Tổng quan nghiên cứu

Biến đổi khí hậu toàn cầu và các hiện tượng thời tiết cực đoan đang trở thành thách thức an ninh phi truyền thống nghiêm trọng hàng đầu, đe dọa trực tiếp đến đời sống dân sinh và sự phát triển bền vững của nhiều quốc gia. Theo ước tính từ các báo cáo kinh tế của Ngân hàng Thế giới, thiệt hại kinh tế toàn cầu do các thảm họa khí hậu gây ra có thể lên tới khoảng 7.000 tỷ USD trong một thập kỷ nếu không có các biện pháp can thiệp kịp thời. Tại Việt Nam, trong vòng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng 0,5 độ C và mực nước biển dâng khoảng 20 cm, xếp nước ta vào nhóm các quốc gia chịu tổn thương nặng nề nhất. Địa bàn xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái là một xã miền núi đặc thù với 3.356 nhân khẩu sinh sống tại 956 hộ gia đình, nơi tỷ lệ hộ nghèo còn ở mức cao khoảng 24,7%. Nằm dọc hữu ngạn sông Hồng với chiều dài 4,5 km và có hệ thống suối Gùa chảy qua, xã Y Can thường xuyên phải đối mặt với các hiện tượng thời tiết cực đoan như lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất và hạn hán kéo dài. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là các phản ứng ứng phó của người dân địa phương hiện nay vẫn mang tính tự phát, manh mún, thiếu sự gắn kết hệ thống, dẫn đến năng lực phục hồi sinh kế còn thấp. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn nhằm đánh giá toàn diện nhận thức, thực trạng ứng phó và nguồn lực sẵn có của người dân, từ đó ứng dụng lý thuyết công tác xã hội để xây dựng mô hình liên kết cộng đồng phòng ngừa và thích ứng hiệu quả. Phạm vi nghiên cứu được triển khai thực địa từ tháng 04/2014 đến tháng 10/2014, kết hợp hồi cứu chuỗi số liệu khí tượng thủy văn trong 20 năm từ năm 1992 đến năm 2012 tại 12 thôn bản trên toàn xã. Nghiên cứu mang lại ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn khi cung cấp khung can thiệp cộng đồng giúp nâng cao từ 30% đến 40% hiệu quả phối hợp giữa chính quyền cơ sở, các tổ chức đoàn thể và 956 hộ dân trong quản lý rủi ro thiên tai.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề ứng phó thời tiết cực đoan dưới lăng kính của chuyên ngành Công tác xã hội thông qua việc tích hợp ba lý thuyết nền tảng:

Thứ nhất, Thuyết hệ thống của Ludwig von Bertalanffy được sử dụng làm khung phân tích chủ đạo. Xã Y Can được nhìn nhận như một đại hệ thống xã hội hoàn chỉnh, vận hành thông qua sự tương tác mật thiết giữa 6 tiểu hệ thống cấu thành gồm: hộ gia đình, chính quyền địa phương, trạm y tế, trường học, các hội đoàn thể quần chúng (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên) và các tổ chức phát triển xã hội. Nguyên tắc cân bằng hệ thống chỉ ra rằng để giảm thiểu rủi ro thiên tai, không thể chỉ dựa vào một tiểu hệ thống đơn lẻ mà bắt buộc phải thiết lập cơ chế tương tác đa chiều, bổ trợ thông tin và chia sẻ nguồn lực giữa các bên liên quan.

Thứ hai, Lý thuyết phát triển cộng đồng dựa vào cộng đồng của tác giả Mendes. Tiếp cận này nhấn mạnh nguyên tắc trao quyền cho người dân địa phương, biến họ từ đối tượng thụ hưởng cứu trợ thụ động thành chủ thể chủ động kiểm soát tiến trình thích ứng. Tại địa bàn xã Y Can, việc trao quyền đặc biệt có ý nghĩa đối với đồng bào dân tộc Dao chiếm 31,9% dân số, giúp khơi dậy tri thức bản địa, xóa bỏ các tập tục lạc hậu và nâng cao năng lực tự quyết trong việc bảo vệ môi trường sống.

Thứ ba, Lý thuyết thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow. Lý thuyết này giải thích động cơ thúc đẩy hành vi của người dân. Nhu cầu an toàn tính mạng và bảo vệ tư liệu sản xuất là các nhu cầu cơ bản ở tầng đáy, phải được đáp ứng trước tiên thông qua các phương án cảnh báo sớm. Khi nhu cầu an toàn được bảo đảm, người dân sẽ phát triển nhu cầu gắn kết xã hội, chủ động tham gia các nhóm tự quản và phát huy năng lực bản thân trong công tác phòng chống thiên tai.

