan đến đồng phạm. Sắc lệnh số 233-SL (17/11/1946) quy định: “Nhiều người phạm tội đưa hối lộ và hối lộ có thể bị xử và tịch thu nhiều nhất là 3/4 tài sản, những người đồng phạm cũng bị xử như trên” [37]. Sắc lệnh số 133-SL (20/01/1959) và Pháp lệnh ngày 30-10-1967 về trừng trị những tội phản cách mạng cũng quy định trường hợp phạm tội của nhiều người trong đó bao gồm bọn chủ mưu, bọn cầm đầu và bọn tham gia tổ chức phản cách mạng. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thông qua các quy định trên cho thấy việc hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự là cả một quá trình.
Cho đến giai đoạn này chúng ta vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về đồng phạm. Thành tựu lập pháp chỉ mới dừng lại ở quy định các trường hợp phạm tội có đồng phạm như “phạm tội có tổ chức”, “phạm tội có móc ngoặc” hay quy định những loại người cụ thể trong vụ phạm tội có nhiều người cùng liên kết thực hiện như bọn chủ mưu, bọn cầm đầu hay người xúi giục. Trong thực tế, có nhiều thời kỳ việc nhiều người cố ý cùng phạm một tội được coi là “cộng phạm”. Và đến năm 1963, khái niệm này đã được khẳng định lại trong báo cáo tổng kết ngành Toà án: “Coi là cộng phạm nếu hai hoặc nhiều người cùng chung ý chí và hành động, nghĩa là hoặc tổ chức hoặc xúi giục hoặc giúp sức hoặc tham gia thực hiện tội phạm để cùng đạt tới kết quả phạm tội” [37, tr.
Chúng ta chưa thể tìm thấy sự phân hoá TNHS đối với những kẻ cùng thực hiện tội phạm nhưng qua đây chúng ta đã có được tư duy để phân biệt giữa trường hợp phạm tội riêng lẻ và trường hợp phạm tội có sự tham gia cùng thực hiện của nhiều người. Những quy định trên đây sẽ là tài liệu quan trọng và thực sự quý báu để nhà làm luật tiếp tục hoàn thiện chế định đồng phạm trong tương lai. Pháp luật hình sự giai đoạn sau này có những bước tiến nhảy vọt với sự ra đời của BLHS năm 1985. Tại đây, lần đầu tiên khái niệm đồng phạm đã chính thức được sử dụng, Khoản 1 Điều 17 nêu rõ: “Hai hoặc nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm” [25, tr.
Khái niệm này đã thay thế hoàn toàn khái niệm “cộng phạm” vẫn được sử dụng trước đây. Đến năm 1999 BLHS mới ra đời, một lần nữa chế định đồng phạm được khẳng định kế thừa và phát triển. Điều 20 BLHS năm 1999 quy định: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm” [48, tr. Từ những quy định trên đây, chúng ta có thể nhận ra điểm tương đồng so với khái niệm đồng phạm đã được quy định trong BLHS năm 1985.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đã cho chúng ta khái niệm đầy đủ và thống nhất về đồng phạm. Ta biết rằng đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện tội phạm. Hay nói cách khác, khi một tội phạm được thực hiện bởi ít nhất là hai chủ thể và hai chủ thể đó thoả mãn dấu hiệu “cùng cố ý” thì trường hợp đó tội phạm được coi là đồng phạm. Để hiểu rõ hơn bản chất của vấn đề đồng phạm chúng ta tiếp tục nghiên cứu mặt chủ quan và mặt khách quan thuộc dấu hiệu pháp lý cơ bản của đồng phạm.
Các hình thức đồng phạm Để xác định một tội phạm có phải là đồng phạm hay không chúng ta có thể dựa vào dấu hiệu thuộc mặt chủ quan và mặt khách quan của tội phạm đó. Khoa học luật hình sự và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự từ trước đến nay cũng dựa vào dấu hiệu này để phân loại các hình thức đồng phạm. Phân loại theo dấu hiệu chủ quan Căn cứ vào đặc điểm về mặt chủ quan thì đồng phạm được phân loại thành: Đồng phạm không có thông mưu trước và đồng phạm có thông mưu trước. Đồng phạm không có thông mưu trước Hình thức này được hiểu như sau: “Đồng phạm không có thông mưu trước là hình thức đồng phạm trong đó không có sự thoả thuận bàn bạc với nhau trước giữa những người đồng phạm hoặc là có sự thoả thuận nhưng không đáng kể" [3, tr.
Những người đồng phạm không có sự bàn bạc trước với nhau về kế hoạch thực hiện tội phạm, đồng thời giữa những người đồng phạm không có sự phân công vai trò như tổ chức, thực hành hay xúi giục. Thuộc hình thức này có thể những người đồng phạm chỉ nhất trí về việc thực hiện tội phạm với nhau ở hiện trường và bắt tay ngay vào việc thực hiện tội phạm hoặc đồng phạm được hình thành khi có người đang thực hiện tội phạm, người khác thấy vậy cũng cùng tham gia phạm tội. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ví dụ: A và B rủ nhau lên đồi hái chè. Đến chiều tối A và B thấy một con bò đang ăn ở phía cuối vườn chè.
Cả hai nảy sinh ý định bắt trộm con bò đó. Sau đó A và B dắt bò về dưới huyện và bán được 2. Ở đây, A và B cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản công dân nhưng giữa A và B trước khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản không có sự bàn bạc vạch kế hoạch trước. Như vậy, so với các hình thức đồng phạm khác thì đồng phạm không có thông mưu trước nói chung ít nguy hiểm hơn.
Đồng phạm có thông mưu trước “Đồng phạm có thông mưu trước là hình thức đồng phạm trong đó những người đồng phạm đã có sự thoả thuận bàn bạc trước với nhau về tội phạm cùng thực hiện” [3, tr. Ví dụ: A rủ B cùng mình đột nhập vào nhà ông C để trộm cắp tài sản. Cả hai thường xuyên tụ tập tại nhà A để bàn bạc, lập kế hoạch. A giao cho B tìm cách giết con chó nhà ông C, còn A sẽ theo dõi hoạt động đi lại của các thành viên trong gia đình ông C.
Lợi dụng lúc gia đình ông C đi vắng hết, A và B đã đột nhập vào nhà ông C lấy đi số tiền là 5.000 đồng, một ti vi và một số vật dụng khác. Ở hình thức đồng phạm này những người đồng phạm đã ít nhiều có sự bàn bạc và phân công vai trò nên họ có quan hệ phạm tội chặt chẽ hơn. Loại đồng phạm này có tính chất nguy hiểm hơn loại đồng phạm không có thông mưu trước. Phân loại theo dấu hiệu khách quan Dựa vào những đặc điểm về mặt khách quan có thể chia đồng phạm thành hai loại là đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp.
Đồng phạm giản đơn “Đồng phạm giản đơn là hình thức đồng phạm trong đó những người cùng tham gia vào vụ phạm tội đều có vai trò là người thực hành” [3, tr. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.