CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI HỦY HOẠI HOẶC CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN THEO LUẬT HÌNH SỰ 1. Khái niệm và dấu hiệu pháp lý tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản 1.1 Khái niệm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản Theo quy định của pháp luật hình sự nước ta, khái niệm tội phạm được ghi nhận trong Điều 8 BLHS Việt Nam năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” [2, Điều 8]. Trong pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ thì tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là tội được nhập từ tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của công dân quy định tại Điều 160 và tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản XHCN quy định tại Điều 138 BLHS 1985. Đến nay được quy định tại Điều 178, trong chương XVI các tội xâm phạm sở hữu BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 với khách thể trực tiếp bị xâm hại của tội phạm này là quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức.
Huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là hành vi làm cho tài sản bị xâm hại bị mất hoàn toàn giá trị sử dụng hoặc bị giảm đi đáng kể giá trị sử dụng của tài sản. 8 Căn cứ quy định của Điều 178 BLHS năm 2015 và trên cơ sở tổng kết các quan điểm khác nhau trong khoa học luật hình sự, khái niệm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản được định nghĩa như sau: “Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là làm cho tài sản bị mất giá trị sử dụng hoặc làm giảm đáng kể giá trị sử dụng của tài sản đang do người khác quản lý, được thực hiện bởi người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách cố ý, xâm phạm quan hệ sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân”. Do xuất phát từ những điểm giống nhau, Tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản là hai tội danh độc lập nhưng được quy định chung trong một điều luật là Điều 178 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Chính vì vậy, rất dễ nhầm lẫn về 2 tội danh này, ngay cả trong nhiều vụ án vẫn còn quan điểm khác nhau giữa tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản.
Có thể hiểu một cách khái quát về hành vi hủy hoại tài sản và cố ý làm hư hỏng tài sản như sau: - Hành vi hủy hoại tài sản có thể hiểu là hành vi làm cho tài sản của người khác đang quản lý bị thiệt hại đến mức không còn giá trị sử dụng hoặc tài sản đó bị phá hủy hoàn toàn. - Hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản là hành vi làm tài sản của người khác bị mất đi một phần một phần hoặc giảm giá trị sử dụng nhưng ở mức độ còn có thể phục hồi, sửa chữa lại được. Dấu hiệu nhận diện và phân biệt tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản, thường dựa vào những căn cứ sau: Tội cố ý làm hư hỏng Tội hủy hoại tài sản tài sản Về mục đích Mục đích của người thực hiện Mục đích là chỉ muốn của người hành vi phạm tội là làm cho tài sản làm hư hỏng một phần thực hiện bị hư hỏng, tiêu hủy hoàn toàn nào đó của tài sản hoặc 9 hành vi. hoặc làm cho tài sản không còn giá làm cho tài sản đó bị mất trị hoặc mất giá trị sử dụng một phần hoặc giảm giá trị sử dụng nhưng thực tế tài sản đó có thể khôi phục, sửa chữa lại được Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc làm rõ mục đích của người phạm tội đôi khi gặp khó khăn, có thể mục đích của họ ban đầu là muốn hủy hoại tài sản nhưng họ lại khai là chỉ muốn làm hư hỏng một phần tài sản hoặc ngược lại.
Điều này đòi hỏi người tiến hành tố tụng cần nhận định, đánh giá hết sức thận trọng và khách quan. Vì nếu không xác định và không chứng minh được mục đích của người phạm tội thì có thể xác định tội danh không chính xác. Xác định thiệt Hành vi của người phạm hại thực tế Hành vi của người phạm tội làm tội rõ ràng chỉ làm hư của tài sản bị cho tài sản bị hư hỏng toàn bộ hoặc hỏng một phần của tài sản xâm hại là không còn sử dụng được… hoặc làm giảm một phần như thế nào. giá trị tài sản Tuy nhiên, có những trường hợp mục đích của người phạm tội là muốn hủy hoại tài sản nhưng vì lý do nào đó tài sản chỉ bị hư hỏng một phần thì hành vi đó phải là hành vi hủy hoại tài sản.