Bên cạnh đó, nghiên cứu chuẩn hóa các khái niệm công cụ then chốt như: Hiện tượng thời tiết cực đoan, Biến đổi khí hậu, Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, và Liên kết mạng lưới xã hội, đồng thời bám sát khung pháp lý của Luật Phòng, chống thiên tai năm 2013 (Luật số 33/2013/QH13) và Quyết định số 1002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao nhận thức cộng đồng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế nghiên cứu hỗn hợp kết hợp chặt chẽ giữa phân tích định lượng và đánh giá định tính nhằm đảm bảo độ tin cậy khoa học cao:

Nguồn dữ liệu và cỡ mẫu: Khảo sát định lượng được thực hiện trên cỡ mẫu 200 hộ gia đình, thu về 197 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ phản hồi 98,5%). Nghiên cứu tiến hành 15 cuộc phỏng vấn sâu đối với các cá nhân từ 35 tuổi trở lên gồm lãnh đạo Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã, cán bộ phụ trách Tài nguyên Môi trường, trưởng thôn bản và người dân có kinh nghiệm ứng phó thiên tai lâu năm. Ngoài ra, 1 cuộc thảo luận nhóm tập trung gồm 8 đại biểu đại diện cho chính quyền xã, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và đại diện tổ chức Tầm nhìn Thế giới thuộc Chương trình phát triển vùng Trấn Yên đã được tổ chức để làm sâu sắc các chủ đề nghiên cứu.

Phương pháp chọn mẫu: Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp chọn mẫu có chủ đích. Địa bàn nghiên cứu được phân tầng theo 3 vùng cảnh quan sinh thái: vùng đồi thấp ven sông Hồng (dân cư chủ yếu là người Kinh chiếm 65,9%), vùng đồi cao san gạt taluy và vùng núi cao ven suối ngòi (nơi cư trú tập trung của người Dao chiếm 31,9%). Danh sách hộ dân được chọn ngẫu nhiên trong các buổi họp thôn nhằm bảo đảm tính đại diện cao về cơ cấu kinh tế, địa lý và thành phần tộc người.

Phương pháp phân tích dữ liệu: Số liệu định lượng được nhập, làm sạch và xử lý thống kê mô tả bằng phần mềm SPSS và Microsoft Excel. Các kỹ thuật phân tích bao gồm thống kê tần số, kiểm định tương quan chéo và so sánh tỷ lệ phần trăm. Dữ liệu định tính từ phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được xử lý theo phương pháp phân tích chủ đề kết hợp ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) và bộ công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA). Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm thực hiện kiểm tra chéo nguồn tin (triangulation), loại bỏ các sai lệch nhận thức cá nhân và phản ánh chính xác thực trạng nguồn lực nội sinh của cộng đồng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa và phân tích dữ liệu tại xã Y Can đã làm sáng tỏ 4 nhóm phát hiện then chốt sau:

Thứ nhất, mức độ cảm nhận rõ nét của người dân về sự gia tăng của thời tiết cực đoan. Có tới trên 90% số hộ được khảo sát khẳng định trong 20 năm qua (1992 - 2012), thời tiết trên địa bàn có sự biến đổi dị thường. Mùa hè nhiệt độ nắng nóng đỉnh điểm tăng cao từ 35 độ C lên tới 40 độ C, trong khi mùa đông xuất hiện các đợt rét đậm kéo dài từ 115 đến 125 ngày. Khoảng 85% người dân vùng núi cao ghi nhận hiện tượng sương muối và băng giá xuất hiện với tần suất dày đặc hơn, làm đảo lộn chu kỳ sinh trưởng của cây trồng và vật nuôi.

Thứ hai, quy mô thiệt hại sinh kế diễn ra trên diện rộng và mang tính chu kỳ khốc liệt. Địa bàn xã có 275,21 ha đất sản xuất nông nghiệp, trong đó diện tích trồng lúa nước dọc suối Gùa và ven sông Hồng thường xuyên bị ngập trắng mỗi khi có mưa lớn kéo dài. Cơn bão số 5 năm 2012 và trận lũ lớn trên lưu vực sông Hồng đã nhấn chìm nhiều hoa màu, gây sạt lở hàng nghìn mét khối đất đồi tại các thôn Khe Chè, Hạnh Phúc. Ngược lại, vào các tháng mùa khô, lượng mưa trung bình chỉ đạt khoảng 52,5 mm/tháng gây hạn hán nghiêm trọng, dẫn đến nguy cơ cháy rừng cao tại các vùng núi cao thuộc các thôn Minh An, An Thành.

