Tổng quan nghiên cứu

Năm 1997, khi tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập sau 29 năm hợp nhất trong tỉnh Vĩnh Phú, nền kinh tế địa phương đối mặt với muôn vàn khó khăn với mức GDP bình quân đầu người chỉ bằng 48% so với bình quân chung của cả nước. Trong cơ cấu kinh tế lúc bấy giờ, sản xuất nông nghiệp vẫn giữ vị trí chủ đạo khi chiếm tới 52,5% tổng giá trị GDP và trên 90% dân số sinh sống tại khu vực nông thôn. Tuy nhiên, mô hình kinh tế tập thể cũ đã bộc lộ sự trì trệ sâu sắc khi có tới 151 trên tổng số 286 hợp tác xã hoạt động hình thức, kém hiệu quả, đứng trước nguy cơ tan rã hàng loạt.

Vấn đề cấp bách đặt ra cho Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 1997-2010 là phải tìm kiếm một hướng đi đột phá nhằm đổi mới căn bản cơ chế quản lý, chuyển đổi mô hình hợp tác xã từ cơ chế hành chính bao cấp sang hạch toán kinh doanh tự chủ theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu nghiên cứu tập trung làm sáng tỏ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh; phân tích thực trạng chuyển đổi và đánh giá những đóng góp của kinh tế hợp tác đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Phạm vi nghiên cứu được xác lập toàn diện trên địa bàn 9 đơn vị hành chính của tỉnh Vĩnh Phúc với tổng diện tích tự nhiên 1.231,76 km2 (trong đó đất nông nghiệp chiếm 45,3%) trong khung thời gian 14 năm từ năm 1997 đến năm 2010. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ của khu vực kinh tế tập thể khi chuyển đổi thành công 209 hợp tác xã, bảo đảm việc làm và dịch vụ cho 158.802 xã viên, góp phần đưa Vĩnh Phúc từ một tỉnh nghèo với thu ngân sách dưới 100 tỷ đồng năm 1997 vươn lên gia nhập câu lạc bộ thu ngân sách 1.000 tỷ đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về tính tất yếu khách quan của kinh tế hợp tác trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cơ sở lý luận này khẳng định sự chuyển biến của hợp tác xã nông nghiệp phải diễn ra tuần tự từ thấp đến cao, dựa trên nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ.

Bên cạnh đó, đề tài tích hợp mô hình kinh tế nông hộ tự chủ gắn liền với đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua các mốc pháp lý then chốt như Chỉ thị 100-CT/TW năm 1981, Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 1988, Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX năm 2002 và Luật Hợp tác xã các năm 1996, 2003. Khung phân tích làm rõ 5 khái niệm nòng cốt: kinh tế hợp tác kiểu mới, tính tự chủ của kinh tế hộ, dịch vụ công ích nông nghiệp, dồn điền đổi thửa và tích tụ đất đai trong sản xuất hàng hóa tập trung.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ hệ thống văn kiện chính thức của Đảng, các Nghị quyết của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, báo cáo tổng kết của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng dữ liệu thống kê lưu trữ của Liên minh Hợp tác xã tỉnh Vĩnh Phúc qua từng thời kỳ.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 348 hợp tác xã trên địa bàn tỉnh vào đầu năm 1997 (bao gồm 308 hợp tác xã nông nghiệp). Nghiên cứu thực hiện phương pháp chọn mẫu điển hình thông qua khảo sát thực nghiệm chuyên sâu tại 6 mô hình làm điểm đại diện cho 3 vùng sinh thái của tỉnh: xã Tam Phúc và xã Bình Dương (vùng đồng bằng huyện Vĩnh Tường), xã Đạo Đức và xã Hoàng Lâu (vùng trung du huyện Tam Đảo), xã Thái Hòa và xã Như Thụy (vùng miền núi huyện Lập Thạch).

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc, đi cùng các kỹ thuật phân tích tài liệu, so sánh thống kê và tổng hợp thực tiễn. Việc lựa chọn phương pháp lịch sử giúp tái hiện khách quan, trung thực tiến trình chỉ đạo qua các mốc thời gian từ 1997-2000 đến 2001-2010; trong khi phương pháp lôgíc cho phép bóc tách bản chất, đánh giá đúng quy luật chuyển đổi từ hợp tác xã thuần túy quản trị đất đai sang hợp tác xã cung ứng dịch vụ hỗ trợ kinh tế hộ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quá trình chuyển đổi và đăng ký lại mô hình hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã năm 1996 đạt được bước tiến căn bản về chất. Tính đến năm 2000, toàn tỉnh đã chuyển đổi và tổ chức đăng ký lại thành công cho 209 trên tổng số 259 hợp tác xã nông nghiệp, giải thể dứt điểm 28 hợp tác xã không đủ điều kiện hoạt động. Tỷ lệ hợp tác xã hoạt động thực chất và có hiệu quả tăng mạnh so với giai đoạn trước năm 1997 (thời điểm chỉ có 25% hợp tác xã hoạt động năng động).

