Luận Văn Thạc Sĩ: Nghiên Cứu Tội Huỷ Hoại Hoặc Cố Ý Làm Hư Hỏng Tài Sản Từ Thực Tiễn Đà Nẵng

Luận văn thạc sĩ phân tích tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, áp dụng thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng, đánh giá hiệu quả pháp lý.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

88
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về luận văn thạc sĩ

Luận văn thạc sĩ này tập trung nghiên cứu về tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản tại Đà Nẵng, dựa trên thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự. Tác giả Trần Ngọc Bảo đã thực hiện nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trịnh Tiến Việt. Luận văn nhằm mục đích phân tích và đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về tội phạm này, đồng thời nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn.

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Tội phạm liên quan đến tài sản là một vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt tại Đà Nẵng, nơi có tốc độ phát triển kinh tế và xã hội nhanh chóng. Việc nghiên cứu sâu về tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là cần thiết để đảm bảo công tác phòng ngừa và xử lý tội phạm hiệu quả. Luận văn này góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn, đồng thời đề xuất các giải pháp cụ thể.

1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích chính của luận văn là phân tích và đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản tại Đà Nẵng. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm việc phân tích các quy định pháp luật, thực tiễn xét xử, và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự.

II. Khái niệm và dấu hiệu pháp lý của tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

Theo Bộ luật hình sự Việt Nam, tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản được quy định tại Điều 178. Tội phạm này bao gồm hai hành vi độc lập: huỷ hoại tài sảncố ý làm hư hỏng tài sản. Cả hai hành vi đều xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cá nhân hoặc tổ chức.

2.1. Khái niệm tội huỷ hoại tài sản

Huỷ hoại tài sản là hành vi làm cho tài sản bị mất hoàn toàn giá trị sử dụng hoặc bị phá hủy hoàn toàn. Hành vi này thường được thực hiện với mục đích gây thiệt hại nghiêm trọng cho chủ sở hữu tài sản.

2.2. Khái niệm tội cố ý làm hư hỏng tài sản

Cố ý làm hư hỏng tài sản là hành vi làm giảm giá trị sử dụng của tài sản, nhưng tài sản vẫn có thể được sửa chữa hoặc phục hồi. Hành vi này thường ít nghiêm trọng hơn so với huỷ hoại tài sản.

III. Thực tiễn áp dụng pháp luật tại Đà Nẵng

Tại Đà Nẵng, tình hình tội phạm liên quan đến huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản có chiều hướng gia tăng trong giai đoạn 2015-2019. Luận văn đã phân tích số liệu từ các vụ án được xét xử, từ đó chỉ ra những khó khăn và bất cập trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này.

3.1. Số liệu thực tiễn

Trong giai đoạn 2015-2019, có 101 vụ án liên quan đến tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản được xét xử tại Đà Nẵng, với 287 bị cáo. Tỷ lệ này chiếm 7,89% tổng số vụ án về tội phạm sở hữu.

3.2. Khó khăn trong thực tiễn áp dụng

Một trong những khó khăn lớn là việc xác định mục đích của người phạm tội, đặc biệt khi họ khai báo không rõ ràng. Điều này đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải có sự đánh giá khách quan và thận trọng.

IV. Giải pháp và kiến nghị

Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Các giải pháp bao gồm việc hoàn thiện các quy định trong Bộ luật hình sự, nâng cao năng lực của các cơ quan tiến hành tố tụng, và tăng cường công tác phòng ngừa tội phạm.

4.1. Hoàn thiện quy định pháp luật

Cần bổ sung và sửa đổi các quy định về tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trong Bộ luật hình sự để phù hợp với thực tiễn. Đặc biệt, cần làm rõ các tiêu chí phân biệt giữa hai hành vi này.

4.2. Nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật

Các cơ quan tiến hành tố tụng cần được đào tạo và nâng cao năng lực để đảm bảo việc xác định tội danh và xử lý vụ án một cách chính xác và công bằng.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản từ thực tiễn thành phố đà nẵng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI HỦY HOẠI HOẶC CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN THEO LUẬT HÌNH SỰ 1. Khái niệm và dấu hiệu pháp lý tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản 1.1 Khái niệm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản Theo quy định của pháp luật hình sự nước ta, khái niệm tội phạm được ghi nhận trong Điều 8 BLHS Việt Nam năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” [2, Điều 8]. Trong pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ thì tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là tội được nhập từ tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của công dân quy định tại Điều 160 và tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản XHCN quy định tại Điều 138 BLHS 1985. Đến nay được quy định tại Điều 178, trong chương XVI các tội xâm phạm sở hữu BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 với khách thể trực tiếp bị xâm hại của tội phạm này là quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức.

Huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là hành vi làm cho tài sản bị xâm hại bị mất hoàn toàn giá trị sử dụng hoặc bị giảm đi đáng kể giá trị sử dụng của tài sản. 8 Căn cứ quy định của Điều 178 BLHS năm 2015 và trên cơ sở tổng kết các quan điểm khác nhau trong khoa học luật hình sự, khái niệm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản được định nghĩa như sau: “Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là làm cho tài sản bị mất giá trị sử dụng hoặc làm giảm đáng kể giá trị sử dụng của tài sản đang do người khác quản lý, được thực hiện bởi người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách cố ý, xâm phạm quan hệ sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân”. Do xuất phát từ những điểm giống nhau, Tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản là hai tội danh độc lập nhưng được quy định chung trong một điều luật là Điều 178 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Chính vì vậy, rất dễ nhầm lẫn về 2 tội danh này, ngay cả trong nhiều vụ án vẫn còn quan điểm khác nhau giữa tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản.

Có thể hiểu một cách khái quát về hành vi hủy hoại tài sản và cố ý làm hư hỏng tài sản như sau: - Hành vi hủy hoại tài sản có thể hiểu là hành vi làm cho tài sản của người khác đang quản lý bị thiệt hại đến mức không còn giá trị sử dụng hoặc tài sản đó bị phá hủy hoàn toàn. - Hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản là hành vi làm tài sản của người khác bị mất đi một phần một phần hoặc giảm giá trị sử dụng nhưng ở mức độ còn có thể phục hồi, sửa chữa lại được. Dấu hiệu nhận diện và phân biệt tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản, thường dựa vào những căn cứ sau: Tội cố ý làm hư hỏng Tội hủy hoại tài sản tài sản Về mục đích Mục đích của người thực hiện Mục đích là chỉ muốn của người hành vi phạm tội là làm cho tài sản làm hư hỏng một phần thực hiện bị hư hỏng, tiêu hủy hoàn toàn nào đó của tài sản hoặc 9 hành vi. hoặc làm cho tài sản không còn giá làm cho tài sản đó bị mất trị hoặc mất giá trị sử dụng một phần hoặc giảm giá trị sử dụng nhưng thực tế tài sản đó có thể khôi phục, sửa chữa lại được Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc làm rõ mục đích của người phạm tội đôi khi gặp khó khăn, có thể mục đích của họ ban đầu là muốn hủy hoại tài sản nhưng họ lại khai là chỉ muốn làm hư hỏng một phần tài sản hoặc ngược lại.

Điều này đòi hỏi người tiến hành tố tụng cần nhận định, đánh giá hết sức thận trọng và khách quan. Vì nếu không xác định và không chứng minh được mục đích của người phạm tội thì có thể xác định tội danh không chính xác. Xác định thiệt Hành vi của người phạm hại thực tế Hành vi của người phạm tội làm tội rõ ràng chỉ làm hư của tài sản bị cho tài sản bị hư hỏng toàn bộ hoặc hỏng một phần của tài sản xâm hại là không còn sử dụng được… hoặc làm giảm một phần như thế nào. giá trị tài sản Tuy nhiên, có những trường hợp mục đích của người phạm tội là muốn hủy hoại tài sản nhưng vì lý do nào đó tài sản chỉ bị hư hỏng một phần thì hành vi đó phải là hành vi hủy hoại tài sản.

Ví dụ: Một người dùng xăng đốt nhà của người khác nhưng do phát hiện và ngăn chặn kịp thời nên căn căn nhà chỉ bị chấy một phần nhỏ. Tuy nhiên phải xác định hành vi này là hủy hoại tài sản. Tài sản mà người phạm tội muốn gây thiệt hại là gì? Thực tiễn hiện nay, khi phân biệt tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản, điều khó khăn nhất là tài sản bị thiệt hại là Tài sản mà vật đồng bộ. Theo Điều 114 BLDS năm 2015 thì “Vật đồng bộ là người phạm vật gồm các phần hoặc các bộ phận ăn khớp, liên hệ với nhau hợp tội muốn gây thành chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận thiệt hại là gì hoặc có phần hoặc bộ phận không đúng quy cách, chủng loại thì không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút.” Tuy nhiên, đối với tài sản là vật đồng bộ như xe máy, xe ô tô… 10 thì thông thường người phạm tội chỉ gây thiệt hại cho một bộ phận của chiếc xe như gương chiếu hậu, kính chắn gió… mà không nhằm vào toàn bộ chiếc xe thì hành vi này phạm tội hủy hoại tài sản hay cố ý làm hư hỏng tài sản? Ví dụ: “Do mâu thuẫn va chạm trên đường, nên Nguyễn Văn A đã chạy theo sau xe ô tô của anh T.

