Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật fontan với ống nối ngoài tim điều trị tim bẩm sinh dạng một tâm thất tại trung tâm tim mạch bệnh viện e

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim điều trị tim bẩm sinh dạng một tâm thất tại Bệnh viện E.

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Ngoại lồng ngực

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2017

169
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Chương 1: TỔNG QUAN

1.1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH TIM BẨM SINH DẠNG MỘT TÂM THẤT

1.2. GIẢI PHẪU TIM

1.3. CÁC THỂ TỔN THƯƠNG TIM BẨM SINH DẠNG MỘT TÂM THẤT

1.3.1. Thiểu sản tâm thất phải

1.3.2. Thiểu sản tâm thất trái

1.3.3. Tim một thất thể không xác định

1.4. CHẨN ĐOÁN BỆNH TIM BẨM SINH DẠNG MỘT TÂM THẤT

1.4.1. Triệu chứng lâm sàng

1.4.2. Triệu chứng cận lâm sàng

1.5. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ BỆNH TIM BẨM SINH DẠNG MỘT TÂM THẤT

1.5.1. Mục đích của các phương pháp phẫu thuật

1.5.2. Các phương pháp phẫu thuật

1.6. PHẪU THUẬT FONTAN

1.6.1. Sinh lý bệnh tim bẩm sinh dạng một tâm thất và tuần hoàn Fontan

1.6.2. Điều kiện và chỉ định phẫu thuật Fontan

1.6.3. Các phương pháp phẫu thuật Fontan

1.7. KỸ THUẬT MỞ CỬA SỔ GIỮA TÂM NHĨ VÀ ĐƯỜNG DẪN MÁU TỪ TĨNH MẠCH CHỦ DƯỚI LÊN ĐỘNG MẠCH PHỔI

1.8. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU PHẪU THUẬT FONTAN VỚI ỐNG NỐI NGOÀI TIM

1.8.1. Những vấn đề cần nghiên cứu của đề tài

2. Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Qui trình chuẩn bị bệnh nhân và chỉ định phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim tại Trung tâm tim mạch – Bệnh viện E

2.2.3. Các tham số và biến số nghiên cứu

2.2.4. Xử lý số liệu

2.2.5. Đạo đức trong nghiên cứu

3. Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CHUNG

3.1.1. Cân nặng, chiều cao, chỉ số diện tích da cơ thể

3.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG TRƯỚC MỔ

3.2.1. Triệu chứng lâm sàng

3.2.2. Đặc điểm tiền sử phẫu thuật

3.2.3. Đặc điểm xét nghiệm huyết học

3.2.4. Đặc điểm siêu âm Doppler tim

3.3. ĐẶC ĐIỂM TRONG MỔ

3.3.1. Thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể và cặp động mạch chủ

3.3.2. Kích thước ống mạch nhân tạo và mối liên quan với kích thước tĩnh mạch chủ dưới trên thông tim

3.3.3. Các phẫu thuật kèm theo

3.3.4. Áp lực động mạch phổi sau mổ

3.4. KẾT QUẢ PHẪU THUẬT

3.4.1. Kết quả ngay sau mổ

3.4.2. Kết quả sau mổ 6 tháng

3.4.3. Kết quả sau mổ lần khám cuối cùng

4. Chương 4: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM TỔN THƯƠNG VÀ CHỈ ĐỊNH ÁP DỤNG KỸ THUẬT

4.1.1. Đặc điểm chung

4.1.2. Đặc điểm lâm sàng

4.1.3. Đặc điểm tổn thương của bệnh tim bẩm sinh dạng một tâm thất

4.1.4. Tiền sử phẫu thuật

4.1.5. Đặc điểm tổn thương trên siêu âm Doppler tim

4.1.6. Đặc điểm tổn thương trên thông tim

4.1.7. Chỉ định áp dụng kỹ thuật

4.2. KẾT QUẢ PHẪU THUẬT

4.2.1. Kết quả trong và sau mổ

4.2.2. Kết quả theo dõi sau phẫu thuật

DANH MỤC CÁC BÀI BÁO LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về phẫu thuật Fontan

Phẫu thuật Fontan là một trong những phương pháp điều trị chính cho bệnh nhân mắc bệnh tim bẩm sinh dạng một tâm thất. Kỹ thuật này được phát triển nhằm cải thiện tuần hoàn máu cho những bệnh nhân không có khả năng bơm máu hiệu quả từ tâm thất phải. Phẫu thuật Fontan được thực hiện lần đầu tiên vào năm 1968 và đã trải qua nhiều cải tiến về kỹ thuật. Một trong những cải tiến quan trọng là việc sử dụng ống nối ngoài tim để kết nối tĩnh mạch chủ dưới với động mạch phổi, giúp giảm thiểu biến chứng và tỷ lệ tử vong sau phẫu thuật. Kỹ thuật này đã được áp dụng rộng rãi tại nhiều trung tâm tim mạch trên thế giới, trong đó có Bệnh viện E. Việc áp dụng phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim đã mở ra nhiều cơ hội cho bệnh nhân mắc bệnh tim bẩm sinh phức tạp, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và kéo dài tuổi thọ cho họ.