Ví dụ: Một người dùng xăng đốt nhà của người khác nhưng do phát hiện và ngăn chặn kịp thời nên căn căn nhà chỉ bị chấy một phần nhỏ. Tuy nhiên phải xác định hành vi này là hủy hoại tài sản. Tài sản mà người phạm tội muốn gây thiệt hại là gì? Thực tiễn hiện nay, khi phân biệt tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản, điều khó khăn nhất là tài sản bị thiệt hại là Tài sản mà vật đồng bộ. Theo Điều 114 BLDS năm 2015 thì “Vật đồng bộ là người phạm vật gồm các phần hoặc các bộ phận ăn khớp, liên hệ với nhau hợp tội muốn gây thành chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận thiệt hại là gì hoặc có phần hoặc bộ phận không đúng quy cách, chủng loại thì không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút.” Tuy nhiên, đối với tài sản là vật đồng bộ như xe máy, xe ô tô… 10 thì thông thường người phạm tội chỉ gây thiệt hại cho một bộ phận của chiếc xe như gương chiếu hậu, kính chắn gió… mà không nhằm vào toàn bộ chiếc xe thì hành vi này phạm tội hủy hoại tài sản hay cố ý làm hư hỏng tài sản? Ví dụ: “Do mâu thuẫn va chạm trên đường, nên Nguyễn Văn A đã chạy theo sau xe ô tô của anh T.
Khi anh T đậu xe cặp lề đường đi vào một cửa hàng thì A chạy tới dùng một đoạn sắt mang theo đập bể toàn bộ kính của hai gương chiếu xe ô tô anh T. Kết quả giám định, giá trị thiệt hại tài sản là 2. + Có quan điểm cho rằng, hành vi của A là hủy hoại tài sản, vì đối tượng tài sản là A nhắm vào là kính của gương chiếu hậu. Do hai tấm kính bị bể toàn bộ nên A phạm tội hủy hoại tài sản.
+ Nhưng cũng có quan điểm cho rằng xe ô tô là vật đồng bộ. Gương chiếu hậu là một phần của chiếc xe ô tô. Nếu gương chiếu hậu bị bể thì xe vẫn có thể chạy và lưu thông trên đường được trong một điều kiện nhất định nào đó. Vì vậy, A chỉ phạm tội cố ý làm hư hỏng tài sản.
Về mặt lý luận, có thể phân biệt tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản theo những tiêu chí nêu trên. Trong đó căn cứ mục đích của người thực hiện hành vi được xem là căn cứ quan trọng nhất. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay vẫn còn tranh luận và chưa thống nhất về xác định tội danh. Dấu hiệu pháp lý tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản Cấu thành tội phạm là tổng thể các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự.
Cấu thành tội phạm phải có đầy đủ bốn yếu tố: mặt khách quan, khách thể, mặt chủ quan và chủ thể. Yếu tố cấu thành tội hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản cũng có đầy đủ bốn yếu tố này. Thứ nhất, mặt khách quan của tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản có một trong hai hành vi: Hành 11 vi hủy hoại tài sản và hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản. Hành vi hủy hoại tài sản là hành vi làm cho tài sản mất hoàn toàn giá trị sử dụng; không thể khôi phục lại được hoặc khó có thể khôi phục lại được.
Hành vi này có thể được thực hiện dưới dạng: hành động (đập, đốt, phá,…) và không hành động (bỏ mặc cho tài sản rơi vào tình trạng bị hư hại hoặc tiêu huỷ). Hành vi có thể được người phạm tội thực hiện bằng các hình thức, công cụ, phương tiện khác nhau (dùng dao, búa, gậy, hóa chất,. Hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác là hành vi làm tài sản của người khác bị mất một phần hoặc giảm giá trị, giá trị sử dụng nhưng ở mức độ có thể khôi phục lại được (ví dụ: Đập phá làm hư hỏng kính của xe hơi nhưng các bộ phận khác của xe vẫn còn). Hậu quả trong tội này không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác.
Người phạm tội khi thực hiện hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng đối với những tài sản sau sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này: tài sản có trị giá từ 2.000 đồng trở lên hoặc tài sản trị giá dưới 2.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác mà còn vi phạm; đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tài sản là kỷ vật, di vật; tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.