Thứ ba, thực trạng ứng phó kỹ thuật của người dân còn mang tính thủ công và tỷ lệ áp dụng tiến bộ khoa học chưa đồng đều. Có 78,5% người dân có thói quen dựa vào kinh nghiệm dân gian truyền khẩu (như nhìn hiện tượng cây nổ hoa trắng để dự báo mức nước lũ sông, xem hướng mây bay), nhưng việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng chịu hạn, chịu ngập chỉ đạt khoảng 42% diện tích canh tác. Trong chăn nuôi, tỷ lệ hộ ứng dụng mô hình đệm lót sinh học và chọn giống lợn Đen bản địa có sức đề kháng cao chỉ chiếm khoảng 32,5% tổng số hộ chăn nuôi trên địa bàn.

Thứ tư, nhu cầu liên kết mạng lưới cộng đồng đạt mức đồng thuận rất cao. Kết quả khảo sát chỉ ra rằng 86% người dân và 100% cán bộ chính quyền địa phương nhận thức việc liên kết các nguồn lực liên thôn là vô cùng cấp thiết, bởi các biện pháp ứng phó riêng lẻ cấp hộ gia đình hoàn toàn bất lực trước những đợt lũ ống, lũ quét và sạt lở đất quy mô lớn.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét và đối chiếu kết quả nghiên cứu, các phát hiện thực tế có thể được hệ thống hóa rõ nét thông qua biểu đồ phân hóa mức độ tổn thương sinh kế giữa các nhóm xã hội và bảng ma trận đánh giá năng lực của các tiểu hệ thống. Biểu đồ cấu trúc kinh tế chỉ ra rằng nhóm 236 hộ nghèo (chiếm 24,7% toàn xã) và các hộ người dân tộc Dao tại vùng núi cao chịu mức độ thiệt hại tài sản cao gấp 1,5 lần so với nhóm hộ người Kinh làm nghề kinh doanh dịch vụ dọc tuyến tỉnh lộ 116. Nguyên nhân cốt lõi là do địa hình vùng cao chia cắt mạnh, điều kiện tiếp cận thông tin cảnh báo sớm qua hệ thống loa truyền thanh xã còn bị gián đoạn.

Đáng chú ý, quá trình xây dựng tuyến đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai chạy qua địa bàn xã với chiều dài 4 km đã tạo nên bờ ngăn dòng chảy tự nhiên, làm giảm đáng kể khả năng thoát lũ tại các thôn Hạnh Phúc, Thắng Lợi và Hòa Bình, khiến thời gian ngập úng đất nông nghiệp kéo dài thêm từ 24 đến 48 giờ sau mỗi trận mưa lớn.

So sánh với Báo cáo đặc biệt về Quản lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan tại Việt Nam (SREX Việt Nam 2012), kết quả nghiên cứu tại xã Y Can đã phản ánh trung thực quy luật chung: công tác phòng chống thiên tai cấp xã hiện nay chủ yếu tập trung vào giai đoạn khắc phục hậu quả mà chưa đầu tư bài bản cho giai đoạn phòng ngừa và chuẩn bị. Đánh giá nguồn lực cho thấy các tổ chức quần chúng như Hội Phụ nữ và Hội Nông dân sở hữu tới hơn 65% tiềm năng huy động nhân lực hỗ trợ hậu cần và tuyên truyền tại chỗ, nhưng chưa được phân quyền chủ động về tài chính trong phương châm bốn tại chỗ của Ủy ban nhân dân xã. Điều này khẳng định khoảng trống lớn trong việc thiết lập một cơ chế liên kết đồng bộ giữa các tiểu hệ thống xã hội.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao năng lực ứng phó bền vững với các hiện tượng thời tiết cực đoan dựa vào cộng đồng tại xã Y Can, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp can thiệp công tác xã hội mang tính khả thi cao:

Thứ nhất, thành lập và kiện toàn Mạng lưới Tổ công tác xã hội ứng phó thiên tai cấp xã. Ủy ban nhân dân xã Y Can giữ vai trò chủ trì, phối hợp với Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai, Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên thành lập 12 đội phản ứng nhanh tại 12 thôn bản trong giai đoạn 2015 - 2016. Mục tiêu đạt 100% hộ dân nhận được thông tin dự báo thời tiết cực đoan trước ít nhất 30 phút qua hệ thống cảnh báo đa phương tiện (loa không dây, còi báo động và tin nhắn cụm dân cư).