Thứ hai, việc minh bạch hóa tài chính, xác định vốn điều lệ và xử lý công nợ đã tạo dựng nền tảng tài chính lành mạnh. Tổng vốn hoạt động của 209 hợp tác xã nông nghiệp sau chuyển đổi đạt 106,71 tỷ đồng, bình quân mỗi đơn vị sở hữu 510 triệu đồng. Tổng vốn điều lệ đạt 9,126 tỷ đồng với mức vốn góp bình quân của mỗi xã viên là 62.000 đồng. Công tác thanh lý và xử lý nợ tồn đọng được giải quyết cơ bản đối với khối tài sản công nợ phức tạp gồm 26,936 tỷ đồng nợ phải thu và 17,796 tỷ đồng nợ phải trả.

Thứ ba, sự chuyển dịch mạnh mẽ về chức năng hoạt động từ chỉ huy sản xuất sang cung ứng dịch vụ hỗ trợ kinh tế hộ. Có 251 hợp tác xã thu hút 158.802 xã viên (trong đó 236 đơn vị tổ chức đăng ký theo tư cách đại diện hộ gia đình). Về phạm vi dịch vụ, 125 hợp tác xã đảm nhiệm tốt 3 khâu dịch vụ thiết yếu, 80 đơn vị thực hiện 4 khâu và 35 hợp tác xã mở rộng cung cấp từ 5 khâu dịch vụ trở lên, tập trung vào thủy nông, bảo vệ thực vật, chuyển giao giống và kinh doanh điện nông thôn.

Thứ tư, nghiên cứu phát hiện điểm nghẽn lớn về chất lượng nguồn nhân lực quản lý. Khảo sát trên 211 hợp tác xã cho thấy trong tổng số 415 cán bộ ban quản trị, tỷ lệ có trình độ đại học chỉ đạt 8%, trình độ trung cấp chiếm 10%, trong khi có tới 82% cán bộ chỉ ở trình độ sơ cấp hoặc chưa qua đào tạo chuyên môn. Tương tự, ban kiểm soát gồm 227 thành viên có tới 93,4% cán bộ thuộc trình độ sơ cấp hoặc chưa được bồi dưỡng nghiệp vụ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi tạo nên sự chuyển biến tích cực xuất phát từ sự chỉ đạo bài bản của Tỉnh ủy và UBND tỉnh Vĩnh Phúc thông qua Kế hoạch 579/HC ngày 12/6/1997, kết hợp truyền thống sáng tạo trong cơ chế "khoán hộ" lịch sử. Đảng bộ địa phương đã sớm nhận thức rõ hợp tác xã không thể thay thế kinh tế hộ mà phải trở thành bệ đỡ dịch vụ cho hộ tự chủ. Ngược lại, hạn chế về nguồn vốn và nhân lực bắt nguồn từ di chứng bao cấp kéo dài, tâm lý trông chờ ỷ lại của một bộ phận cán bộ cơ sở.

Khi đối sánh với các công trình nghiên cứu về kinh tế hợp tác tại Thanh Hóa hay Phú Thọ trong cùng thời kỳ, kinh nghiệm của Vĩnh Phúc nổi bật ở việc phân loại dứt khoát các mô hình yếu kém và kiên quyết giải thể những đơn vị hình thức. Dữ liệu nghiên cứu phản ánh sự tăng trưởng đồng bộ của nông nghiệp địa phương: năng suất lúa từ mức 26,3 tạ/ha thời kỳ 1991-1995 đã tăng lên 32,06 tạ/ha vào năm 1996 và tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định trong suốt giai đoạn 2001-2010, đưa sản lượng lương thực bình quân đạt 310 kg/người/năm và giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 14,7%.

Để biểu đạt rõ nét những luận điểm này, các dữ liệu lịch sử có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua một biểu đồ cột thể hiện mức độ đa dạng hóa dịch vụ (phân nhóm 3 khâu, 4 khâu, trên 5 khâu) kết hợp cùng một bảng ma trận đối chiếu cấu trúc tài chính giữa tổng vốn hoạt động 106,71 tỷ đồng và cơ cấu công nợ của 217 đơn vị khảo sát.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa và nâng cao toàn diện trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý hợp tác xã. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp cùng Liên minh Hợp tác xã tỉnh Vĩnh Phúc cần triển khai các khóa đào tạo bài bản về quản trị kinh doanh nông nghiệp, kế toán và tiếp thị thị trường. Mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 nâng tỷ lệ cán bộ ban quản trị có trình độ từ đại học trở lên đạt tối thiểu 40% (thay vì mức 8% trước đây) và 100% kế toán trưởng đạt chứng chỉ chuyên môn tài chính.