Khi anh T đậu xe cặp lề đường đi vào một cửa hàng thì A chạy tới dùng một đoạn sắt mang theo đập bể toàn bộ kính của hai gương chiếu xe ô tô anh T. Kết quả giám định, giá trị thiệt hại tài sản là 2. + Có quan điểm cho rằng, hành vi của A là hủy hoại tài sản, vì đối tượng tài sản là A nhắm vào là kính của gương chiếu hậu. Do hai tấm kính bị bể toàn bộ nên A phạm tội hủy hoại tài sản.

+ Nhưng cũng có quan điểm cho rằng xe ô tô là vật đồng bộ. Gương chiếu hậu là một phần của chiếc xe ô tô. Nếu gương chiếu hậu bị bể thì xe vẫn có thể chạy và lưu thông trên đường được trong một điều kiện nhất định nào đó. Vì vậy, A chỉ phạm tội cố ý làm hư hỏng tài sản.

Về mặt lý luận, có thể phân biệt tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản theo những tiêu chí nêu trên. Trong đó căn cứ mục đích của người thực hiện hành vi được xem là căn cứ quan trọng nhất. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay vẫn còn tranh luận và chưa thống nhất về xác định tội danh. Dấu hiệu pháp lý tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản Cấu thành tội phạm là tổng thể các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự.

Cấu thành tội phạm phải có đầy đủ bốn yếu tố: mặt khách quan, khách thể, mặt chủ quan và chủ thể. Yếu tố cấu thành tội hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản cũng có đầy đủ bốn yếu tố này. Thứ nhất, mặt khách quan của tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản có một trong hai hành vi: Hành 11 vi hủy hoại tài sản và hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản. Hành vi hủy hoại tài sản là hành vi làm cho tài sản mất hoàn toàn giá trị sử dụng; không thể khôi phục lại được hoặc khó có thể khôi phục lại được.

Hành vi này có thể được thực hiện dưới dạng: hành động (đập, đốt, phá,…) và không hành động (bỏ mặc cho tài sản rơi vào tình trạng bị hư hại hoặc tiêu huỷ). Hành vi có thể được người phạm tội thực hiện bằng các hình thức, công cụ, phương tiện khác nhau (dùng dao, búa, gậy, hóa chất,. Hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác là hành vi làm tài sản của người khác bị mất một phần hoặc giảm giá trị, giá trị sử dụng nhưng ở mức độ có thể khôi phục lại được (ví dụ: Đập phá làm hư hỏng kính của xe hơi nhưng các bộ phận khác của xe vẫn còn). Hậu quả trong tội này không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác.

Người phạm tội khi thực hiện hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng đối với những tài sản sau sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này: tài sản có trị giá từ 2.000 đồng trở lên hoặc tài sản trị giá dưới 2.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác mà còn vi phạm; đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tài sản là kỷ vật, di vật; tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ Về Tội Huỷ Hoại Hoặc Cố Ý Làm Hư Hỏng Tài Sản Tại Đà Nẵng là một nghiên cứu chuyên sâu về hành vi phạm tội liên quan đến việc phá hủy hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Tài liệu này phân tích các yếu tố pháp lý, thực tiễn xử lý tội phạm, cũng như đề xuất các giải pháp phòng ngừa và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Độc giả sẽ được cung cấp cái nhìn toàn diện về vấn đề, từ lý luận đến thực tiễn, giúp hiểu rõ hơn về quy định pháp luật và cách thức áp dụng trong thực tế.

Nếu bạn quan tâm đến các tội phạm liên quan đến tài sản, có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015 để hiểu sâu hơn về các hành vi liên quan đến tài sản phạm tội. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ luật học phòng ngừa tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh hà giang cũng là một tài liệu hữu ích để khám phá thêm về các biện pháp phòng ngừa tội phạm tài sản. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh hà nam sẽ mang đến góc nhìn mới về các hình thức phạm tội tài sản khác. Mỗi tài liệu là cơ hội để bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về lĩnh vực pháp luật hình sự.