Thứ hai, triển khai chương trình chuyển đổi sinh kế nông nghiệp thích ứng khí hậu. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Trấn Yên phối hợp cùng Trạm Khuyến nông và Hội Nông dân xã tổ chức 15 lớp tập huấn kỹ thuật thâm canh giống lúa mới ngắn ngày có khả năng chống ngập úng, mở rộng diện tích trồng ngô, khoai xen canh trên 100 ha đất soi bãi ven sông Hồng. Đồng thời, nhân rộng mô hình chăn nuôi lợn Đen bản địa kết hợp đệm lót sinh học cho 200 hộ nghèo và cận nghèo, hoàn thành trước quý IV năm 2016 nhằm giảm 25% tỷ lệ thất thoát vật nuôi do dịch bệnh và giá rét.

Thứ ba, nâng cấp cơ sở hạ tầng tiêu thoát lũ và gia cố các điểm xung yếu. Ủy ban nhân dân huyện Trấn Yên bố trí nguồn vốn ngân sách kết hợp huy động đóng góp ngày công lao động của người dân để nạo vét toàn diện 6 km dòng chảy suối Gùa, gia cố 5 cống tiêu thoát nước chính dọc tuyến đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai trước mùa mưa lũ năm 2017, bảo đảm an toàn cho hơn 270 ha diện tích canh tác lúa và hoa màu.

Thứ tư, thể chế hóa và lồng ghép tri thức bản địa vào hương ước, quy ước cộng đồng. Ban Văn hóa xã phối hợp với già làng, trưởng bản người Dao và Ban Giám hiệu các trường học trên địa bàn biên soạn tài liệu truyền thông về bảo vệ rừng đầu nguồn, giữ nguồn nước suối Gùa và quy tắc an toàn sơ tán lũ quét. Hoàn thành việc tích hợp kỹ năng ứng phó sinh tồn vào chương trình ngoại khóa cho 100% học sinh và các buổi sinh hoạt dòng họ, bảo đảm 95% chủ hộ nắm vững quy trình xử lý khẩn cấp trước năm 2018.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là công trình khoa học có giá trị ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

Nhóm thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý nhà nước. Lãnh đạo Ủy ban nhân dân các cấp, cán bộ ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường có thể sử dụng các luận cứ khoa học và số liệu thực chứng của đề tài để cụ thể hóa Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu cấp huyện, cấp tỉnh, lồng ghép hiệu quả quản lý rủi ro thiên tai vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương theo tinh thần Nghị quyết số 24-NQ/TW, giúp tiết kiệm khoảng 20% chi phí cứu trợ ngân sách hàng năm.

Nhóm thứ hai, nhân viên công tác xã hội và cán bộ phát triển cộng đồng. Luận văn cung cấp mô hình can thiệp phát triển cộng đồng dựa trên Thuyết hệ thống, đóng vai trò như một cẩm nang hướng dẫn thực hành kết nối nguồn lực cho cán bộ dự án tại hơn 500 xã miền núi có điều kiện địa hình và kinh tế tương đồng trên phạm vi cả nước.

Nhóm thứ ba, các tổ chức phi chính phủ và cơ quan tài trợ quốc tế. Các tổ chức như Tầm nhìn Thế giới, Oxfam, UNDP hay Hội đồng Môi trường Toàn cầu có thể tham khảo nguồn dữ liệu điều tra chi tiết từ 197 hộ dân và các phân tích SWOT để thiết kế, tài trợ các dự án sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu với mục tiêu trúng thực tế và hiệu quả nguồn vốn viện trợ.

Nhóm thứ tư, giảng viên, học viên cao học và sinh viên các khối ngành Khoa học Xã hội. Tài liệu là tài liệu tham khảo phương pháp luận chất lượng về cách kết hợp nghiên cứu xã hội học với khoa học khí hậu, cung cấp mẫu thiết kế bảng hỏi và kỹ năng phỏng vấn sâu trong nghiên cứu thực địa chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng mang lại lợi thế vượt trội gì so với phương thức cứu trợ từ trên xuống? Tiếp cận dựa vào cộng đồng trao quyền quyết định và phát huy tối đa sức mạnh nội sinh tại chỗ, giúp giảm tới 70% thời gian phản ứng ban đầu khi xảy ra thiên tai bất ngờ. Tại xã Y Can, việc huy động các tổ tự quản xóm đã giúp di dời kịp thời 100% hộ dân ven sông Hồng và suối Gùa lên vị trí an toàn trước khi lực lượng cứu hộ chuyên trách của huyện tiếp cận địa bàn.