Thứ hai, tái cấu trúc tài chính và gia tăng quy mô vốn điều lệ hoạt động. Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố và thị xã chỉ đạo các hợp tác xã xử lý dứt điểm 26,936 tỷ đồng nợ đọng cũ trong thời hạn 24 tháng. Đồng thời, vận động xã viên tăng mức vốn góp từ mức bình quân 62.000 đồng lên trên 500.000 đồng/xã viên, nâng mức vốn điều lệ bình quân mỗi hợp tác xã đạt từ 200 triệu đồng đến 500 triệu đồng nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư trang thiết bị cơ giới hóa.

Thứ ba, mở rộng chuỗi liên kết giá trị và dịch vụ bao tiêu sản phẩm đầu ra. Ban quản trị các hợp tác xã cần chủ động liên kết với tối thiểu 15 doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ nông sản xuất khẩu, mở rộng quy mô hoạt động từ 3 khâu cơ bản lên trên 5 khâu dịch vụ khép kín. Lộ trình thực hiện từ năm 2011 đến năm 2018, phấn đấu đạt trên 70% số hợp tác xã cung ứng trọn gói từ khâu phân bón, giống cây trồng đến thu mua, sơ chế nông sản hàng hóa.

Thứ tư, đẩy mạnh dồn điền đổi thửa gắn với quy hoạch kết cấu hạ tầng đồng ruộng. Sở Tài nguyên và Môi trường cùng chính quyền cấp xã cần hoàn thành việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp ổn định lâu dài trên diện tích hơn 55.000 ha đất canh tác toàn tỉnh. Mục tiêu giảm số thửa bình quân từ 5-7 thửa/hộ xuống còn 1-2 thửa/hộ trong giai đoạn 2012-2020, tạo tiền đề kiến tạo tối thiểu 50 cánh đồng mẫu lớn ứng dụng công nghệ sinh học cao.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý Nhà nước về kinh tế tập thể tại các địa phương. Công trình cung cấp hệ thống luận cứ thực tiễn quý báu về quy trình chỉ đạo giải thể hợp tác xã hình thức, kinh nghiệm xử lý tài sản công nợ phức tạp và cơ chế triển khai các Nghị quyết của Đảng về nông nghiệp, nông thôn.

Nhóm 2: Đội ngũ quản trị, giám đốc và cán bộ chuyên trách tại các hợp tác xã nông nghiệp. Luận văn cung cấp bài học thực tế về việc chuyển đổi mô hình từ chỉ huy hành chính sang kinh doanh dịch vụ đa khâu, giải pháp định giá vốn điều lệ tối thiểu từ 10.000 đồng/xã viên và cách thức thiết lập điều lệ hoạt động dân chủ.

Nhóm 3: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Kinh tế nông nghiệp và Quản lý công. Đây là tài liệu tham khảo giàu giá trị học thuật với hệ thống nguồn tư liệu gốc giai đoạn 1997-2010, phân tích sâu sắc bước ngoặt vận dụng đường lối đổi mới kinh tế nông thôn của một tỉnh trọng điểm đồng bằng sông Hồng.

Nhóm 4: Các tổ chức tín dụng, Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã và doanh nghiệp đầu tư nông nghiệp. Nghiên cứu mang lại cái nhìn toàn cảnh về cấu trúc vốn hoạt động 106,71 tỷ đồng của khu vực kinh tế tập thể Vĩnh Phúc, giúp các định chế tài chính xây dựng chính sách cấp vốn vay thế chấp và bảo lãnh tín chấp phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến 151 trên 286 hợp tác xã nông nghiệp tại Vĩnh Phúc hoạt động hình thức trước năm 1997 là gì? Nguyên nhân cốt lõi là do sự chậm trễ trong việc đổi mới tư duy quản lý khi chuyển từ bao cấp sang cơ chế thị trường. Sau khi hộ gia đình được giao quyền sử dụng đất lâu dài theo Nghị định 64/CP, vai trò tập trung tư liệu sản xuất của hợp tác xã bị triệt tiêu, trong khi nội lực tài chính cạn kiệt với số nợ phải thu bị ứ đọng lên tới 26,936 tỷ đồng.

