Tổng quan luận án

Bệnh tim bẩm sinh là một trong những dị tật tim mạch phổ biến ở trẻ em với tỷ lệ mắc khoảng 9 trường hợp trên 1.000 trẻ sinh sống. Trong nhóm bệnh lý này, tim bẩm sinh dạng một tâm thất là tổn thương giải phẫu và huyết động phức tạp, đặc trưng bởi tình trạng chỉ có một tâm thất duy nhất đủ kích thước và chức năng co bóp để duy trì tuần hoàn nuôi cơ thể. Các bệnh lý điển hình bao gồm thiểu sản van ba lá, hội chứng thiểu sản tim trái, teo động mạch phổi có vách liên thất nguyên vẹn, thất trái hai đường vào hoặc các thể tim một thất không xác định. Đối với nhóm tổn thương này, phẫu thuật sửa chữa giải phẫu hai thất thường không khả thi hoặc có nguy cơ tử vong rất cao; do đó, phẫu thuật sửa chữa sinh lý theo nguyên lý Fontan là lựa chọn điều trị thì cuối cùng.

Về khoảng trống nghiên cứu, phẫu thuật Fontan đã trải qua nhiều giai đoạn cải tiến kỹ thuật trên thế giới nhằm giảm thiểu tỷ lệ tử vong và các biến chứng sớm cũng như muộn (rối loạn nhịp tim, huyết khối, ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch, hội chứng mất protein ruột). Kỹ thuật nối tĩnh mạch chủ dưới với động mạch phổi bằng ống nối nhân tạo ngoài tim (Extracardiac conduit) được Marceletti mô tả từ năm 1990 đã khắc phục được nhiều nhược điểm của kỹ thuật nối nhĩ - phổi kinh điển và kỹ thuật đường hầm trong tim (Lateral tunnel). Tại Việt Nam, vào thời điểm thực hiện đề tài, đa số các cơ sở phẫu thuật tim mạch mới chỉ thực hiện phổ biến phẫu thuật chuẩn bị thì một (phẫu thuật Glenn hai hướng); các báo cáo về phẫu thuật Fontan mới ở bước đầu với số lượng ca hạn chế. Chưa có công trình nghiên cứu hệ thống nào đánh giá toàn diện về đặc điểm tổn thương giải phẫu, tiêu chuẩn chỉ định và kết quả phẫu thuật Fontan bằng ống nối ngoài tim sử dụng mạch nhân tạo Gore-Tex, thực hiện trên quần thể 100% bệnh nhân đã được phẫu thuật Glenn hai hướng trước đó và 100% được mở cửa sổ giải áp chủ động giữa ống nối nhân tạo với tâm nhĩ.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể gồm hai nội dung:

  1. Nhận xét đặc điểm tổn thương, chỉ định áp dụng kỹ thuật Fontan với ống nối ngoài tim trong bệnh tim bẩm sinh dạng một tâm thất tại Trung tâm tim mạch - Bệnh viện E.
  2. Đánh giá kết quả sớm và trung hạn phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim trong điều trị tim bẩm sinh dạng một tâm thất tại Trung tâm tim mạch - Bệnh viện E.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các bệnh nhi được chẩn đoán tim bẩm sinh phức tạp dạng một tâm thất, đã hoàn thành phẫu thuật Glenn hai hướng (thì một), có chỉ định và được thực hiện phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim.
  • Không gian nghiên cứu: Trung tâm tim mạch - Bệnh viện E.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8 năm 2012 đến tháng 12 năm 2015.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa lịch sử phát triển của các phương pháp điều trị ngoại khoa bệnh tim bẩm sinh dạng một tâm thất và tuần hoàn Fontan qua các dấu mốc y học quốc tế và trong nước:

