Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về nguyên tắc trách nhiệm trên cơ sở lỗi trong luật hình sự Việt Nam. Chương II: Nguyên tắc trách nhiệm trên cơ sở lỗi trong pháp luật hình su Việt Nam hiện hành. Chương III: Vấn đề áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam liên quan đến nguyên tắc trách nhiệm trên cơ sở lỗi trong thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt. 5 Chuongl: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN TAC TRÁCH NHIEM TREN CƠ SỞ LOI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ LOI HINH SỰ.
Nguyên tác trách nhiệm trên cơ sở lỗi là một trong những nguyên tác được qui định trong nhiều ngành luật. Trong luật hình sự Việt Nam. nguyên tắc này được coi là một nguyên tac cơ bản. Để nhận thức rõ về cơ sở lý luận.
nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc trách nhiệm trên cơ sở lỗi trong luật hình sự Việt Nam. trước hết can làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận chung về lỗi trong luật hình sự (gọi tat là lôi hình sự). Việc nghiên cứu những vấn đề: cơ sở lý luận của lỗi hình sự. khái niệm loi hình sự, dấu hiệu lỗi hình sự, nội dung lỗi hình sự và các hình thức lỗi hình sự sẽ tạo tiền đề cho việc lý giải tại sao TNHS chỉ dat ra trên cơ sở lỗi và đối với người có lỏi trong việc thực hiện tội phạm.
Đây chính là nội dung cơ bản của nguyên tác trách nhiệm trên cơ sở lỗi (hay còn gọi là nguyên tắc trách nhiệm do lỗi hoặc nguyên tac lỗi).1 Khái niệm lỗi hình sự. Trong luật hình sự, lỗi là một đấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm. là cơ sở để buộc một người phải chịu trách nhiệm về hành vi nguy hiểm cho xã hội cua minh và về hậu qua do hành vi đó gây ra. Một người nếu không có lỗi sẽ không phai chịu TNHS cho dù hành vi mà họ thực hiện đã gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội.
Theo qui định tại Điều 8 BLHS Việt Nam năm 1999 thì: một hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ bị coi là tội phạm khi được thực hiện một cách có lỗi (cố ý hoạc VÔ ý). Vậy lỗi là gì? Khi nào hành vi của một người bị coi là có lỗi? Lỗi và van đề trách nhiệm có mối quan hệ với nhau như thế nào? Để trả lời được những câu hỏi này cần bát đầu từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận của lỗi nói chung, trong đó có lỗi trong luật hình sự nói riêng. Khi quan niệm về lỗi và trách nhiệm. trong khoa học luật hình sự cũng như trong triết học và tâm lý học đã có những quan điểm khác nhau dựa trên những cơ sở lý luận khác nhau.
Theo khái niệm lỗi về mặt thần học trong khoa học luật hình sự Đức từ những nam 70 của thế ky XVII thì người đã thực hiện tội phạm có dự mưu phải chịu trách nhiệm về tội ác của mình. Quan điểm chủ nghĩa duy tâm khách quan 6 của Héghen thì cho rang: sự hiện diện của lý trí và ý chí chính là điều kiện chung của sự buộc tội, lỗi là sự khang định rang, chủ thể là người biết suy nghĩ đã nhan thức và đã mong muốn. Theo quan điểm của trường phái cổ điển trong khoa học luạt hình sự thì lỗi và trách nhiệm hoàn toàn dua trên ý chí tự do tuyệt đối của con ngươi mà trong những diều kiện như nhau họ có thé lựa chonbat kỳ quyết định nào khong trái với mình. Nhà hình sự học A.Phơbách ban đầu coi sự buộc tội không phụ thuộc vào tự do ý chí nhưng sau đó đã thừa nhận tự do ý chí là điều kiện của sự buộc tội do lỗi [Xem: 16, tr.
Tuy nhiên, những quan điểm nói trên chưa tìm đến gốc rễ của vấn đề: khi nào một người bi coi là có lỗi? trên cơ sở nào ma Nhà nước có thể buộc một người phai chịu trách nhiệm về hành vi của họ? Dưới góc độ khoa học luật hình sự, những câu hỏi này chỉ được làm sáng tỏ khi chúng được lý giải dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lénin về con người và hoạt động của con người.Angghen: “Tất cả thế giới ma chúng ta có thể nghiên cứu được là một hệ thống, một tập hợp gồm các vật thể khang khít với nhau” [I. Nhu vậy, trong thế giới không có sự vật hiện tượng nào có tính độc lập tuyệt đối. Nguyen lý về mối liên hệ phổ biến của Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng chi ra rang: các su vật và hiện tượng trong thé giới khách quan không tồn tại một cách biệt lập. chúng là mot thể thống nhất, trong đó giữa các sự vật, hiện tượng có sự tác động lẫn nhau.
ràng buộc nhau, qui định và chuyển hoá lẫn nhau. Sự tồn tại, thay đổi và phát triển của mọi sự vật, hiện tượng đều diễn ra dưới sự chi phối của những qui luật khách quan. Hoạt động của con người cũng là một hiện tượng của thực tại khách quan do vậy nó cũng có tính qui định như mọi hiện tượng khác và cũng chịu sự chi phối của những qui luật khách quan. Nguyên nhân thúc đẩy con người hành động được hình thành có qui luật, là kết quả của sự giao tiếp với mọi người xung quanh và là kết quả của sự phát triển tâm lý của người đó.