Làm thế nào để vận dụng Thuyết hệ thống trong việc liên kết các lực lượng phòng chống thiên tai tại cơ sở? Thuyết hệ thống xác lập mối liên kết hữu cơ giữa 6 tiểu hệ thống: hộ gia đình cung cấp nhân lực, chính quyền bảo đảm chỉ đạo pháp lý, trạm y tế chuẩn bị cơ số thuốc cứu thương, các đoàn thể phụ nữ và nông dân phụ trách hậu cần, cứu trợ. Việc phân định rõ vai trò giúp loại bỏ 100% sự chồng chéo nhiệm vụ và tăng 35% hiệu suất huy động nguồn lực địa phương.

Tri thức bản địa của đồng bào dân tộc Dao được khai thác cụ thể như thế nào trong nghiên cứu? Đồng bào dân tộc Dao chiếm 31,9% dân số xã Y Can sở hữu nhiều kinh nghiệm dân gian quý báu như nhận biết lũ quét qua độ đục của nước suối Gùa, dự báo gió bão qua hiện tượng thực vật và các tập tục bảo vệ rừng đầu nguồn linh thiêng. Luận văn đã chuẩn hóa các tri thức này thành các khuyến cáo kỹ thuật, giúp giảm thiểu khoảng 30% rủi ro mùa vụ cho cộng đồng.

Mô hình can thiệp công tác xã hội trong luận văn có khả năng nhân rộng sang các địa bàn khác không? Mô hình hoàn toàn có khả năng nhân rộng tại hơn 100 xã miền núi trung du Bắc Bộ có dòng sông Hồng chảy qua. Nhờ cấu trúc linh hoạt dựa trên mạng lưới thôn bản sẵn có và phát huy phương châm bốn tại chỗ, mô hình giúp tối ưu hóa năng lực tự quản của 956 hộ dân mà không đòi hỏi tăng biên chế hay phát sinh chi phí quản lý hành chính cồng kềnh.

Kết quả điều tra 197 hộ dân chỉ ra điểm nghẽn hạ tầng lớn nhất tại xã Y Can là gì? Điểm nghẽn hạ tầng lớn nhất được 197 hộ dân phản ánh là việc xây dựng 4 km tuyến đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai qua xã làm thu hẹp dòng chảy thoát lũ tự nhiên, gây ngập úng kéo dài cho 3 thôn vùng thấp. Luận văn đã kiến nghị nâng cấp 5 cống thoát nước lớn để bảo vệ sinh kế cho hơn 270 ha diện tích lúa hai vụ.

Kết luận

Qua quá trình nghiên cứu lý luận và khảo sát thực nghiệm công phu, luận văn khẳng định 5 kết luận trọng tâm:

• Thứ nhất, luận văn đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận công tác xã hội trong ứng phó với thời tiết cực đoan thông qua Thuyết hệ thống, Thuyết phát triển cộng đồng và Tháp nhu cầu Maslow, phân tích trên chuỗi số liệu 20 năm tại xã Y Can.

• Thứ hai, nghiên cứu lượng hóa chính xác mức độ tổn thương của 3.356 nhân khẩu, chỉ rõ 24,7% hộ nghèo và 31,9% đồng bào dân tộc Dao là nhóm đối tượng chịu rủi ro thiên tai cao nhất trước các hiện tượng ngập lụt, hạn hán và sạt lở đất.

• Thứ ba, chứng minh thực tiễn rằng hơn 78% người dân sẵn sàng tham gia liên kết cộng đồng, khẳng định nội lực địa phương là yếu tố quyết định để chuyển dịch từ thế bị động ứng phó sang chủ động thích ứng an toàn.

• Thứ tư, đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp can thiệp công tác xã hội đồng bộ từ nâng cao năng lực thể chế, chuyển đổi cây trồng vật nuôi, hoàn thiện hạ tầng đến bảo tồn tri thức bản địa, có khả năng giảm từ 20% đến 30% thiệt hại sinh kế hàng năm.

• Thứ năm, xác lập lộ trình hành động cụ thể cho giai đoạn 2015 - 2020 nhằm hoàn thiện mô hình phòng chống thiên tai dựa vào cộng đồng; kêu gọi chính quyền địa phương, các nhà khoa học và các tổ chức xã hội tăng cường đầu tư nguồn lực, chung tay xây dựng cộng đồng nông thôn miền núi an toàn, thịnh vượng và phát triển bền vững trước thách thức biến đổi khí hậu.