  • Nền tảng sinh lý và các phẫu thuật tạm thời: Sau các quan sát sinh lý tuần hoàn của William Harvey và nghiên cứu thực nghiệm của Starr (1943), Rodbard và Wagner (1949) về dòng máu lên phổi không cần thất phải, William Wallace Lumpkin Glenn (1958) đã thực hiện ca mổ nối tĩnh mạch chủ trên với động mạch phổi phải (phẫu thuật Glenn kinh điển). Sau đó, Alex Haller phát triển phẫu thuật Glenn hai hướng (Bidirectional Glenn), đưa máu từ tĩnh mạch chủ trên lên cả hai nhánh động mạch phổi, trở thành phẫu thuật bắc cầu chuẩn bị thì một tiêu chuẩn. Bên cạnh đó, các phẫu thuật tạm thời khác được tổng kết gồm thắt hẹp động mạch phổi (Pulmonary Artery Banding), phẫu thuật cầu nối chủ - phổi Blalock - Taussig cải tiến và phẫu thuật Norwood (Norwood, 1983) cho hội chứng thiểu sản tim trái.
  • Sự tiến triển của phẫu thuật Fontan: Năm 1968, Francis Fontan và Baudet thực hiện và công bố (1971) kỹ thuật nối tiểu nhĩ phải vào động mạch phổi, khâu kín van ba lá và vá vách liên nhĩ cho bệnh nhân thiểu sản van ba lá. Thập niên 1970, Bjork và Kreutzer mô tả kỹ thuật nối nhĩ phải - thất phải nhưng ít phổ biến. Năm 1988, Marc de Leval phát triển kỹ thuật đường hầm trong tim (Lateral tunnel). Đến năm 1990, Marceletti cùng cộng sự cải tiến kỹ thuật nối tĩnh mạch chủ dưới với động mạch phổi bằng ống nối mạch nhân tạo ngoài tim (Extracardiac conduit), tạo ra bước chuyển biến quan trọng giúp bảo tồn hình thái tâm nhĩ, giảm loạn nhịp và huyết khối.
  • Kỹ thuật mở cửa sổ (Fenestration): Được Bridges và Castaneda mô tả năm 1988 nhằm tạo luồng thông phải - trái có kiểm soát giữa đường dẫn máu tĩnh mạch chủ dưới và tâm nhĩ, giúp duy trì cung lượng tim và giải áp hệ tĩnh mạch cho các bệnh nhân có sức cản mạch phổi cao.
  • Các nghiên cứu quốc tế lớn:
    • Francis Fontan (1990) báo cáo kết quả lâu dài trên tạp chí Circulation với tỷ lệ sống sau 1 tháng là 92%, sau 1 năm là 88%, sau 5 năm là 86%, 10 năm là 81% và 15 năm là 73%.
    • Ajay J. Iyengar (2014) phân tích 1.071 bệnh nhân từ Australia & New Zealand Fontan Registry, chứng minh tỷ lệ tử vong và thất bại phẫu thuật ở nhóm ống nối ngoài tim thấp hơn so với nhóm đường hầm trong tim và nhóm nối nhĩ - phổi kinh điển.
    • Soo-Jin Kim (tạp chí J Thorac Cardiovasc Surg) báo cáo trên 200 bệnh nhân mổ Fontan ngoài tim với 94% đã làm Glenn trước đó, tỷ lệ tử vong tại viện là 3%.
    • Yoshihisa Tanoue (2007) tổng kết 333 trường hợp Glenn hai hướng khẳng định hiệu quả chuẩn bị trước Fontan.
    • Luc Mertens nghiên cứu trên 3.029 bệnh nhân tại 35 trung tâm, ghi nhận tỷ lệ biến chứng mất protein ruột (PLE) là 3,7% với tỷ lệ tử vong 5 năm lên tới 50%.
  • Nghiên cứu tại Việt Nam: Tác giả điểm lại các báo cáo bước đầu về phẫu thuật Fontan tại Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh của Phạm Hữu Minh Nhựt (giai đoạn 2007 - 2014 trên 37 bệnh nhân, tỷ lệ tử vong sớm 5,4%), Bệnh viện Tim Hà Nội, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và Trung tâm tim mạch - Bệnh viện E (2013, 2015).