Đồng thời, hoạt động của con người cũng bị ràng buộc, bị qui định bởi những điều kiện sinh hoạt vật chất, môi trường kinh tế xã họi nhất định. Song hoạt động của con người trong xã hội là hoạt động có ý thức. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin không phủ nhận sự tự do ý chí của con người và cho rang: moi xử sự của con người đều chịu sự chi phối của qui luật khách quan nhưng con người nhờ vào hoạt động ý thức nên có kha năng nhận thức được qui luạt và vận dụng chúng cho mục đích của mình. Nhận thức được qui luật khách quan và những điều kiện tác động của chúng là nhận thức được cái tất yếu.
con người có thẻ 7 điều khiển hoạt động của mình theo qui luật một cách tự giác và có thé tự do trong hoạt động của mình. Như vậy, tự do không có nghĩa là tuỳ tiện. bất chấp qui luật ma tự do chính là nhận thức va làm theo cái tất yếu nhằm cai tạo tự nhiên. cai tạo xã hot để thoả mãn nhu cầu của mình.
Càng nhận thức được tính tất yếu thì hoạt động cua con người càng được tự do. Angghen đã viết: “Tự do không phải là ở sự độc lap tưởng tượng đối với các qui luật của tự nhiên mà là ở sự nhận thức được những qui luật đó và ở cái khả năng- có được nhờ sự nhận thức này- bat buộc những qui luật do tác động một cách có kế hoạch nhằm những mục đích nhất định. tự do ý chí chẳng qua chỉ là cái năng lực quyết định một cách hiểu biết” [2, tr. Quan điểm trên đây cho ta thấy sự tác động từ môi trường để dẫn đến hành vi của con người phải thông qua lăng kính chủ quan của chủ thể, tức là phải qua quá trình nhận thức của con người.
Nhờ hoạt động có ý thức, con người có tự do đôi với xử sự của mình, tức là có khả năng tự do lựa chọn. tự do quyết định và tự do điều khiển hành vi, nhưng việc lựa chọn, quyết định và thực hiện hành vi chỉ có thể là tự do thực sự khi xử sự đó phù hợp với những qui luật tự nhiên và qui luật xã hội đã nhận thức được. Xử sự của con người có tính qui định trước, nghĩa là được hình thành có qui luật nhưng những khả năng xử sự nào phù hợp với qui luật khách quan được thực hiện bởi một cá nhân cụ thể, điều này còn phụ thuộc vào ý thức chủ quan của chính cá nhân đó. Xử sự của con người không được qui định một cách trực tiếp bởi điều kiện bên ngoài mà là kết quả trực tiếp của sự lựa chọn, quyết định, thực hiện của chính chủ thể.
Điều này lý giải tại sao trong xã hội còn có nhiều người phạm tội nhưng không phải ai ở vào hoàn cảnh như người phạm tội cũng đều phạm tội và bản thân người phạm tội tuy có thể phạm tội một lần, nhiều lần nhưng không có nghĩa là họ luôn luôn phạm tội. Bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội. Con người trong những khả năng khách quan nhất định luôn mong muốn có được tự do- năng lực nhận thức được qui luật và hành động theo qui luật. Trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử nhất định thì những qui luật khách quan đó chính là những chuẩn mực.
những đòi hỏi chung của xã hội được đặt ra đối với mỗi cá nhân. Việc thực hiện những đòi hỏi đó cũng chính là thực hiện tự do. Khi con người luôn biết vươn tới làm chủ tự nhiên, xã hội và làm chủ bản thân. tự điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với tiêu chuẩn chung của xã hội thì họ là người có tự do thực sự.
có trách nhiệm với xã hội và với chính hành vi của mình. Một người có đủ điều kiện (khách quan và 8 chủ quan) dé lựa chọn xử su phù hop với đòi hỏi của xã hội nhưng lại lựa chọn xu su trái với lợi ích của xã hội, tức là họ đã có lỗi. Vì vậy, xã hội có quyền lên án và buoc họ phải chịu trách nhiệm về cách xử sự có lỗi mà họ đã thực hiện. Từ sự phân tích trên.
cho thấy: tự do và trách nhiệm có mối quan hệ biện chứng. Tự do là cơ sở của trách nhiệm và trách nhiệm chỉ đặt ra đối với một người khi họ có tự do. Có thể lý giải điều này bằng sự suy diễn có tinh logic như sau: mọi người chỉ có thể có tự do nếu họ có năng lực nhận thức được đòi hỏi tất yếu của xã hội và có năng lực điều khiển được xử sự của mình phù hợp với đòi hỏi đó. đóng thời phải có đủ điều kiện khách quan cho phép chủ thể thực hiện được nang lực lựa chọn xử sự.
Một người có tự do thì hoàn toàn có thể có lỗi khi thực hiện một xử sự gây thiệt hại cho xã hội, tức là họ đã tự tước bỏ tự do. Một người khi có lôi phải gánh chịu những hậu quả bất lợi nhất định từ phía Nhà nước và xã hội, đó là hậu qua do chính xử sự sai trái của họ đem lại.