Quy trình chuyển đổi mô hình hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã 1996 tại Vĩnh Phúc được triển khai qua các bước nào? Quy trình thực hiện chuẩn mực qua 3 bước: Bước 1 phổ biến tuyên truyền luật và kiểm kê toàn bộ tài chính, công nợ cũ; Bước 2 đưa phương án xuống từng thôn xóm để nhân dân thảo luận, tiến hành đăng ký xã viên theo hộ; Bước 3 tổ chức đại hội xã viên thông qua điều lệ, bầu ban quản trị mới. Tỉnh tiến hành thí điểm tại 6 xã trước khi tổ chức tập huấn cho 786 cán bộ diện rộng.

Vốn hoạt động và vốn điều lệ của các hợp tác xã Vĩnh Phúc sau chuyển đổi được xác lập dựa trên nguyên tắc nào? Vốn hoạt động được xác định từ toàn bộ tài sản hiện có sau khi trừ nợ phải trả, cộng với vốn lưu động và quỹ tích lũy. Tại Vĩnh Phúc, tổng vốn hoạt động của 209 hợp tác xã đạt 106,71 tỷ đồng (bình quân 510 triệu đồng/hợp tác xã). Vốn điều lệ đạt 9,126 tỷ đồng, được phân bổ cho xã viên thành vốn góp với mức khởi điểm tối thiểu từ 10.000 đồng trở lên.

Thực trạng trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý hợp tác xã thời kỳ này bộc lộ những hạn chế gì? Đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm thực tế nhưng thiếu kiến thức quản trị thị trường. Khảo sát 211 hợp tác xã cho thấy có tới 82% ủy viên ban quản trị và 93,4% thành viên ban kiểm soát chỉ có trình độ sơ cấp hoặc chưa từng qua đào tạo nghiệp vụ, chỉ có 8% cán bộ ban quản trị sở hữu bằng đại học, gây trở ngại lớn cho công tác lập kế hoạch kinh doanh.

Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với kinh tế hợp tác đã mang lại hiệu quả trực tiếp nào cho nông nghiệp Vĩnh Phúc giai đoạn 1997-2010? Sự chuyển đổi kịp thời đã biến hợp tác xã thành cầu nối dịch vụ đắc lực cho 158.802 hộ xã viên. Nhờ cung ứng tốt các khâu dịch vụ giống, thủy lợi và phòng trừ sâu bệnh, năng suất lúa toàn tỉnh tăng từ 26,3 tạ/ha lên trên 32,06 tạ/ha, đưa thu ngân sách địa phương từ dưới 100 tỷ đồng vượt ngưỡng 1.000 tỷ đồng, đời sống nông dân được nâng cao rõ rệt.

Kết luận

  • Tái lập tỉnh năm 1997, Đảng bộ Vĩnh Phúc đã lãnh đạo chuyển đổi thành công 209 trên 259 hợp tác xã nông nghiệp sang mô hình tự chủ theo Luật Hợp tác xã năm 1996.
  • Minh bạch hóa tài chính, khơi thông 106,71 tỷ đồng vốn hoạt động và giải quyết căn bản 26,936 tỷ đồng công nợ tồn đọng từ thời kỳ bao cấp.
  • Thiết lập hệ thống cung ứng từ 2 đến 5 khâu dịch vụ thiết yếu phục vụ trực tiếp cho 158.802 xã viên trên địa bàn 9 huyện, thành, thị.
  • Nhận diện rõ hạn chế về nhân lực khi 82% cán bộ ban quản trị chưa qua đào tạo chuẩn mực, từ đó đề ra các chiến lược đào tạo bồi dưỡng trọng điểm.
  • Tạo động lực thúc đẩy nông nghiệp tăng trưởng bền vững, nâng năng suất lúa đạt 32,06 tạ/ha và đóng góp quan trọng đưa tỉnh gia nhập câu lạc bộ ngân sách 1.000 tỷ đồng.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã hệ thống hóa một cách khách quan, toàn diện kho tàng tư liệu gốc và đúc kết những bài học kinh nghiệm sâu sắc về phương thức lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đối với thành phần kinh tế hợp tác. Lộ trình phát triển tiếp theo của địa phương đòi hỏi sự chuyển mình mạnh mẽ hơn nữa theo Luật Hợp tác xã năm 2012, hướng tới xây dựng các liên hiệp hợp tác xã công nghệ cao giai đoạn 2015-2025. Bạn đọc, các nhà nghiên cứu và cán bộ quản trị hãy khai phóng nguồn tri thức học thuật phong phú từ công trình luận văn này để ứng dụng hiệu quả vào công cuộc phát triển kinh tế tập thể hiện đại.