Khoảng trống luận án giải quyết: Luận án tập trung đánh giá đồng bộ một quy trình phẫu thuật Fontan ngoài tim sử dụng mạch nhân tạo Gore-Tex kết hợp mở cửa sổ giải áp chủ động 100% tại một trung tâm phẫu thuật tim mạch lớn ở Việt Nam, trên nhóm bệnh nhân đồng nhất đã qua bước phẫu thuật Glenn hai hướng.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Sinh lý bệnh tuần hoàn tim một thất và tuần hoàn Fontan: Ở bệnh nhân tim một thất, tuần hoàn hệ thống và tuần hoàn phổi hoạt động song song thay vì nối tiếp, dẫn đến tình trạng trộn máu động - tĩnh mạch tại tâm thất duy nhất, gây quá tải thể tích tâm thất và thiếu oxy máu động mạch đại tuần hoàn. Phẫu thuật Fontan tái lập lại sự nối tiếp giữa hai vòng tuần hoàn bằng cách đưa toàn bộ máu tĩnh mạch hệ thống (tĩnh mạch chủ trên qua miệng nối Glenn có sẵn và tĩnh mạch chủ dưới qua ống nối ngoài tim) trực tiếp lên động mạch phổi mà không cần qua buồng thất phải. Động lực đưa máu qua mao mạch phổi phụ thuộc hoàn toàn vào áp lực tĩnh mạch hệ thống, sự đàn hồi của cây động mạch phổi và áp lực hút âm tính trong lồng ngực khi hít vào.
  • Tiêu chuẩn chỉ định phẫu thuật: Luận án dựa trên 10 tiêu chuẩn kinh điển của Choussat và Fontan: tĩnh mạch chủ bình thường, thể tích nhĩ phải bình thường, áp lực động mạch phổi trung bình $\le 15\text{ mmHg}$, sức cản mạch phổi $< 4\text{ đơn vị Wood/m}^2$, tỷ lệ đường kính ĐMP/ĐMC $\ge 0,75$, phân suất tống máu thất chức năng $\text{EF} \ge 0,6$, van nhĩ thất bình thường, các cầu nối trước đó hoạt động tốt. Đồng thời, tác giả cập nhật các tiêu chuẩn mở rộng hiện đại (áp lực ĐMP $< 20\text{ mmHg}$, tuổi mổ $\ge 2$ tuổi).
  • Đánh giá hình thái và huyết động: Sử dụng chỉ số diện tích bề mặt cơ thể (BSA) theo công thức Du Bois ($\text{BSA} = W^{0,425} \times H^{0,725} \times 0,007184$), đối chiếu kích thước buồng tim và vòng van theo bảng z-score của Michael D. Pettersen (z-score $<-2$ được định nghĩa là thiểu sản); chỉ số McGoon đánh giá mức độ phát triển của hai nhánh động mạch phổi ($\ge 1,8$ là đủ điều kiện).

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp theo dõi dọc có so sánh các chỉ số huyết động, lâm sàng trước mổ, sau mổ tức thì, sau 6 tháng và tại thời điểm khám lại cuối cùng.
  • Tiêu chuẩn lựa chọn:
    1. Bệnh nhân được chẩn đoán tim bẩm sinh phức tạp dạng một tâm thất đã hoàn thành phẫu thuật Glenn hai hướng (thì một) và có chỉ định phẫu thuật Fontan.
    2. Bệnh nhân được phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim tại Trung tâm tim mạch - Bệnh viện E.
    3. Hồ sơ bệnh án đầy đủ thông tin, dữ liệu theo mẫu bệnh án nghiên cứu.
    4. Bệnh nhân và gia đình đồng thuận tham gia nghiên cứu.
  • Tiêu chuẩn loại trừ:
    1. Bệnh nhân mổ Fontan thì đầu chưa qua phẫu thuật Glenn hai hướng.
    2. Bệnh nhân mổ Fontan theo kỹ thuật kinh điển hoặc kỹ thuật đường hầm trong tim.
    3. Hồ sơ bệnh án thiếu hụt các biến số nghiên cứu chính.
  • Quy trình phẫu thuật và kỹ thuật can thiệp:
    • Gây mê toàn thân nội khí quản, đặt đường đo huyết áp động mạch xâm lấn và áp lực tĩnh mạch trung ương.
    • Thiết lập tuần hoàn ngoài cơ thể (chạy máy THNCT) với canun ĐMC lên, canun tĩnh mạch chủ trên (trên miệng nối Glenn) và tĩnh mạch chủ dưới (sát cơ hoành). Có thể áp dụng kỹ thuật kẹp khâu không dùng THNCT (Clamp and Sew) đối với các trường hợp giải phẫu thuận lợi không có tổn thương trong tim.
    • Sử dụng ống ghép nhân tạo Gore-Tex để nối tĩnh mạch chủ dưới (sau khi cắt rời khỏi nhĩ phải, khâu đóng mỏm nhĩ) với mặt dưới của động mạch phổi (cắt mở rộng ra hai nhánh). Miệng nối tận - tận ở đầu dưới và tận - bên ở đầu trên.
    • Tạo cửa sổ luồng thông (Fenestration) kích thước 4 - 5 mm giữa thành ống Gore-Tex và tâm nhĩ phải (khâu nối trực tiếp kiểu Kissing hoặc qua ống nối phụ).
  • Quy trình hồi sức sau mổ: Nằm đầu cao $45^\circ$, chân kê cao; tránh thở máy áp lực dương kéo dài; sử dụng thuốc giãn mạch phổi (Milrinone), thuốc vận mạch (Noradrenalin), thuốc lợi tiểu (Furosemid) và phác đồ chống đông (Heparin đường tĩnh mạch chuyển sang thuốc chống ngưng tập tiểu cầu Aspergic đường uống).
  • Thu thập và xử lý số liệu: Nguồn số liệu trích xuất từ hồ sơ bệnh án, phiếu phẫu thuật, dữ liệu thăm dò cận lâm sàng gồm điện tâm đồ, X-quang ngực thẳng, siêu âm Doppler tim màu, thông tim chụp mạch buồng tim và mạch phổi. Các biến số được phân tích thống kê y học theo các thuật toán mô tả và so sánh trước - sau.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 trình bày chi tiết về giải phẫu học tim mạch, cơ chế phôi thai học và sinh lý bệnh học của tuần hoàn tim một thất so với tuần hoàn sinh lý bình thường. Tác giả phân loại và mô tả chi tiết giải phẫu ba nhóm tổn thương chính:

  1. Nhóm thiểu sản tâm thất phải: Thiểu sản van ba lá (tổn thương thường gặp nhất), thất trái hai đường vào (chiếm khoảng 1% tim bẩm sinh), teo động mạch phổi có vách liên thất nguyên vẹn (kèm theo các mức độ thiểu sản van ba lá và tuần hoàn phụ thuộc thất phải).
  2. Nhóm thiểu sản tâm thất trái: Hội chứng thiểu sản tim trái (HLHS, chiếm 4 - 9% tim bẩm sinh, phân thành 4 phân nhóm theo mức độ hẹp/teo van hai lá và van động mạch chủ), hội chứng Heterotaxy (đồng phân phải và đồng phân trái), hội chứng Shone (van hai lá hình dù, vòng xơ trên van hai lá, hẹp dưới van ĐMC, hẹp eo ĐMC).
  3. Nhóm tim một thất thể không xác định: Bệnh Ebstein type C và D không thể sửa hai thất, mất cân bằng kênh nhĩ thất toàn bộ kết hợp teo ĐMP, các bệnh lý chuyển gốc động mạch phức tạp hoặc thất phải hai đường ra không thể chuyển buồng thất.

Chương này phân tích các triệu chứng lâm sàng (tím, suy dinh dưỡng, ngực hình ức gà, tiếng thổi tâm thu) và các phương tiện chẩn đoán hình ảnh (X-quang ngực, siêu âm Doppler tim, chụp buồng tim/thông tim). Tác giả làm rõ vai trò của thông tim trong việc đo trực tiếp áp lực ĐMP, tính sức cản mạch phổi, đánh giá giải phẫu chỗ nối Glenn, phát hiện xoắn vặn động mạch phổi và tuần hoàn bàng hệ chủ - phổi để can thiệp bít coil trước mổ. Đồng thời, chương 1 so sánh 4 kỹ thuật phẫu thuật Fontan, phân tích cơ chế hồi sức tư thế và cơ chế bệnh sinh của các biến chứng sau mổ như rối loạn nhịp tim (do sẹo mổ và giãn nhĩ), huyết khối lòng mạch và hội chứng mất protein ruột (do tăng áp lực tĩnh mạch hệ thống dẫn tới tăng áp hệ bạch huyết ruột).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận của đề tài nghiên cứu tại Trung tâm tim mạch - Bệnh viện E từ tháng 8/2012 đến tháng 12/2015. Nội dung bao gồm:

  • Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có can thiệp phẫu thuật và theo dõi dọc các thời điểm (trong mổ, sau mổ, 6 tháng, lần khám cuối).
  • Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ bệnh nhân chặt chẽ, bảo đảm 100% bệnh nhi đã được chuẩn bị bằng phẫu thuật Glenn hai hướng và 100% được mở cửa sổ giải áp.
  • Chuẩn hóa các bước chuẩn bị bệnh nhân tiền phẫu: siêu âm Doppler tim đánh giá chức năng thất, độ hở van nhĩ thất; thông tim đo áp lực động mạch phổi trung bình, đường kính tĩnh mạch chủ dưới, chỉ số McGoon, phát hiện hẹp miệng nối Glenn và tuần hoàn bàng hệ.
  • Chi tiết quy trình phẫu thuật Fontan ống nối ngoài tim với mạch Gore-Tex và kỹ thuật tạo cửa sổ 4 - 5 mm; quy trình gây mê hồi sức, kiểm soát thông khí không áp lực dương cao và phác đồ dùng thuốc tim mạch, chống đông.
  • Hệ thống các biến số nghiên cứu, bảng phân độ suy tim theo thang điểm Ross ở trẻ em và thang điểm NYHA, các chỉ số huyết động học và các phương pháp kiểm soát đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày toàn bộ các số liệu định lượng thu được từ nghiên cứu lâm sàng, được phân bố qua 34 bảng thống kê và 15 biểu đồ:

  • Đặc điểm chung và tiền phẫu:
    • Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi, giới tính, cân nặng, chiều cao và diện tích da (BSA).
    • Phân bố các thể bệnh tim bẩm sinh dạng một tâm thất: tỷ lệ các bệnh lý thiểu sản van ba lá, thất trái hai đường vào, teo ĐMP vách liên thất nguyên vẹn, hội chứng thiểu sản tim trái, hội chứng Heterotaxy...
    • Tiền sử phẫu thuật trước Fontan: thời gian từ khi mổ Glenn hai hướng đến khi mổ Fontan; tỷ lệ các phẫu thuật tạm thời trước đó (Blalock - Taussig, thắt hẹp ĐMP...).
    • Đặc điểm lâm sàng: mức độ tím môi và đầu chi, nồng độ bão hòa oxy máu động mạch ($SpO_2$), phân độ mức độ suy tim trước mổ theo thang điểm Ross.
    • Cận lâm sàng: nồng độ huyết sắc tố, hematocrit; hình thái và kích thước động mạch phổi trên siêu âm và thông tim, chỉ số McGoon, áp lực động mạch phổi trung bình, đường kính tĩnh mạch chủ dưới, tỷ lệ hẹp miệng nối Glenn, tỷ lệ tồn tại tuần hoàn bàng hệ chủ - phổi và mối liên quan với khoảng thời gian sau mổ Glenn.
  • Đặc điểm trong mổ:
    • Thời gian chạy máy tuần hoàn ngoài cơ thể (THNCT) và thời gian cặp động mạch chủ.
    • Phân bố đường kính ống ghép nhân tạo Gore-Tex và mối liên quan tương ứng với đường kính tĩnh mạch chủ dưới đo trên thông tim.
    • Tỷ lệ các phẫu thuật sửa chữa phối hợp trong tim (sửa van nhĩ thất, mở rộng vách liên nhĩ...).
    • Tỷ lệ thực hiện mở cửa sổ fenestration chủ động thì đầu.
  • Kết quả sớm sau phẫu thuật:
    • Áp lực động mạch phổi sau mổ so với trước mổ.
    • Chỉ số $SpO_2$ sau mổ so với trước mổ.
    • Tỷ lệ tử vong sớm và phân tích mối liên quan với nhóm tuổi, thể bệnh giải phẫu.
    • Tỷ lệ các biến chứng sớm: suy thận cấp sau mổ (và mối liên quan với thể bệnh, áp lực ĐMP sau mổ), tỷ lệ dẫn lưu màng phổi kéo dài (và mối liên quan với thể bệnh, áp lực ĐMP).
  • Kết quả trung hạn (sau 6 tháng và lần khám cuối cùng):
    • Sự cải thiện triệu chứng tím môi, đầu chi và chỉ số $SpO_2$.
    • Mức độ suy tim theo thang điểm Ross tại thời điểm 6 tháng và khám lại cuối cùng so với trước mổ.
    • Tình trạng mở hay tự đóng của cửa sổ fenestration trên siêu âm Doppler tim.
    • Mức độ hở van nhĩ thất sau mổ.
    • Tỷ lệ các biến chứng trung hạn: rối loạn nhịp tim (nhanh trên thất, suy nút xoang, block nhĩ thất), huyết khối lòng mạch nhân tạo, hội chứng mất protein ruột.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 phân tích, so sánh các phát hiện của nghiên cứu với các công trình y văn trong nước và quốc tế:

  • Đặc điểm giải phẫu và chỉ định phẫu thuật: Bàn luận về tính tương đồng và khác biệt của các thể bệnh tim một thất tại Việt Nam; khẳng định vai trò sống còn của phẫu thuật Glenn hai hướng trong việc bảo vệ cây động mạch phổi và giảm gánh nặng thể tích thất trước khi bước vào phẫu thuật Fontan; giá trị của siêu âm Doppler kết hợp bắt buộc với thông tim chụp mạch trong việc đo áp lực ĐMP, tính sức cản phổi và bít tuần hoàn bàng hệ chủ - phổi.
  • Kỹ thuật phẫu thuật và vật liệu: Bàn luận về việc lựa chọn kích thước ống ghép nhân tạo Gore-Tex phù hợp với chỉ số BSA và đường kính tĩnh mạch chủ dưới; phân tích ưu thế cơ học dòng chảy của ống nối ngoài tim giúp tránh làm giãn tâm nhĩ phải, giảm thiểu tổn thương nút xoang; cơ chế bảo vệ huyết động tức thì của kỹ thuật mở cửa sổ (fenestration) 4 - 5 mm giúp giảm áp tĩnh mạch hệ thống và duy trì tiền gánh cho thất độc nhất.
  • Kết quả phẫu thuật và biến chứng: So sánh tỷ lệ tử vong sớm và tỷ lệ sống sót trung hạn với các nghiên cứu của Francis Fontan, Ajay J. Iyengar, Soo-Jin Kim, Yoshihisa Tanoue và Phạm Hữu Minh Nhựt; phân tích các yếu tố nguy cơ dẫn đến suy thận cấp, tràn dịch màng phổi kéo dài; đánh giá tỷ lệ xuất hiện rối loạn nhịp tim và huyết khối rất thấp nhờ áp dụng kỹ thuật ống nối ngoài tim và dùng thuốc chống đông đúng phác đồ.

Kết quả và những đóng góp mới

Dựa trên toàn văn đề tài, các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn của luận án bao gồm:

Đóng góp về mặt khoa học và lý thuyết

  • Luận án cung cấp hệ thống dữ liệu lâm sàng, huyết động và giải phẫu bệnh học toàn diện đầu tiên tại Việt Nam về phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim sử dụng mạch nhân tạo Gore-Tex trên nhóm bệnh nhân tim bẩm sinh dạng một tâm thất.
  • Chứng minh tính ưu việt của chiến lược điều trị phẫu thuật nhiều thì: 100% bệnh nhân được làm phẫu thuật bắc cầu Glenn hai hướng giúp động mạch phổi phát triển đồng đều, giảm nguy cơ suy thất trước khi tiến hành phẫu thuật Fontan hoàn chỉnh.
  • Làm sáng tỏ cơ sở huyết động học của việc mở cửa sổ luồng thông (fenestration) giữa ống mạch nhân tạo và tâm nhĩ phải, khẳng định vai trò giải áp tuần hoàn tĩnh mạch chủ và phòng ngừa thất bại huyết động sớm sau mổ.

Đóng góp về mặt thực tiễn lâm sàng

  • Xây dựng và chuẩn hóa quy trình chỉ định phẫu thuật Fontan ngoài tim dựa trên sự phối hợp chặt chẽ giữa siêu âm tim Doppler màu và thông tim chụp buồng tim/mạch phổi để đánh giá áp lực động mạch phổi, chỉ số McGoon và can thiệp bít tuần hoàn bàng hệ trước mổ.
  • Xác lập kỹ thuật lựa chọn kích thước ống nối Gore-Tex phù hợp theo diện tích da (BSA) và đường kính tĩnh mạch chủ dưới của bệnh nhi, thực hiện miệng nối ngoài tim chuẩn xác, giảm thiểu thời gian chạy máy tuần hoàn ngoài cơ thể và kẹp động mạch chủ.
  • Chuẩn hóa quy trình hồi sức chuyên biệt sau mổ Fontan: duy trì tư thế nửa nằm nửa ngồi ($45^\circ$), chân kê cao; kiểm soát thông khí tránh áp lực dương cao; phác đồ kết hợp thuốc trợ tim/giãn mạch phổi Milrinone và kháng đông sớm nhằm ngăn chặn biến chứng huyết khối và tràn dịch màng phổi kéo dài.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  1. Áp dụng kỹ thuật phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim bằng mạch nhân tạo Gore-Tex kết hợp mở cửa sổ luồng thông chủ động làm kỹ thuật tiêu chuẩn điều trị tim bẩm sinh dạng một tâm thất tại các trung tâm phẫu thuật tim mạch nhi.
  2. Bắt buộc thực hiện thông tim chụp mạch trước mổ Fontan cho tất cả các trường hợp để đo chính xác áp lực ĐMP, sức cản phổi và xử trí triệt để các bất thường giải phẫu (hẹp miệng nối Glenn, tuần hoàn bàng hệ chủ - phổi).
  3. Tuân thủ phác đồ hồi sức tư thế dẫn lưu tuần hoàn thụ động và sử dụng thuốc chống ngưng tập tiểu cầu lâu dài sau mổ nhằm duy trì thông thoáng lòng mạch nhân tạo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Nghiên cứu được thực hiện đơn trung tâm tại Trung tâm tim mạch - Bệnh viện E trong phạm vi thời gian từ 8/2012 đến 12/2015.
  • Thời gian theo dõi bệnh nhân sau mổ tập trung ở giai đoạn sớm và trung hạn (mốc 6 tháng và lần khám cuối cùng trong thời gian nghiên cứu); chưa thể đánh giá các biến chứng xuất hiện rất muộn sau 10 - 15 năm như xơ gan tim do ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch kéo dài hoặc hội chứng mất protein ruột giai đoạn muộn.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng theo dõi thuần tập bệnh nhân dài hạn (trên 5 năm, 10 năm) để đánh giá tỷ lệ sống còn tích lũy, chức năng tâm thất độc nhất và tình trạng thông thương lâu dài của ống mạch Gore-Tex.
  • Nghiên cứu theo dõi sự tự đóng hoặc chỉ định can thiệp bít cửa sổ fenestration bằng dụng cụ qua đường ống thông (catheter) ở các bệnh nhân có huyết động ổn định và không còn tăng áp lực mạch phổi.
  • Triển khai nghiên cứu đa trung tâm nhằm tăng cỡ mẫu và so sánh sâu hơn giữa các nhóm giải phẫu tim một thất hiếm gặp.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cao cho các nhóm đối tượng chuyên môn:

  • Phẫu thuật viên tim mạch và lồng ngực: Tham khảo chi tiết về quy trình kỹ thuật mổ Fontan ngoài tim, phương pháp tạo miệng nối tận - tận với TMC dưới, tận - bên với ĐMP, kỹ thuật tạo cửa sổ giải áp Kissing fenestration và kỹ thuật mổ không dùng tim phổi máy (Clamp and Sew).
  • Bác sĩ Hồi sức ngoại tim mạch: Ứng dụng phác đồ hồi sức tuần hoàn một thất không có bơm thất phải, phương thức cài đặt máy thở tránh áp lực dương cao, sử dụng thuốc giãn mạch phổi Milrinone và quy trình chống đông dự phòng huyết khối ống ghép.
  • Bác sĩ Tim mạch nhi và Tim mạch can thiệp: Tham khảo quy trình chỉ định phẫu thuật nhiều thì, kỹ thuật thông tim đo huyết động chính xác, đánh giá chỉ số McGoon và quy trình bít các nhánh tuần hoàn bàng hệ chủ - phổi trước mổ.
  • Giảng viên, học viên sau đại học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Ngoại Lồng ngực - Tim mạch: Sử dụng làm tài liệu học tập, giảng dạy và nghiên cứu mở rộng về bệnh học tim bẩm sinh phức tạp và các kỹ thuật phẫu thuật tim cải tiến.

Câu hỏi thường gặp

1. Phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim (Extracardiac conduit) có ưu điểm gì so với các kỹ thuật Fontan trước đây?

Kỹ thuật ống nối ngoài tim sử dụng mạch nhân tạo Gore-Tex nối trực tiếp tĩnh mạch chủ dưới vào động mạch phổi giúp giữ nguyên hình thái tâm nhĩ phải, không tạo đường rạch và sẹo mổ lớn trong tâm nhĩ, từ đó giảm thiểu đáng kể nguy cơ rối loạn nhịp tim (đặc biệt là nhịp nhanh trên thất, suy nút xoang). Đồng thời, ống nối ngoài tim hạn chế dòng máu quẩn và không đặt vật liệu nhân tạo tiếp xúc trực tiếp trong buồng tim, giúp hạ thấp tỷ lệ hình thành huyết khối so với kỹ thuật nối nhĩ - phổi kinh điển hoặc kỹ thuật đường hầm trong tim (Lateral tunnel).

2. Vì sao 100% bệnh nhân trong nghiên cứu được chỉ định mở cửa sổ (Fenestration) giữa ống mạch nhân tạo và tâm nhĩ?

Mở cửa sổ kích thước 4 - 5 mm tạo ra một luồng thông phải - trái có kiểm soát, cho phép một phần máu tĩnh mạch hệ thống thoát sang tâm nhĩ trái khi áp lực tĩnh mạch chủ dưới hoặc sức cản mạch phổi tăng cao. Luồng thông này giúp giải áp hệ thống tĩnh mạch, giảm hiện tượng tràn dịch màng phổi kéo dài, đồng thời bù đắp lượng máu về tim trái để duy trì tiền gánh và cung lượng tim, bảo đảm an toàn huyết động trong giai đoạn hồi sức sớm sau mổ.

3. Tại sao chụp buồng tim và thông tim là bắt buộc trước khi chỉ định phẫu thuật Fontan dù đã có siêu âm Doppler tim?

Mặc dù siêu âm Doppler tim đánh giá tốt cấu trúc giải phẫu và chức năng tâm thất, thông tim chụp mạch là phương pháp duy nhất đo trực tiếp được áp lực động mạch phổi trung bình và tính toán chính xác sức cản mạch phổi (yếu tố quyết định sống còn của tuần hoàn Fontan). Ngoài ra, thông tim cho phép quan sát rõ ràng toàn bộ cây động mạch phổi, phát hiện tình trạng xoắn vặn, hẹp miệng nối Glenn trước đó và các nhánh tuần hoàn bàng hệ chủ - phổi để kịp thời can thiệp bít coil trước khi phẫu thuật.

4. Bệnh tim bẩm sinh dạng một tâm thất bao gồm những nhóm tổn thương giải phẫu cơ bản nào?

Bệnh tim bẩm sinh dạng một tâm thất được chia thành ba nhóm:

  • Thiểu sản tâm thất phải (thất chức năng là thất trái): thiểu sản van ba lá, thất trái hai đường vào, teo động mạch phổi có vách liên thất nguyên vẹn.
  • Thiểu sản tâm thất trái (thất chức năng là thất phải): hội chứng thiểu sản tim trái (HLHS), hội chứng Heterotaxy (đồng phân phải/trái), hội chứng Shone.
  • Tim một thất thể không xác định: bệnh Ebstein type C/D, kênh nhĩ thất không cân bằng, hoặc các dị tật tim phức tạp không thể chuyển buồng sửa chữa hai thất.

5. Vai trò của phẫu thuật Glenn hai hướng trong chiến lược điều trị nhiều thì trước phẫu thuật Fontan là gì?

Phẫu thuật Glenn hai hướng (nối tĩnh mạch chủ trên với hai nhánh động mạch phổi) đóng vai trò là phẫu thuật bắc cầu thì một, giúp đưa máu tĩnh mạch nửa trên cơ thể lên phổi để cải thiện oxy máu, đồng thời giảm tải thể tích cho buồng tâm thất độc nhất và kích thích cây động mạch phổi phát triển đầy đủ trước khi thực hiện phẫu thuật Fontan thì cuối.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Anh Tiến là công trình nghiên cứu ngoại khoa chuyên sâu, đánh giá toàn diện việc ứng dụng kỹ thuật phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim bằng mạch nhân tạo Gore-Tex kết hợp mở cửa sổ giải áp chủ động trong điều trị tim bẩm sinh dạng một tâm thất tại Trung tâm tim mạch - Bệnh viện E. Đề tài đã chuẩn hóa quy trình chẩn đoán phối hợp giữa siêu âm Doppler và thông tim, xác định các tiêu chuẩn chỉ định giải phẫu - huyết động chính xác và chứng minh hiệu quả cải thiện oxy máu, phục hồi chức năng tim với tỷ lệ biến chứng sớm và trung hạn thấp. Đây là tài liệu khoa học có giá trị lý luận và thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho sự phát triển của chuyên ngành phẫu thuật tim bẩm sinh phức tạp tại Việt Nam.