II. Đặc điểm bệnh lý tim bẩm sinh dạng một tâm thất

Bệnh tim bẩm sinh dạng một tâm thất là một nhóm bệnh lý phức tạp, trong đó chỉ có một tâm thất đủ kích thước và chức năng để bơm máu. Các thể bệnh thường gặp bao gồm thiểu sản tâm thất phải, thiểu sản tâm thất trái và các dạng không xác định. Những bệnh nhân này thường gặp khó khăn trong việc duy trì tuần hoàn máu hiệu quả, dẫn đến tình trạng thiếu oxy và các biến chứng nghiêm trọng. Chẩn đoán bệnh thường dựa vào triệu chứng lâm sàng như tím môi, chậm tăng cân và các xét nghiệm cận lâm sàng như siêu âm Doppler tim. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời là rất quan trọng để cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân. Phẫu thuật Fontan là một trong những giải pháp cuối cùng cho những bệnh nhân này, giúp cải thiện tuần hoàn và giảm thiểu các triệu chứng lâm sàng.

III. Kỹ thuật phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim

Kỹ thuật phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim được thực hiện nhằm tạo ra một đường dẫn máu từ tĩnh mạch chủ dưới đến động mạch phổi mà không cần qua tâm thất phải. Kỹ thuật này giúp giảm thiểu áp lực lên tâm thất phải và cải thiện tuần hoàn máu cho bệnh nhân. Trong quá trình phẫu thuật, các bác sĩ sẽ thực hiện mở cửa sổ giữa tâm nhĩ và đường dẫn máu từ tĩnh mạch chủ dưới lên động mạch phổi. Kỹ thuật này đã chứng minh được hiệu quả trong việc giảm tỷ lệ tử vong và biến chứng sau phẫu thuật. Nghiên cứu tại Bệnh viện E cho thấy kết quả phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân, đặc biệt là trong việc cải thiện tình trạng sức khỏe và chất lượng cuộc sống.

IV. Kết quả và đánh giá sau phẫu thuật

Kết quả phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim tại Bệnh viện E cho thấy tỷ lệ sống sót cao và cải thiện đáng kể về chức năng tim mạch. Các bệnh nhân sau phẫu thuật thường có tình trạng sức khỏe ổn định hơn, với mức độ oxy trong máu được cải thiện. Tuy nhiên, vẫn cần theo dõi lâu dài để phát hiện sớm các biến chứng có thể xảy ra. Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng kỹ thuật này không chỉ giúp cải thiện tình trạng sức khỏe mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân mắc bệnh tim bẩm sinh dạng một tâm thất. Các bác sĩ tại Bệnh viện E đã thực hiện nhiều ca phẫu thuật thành công, góp phần khẳng định hiệu quả của phương pháp này trong điều trị bệnh lý tim mạch phức tạp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Tim bẩm sinh là một trong những tổn thƣơng thƣờng gặp trong bệnh lý tim mạch. Theo thống kê cứ 1000 trẻ em đƣợc sinh ra một năm thì có 9 trẻ bị bệnh tim bẩm sinh [1]. Tim bẩm sinh phức tạp dạng một tâm thất đƣợc mô tả là nhóm bệnh tim bẩm sinh có thể có một hoặc hai tâm thất song chỉ có một tâm thất đủ kích thƣớc và chức năng bơm máu đến các cơ quan của cơ thể nhƣ các bệnh: Thiểu sản van ba lá, hội chứng thiểu sản tim trái, teo động mạch phổi không có thông liên thất. Đây là nhóm bệnh tim bẩm sinh hiếm gặp.

Ngày nay với trình độ phát triển của ngành tim mạch nhi, nhiều phƣơng tiện chẩn đoán hiện đại đƣợc áp dụng do vậy ngày càng nhiều bệnh nhi có tổn thƣơng dạng một tâm thất đƣợc phát hiện [2]. Chẩn đoán bệnh tim bẩm sinh dạng một tâm thất dựa vào các triệu chứng lâm sàng nhƣ tím môi và đầu chi, viêm phổi, chậm tăng cân. Siêu âm Doppler tim giúp chẩn đoán xác định bệnh và thể bệnh. Điều trị bệnh tùy thuộc vào thể bệnh cũng nhƣ giai đoạn của bệnh mà có các phẫu thuật tạm thời khác nhau nhƣ: phẫu thuật thắt hẹp động mạch phổi, phẫu thuật Blalock – Taussig, phẫu thuật Glenn hai hƣớng và cuối cùng là phẫu thuật Fontan… Phẫu thuật Fontan đƣợc thực hiện đầu tiên năm 1968 cho bệnh nhân bị thiểu sản van ba lá và đƣợc công bố năm 1971, là kỹ thuật đƣa trực tiếp máu từ tĩnh mạch hệ thống vào động mạch phổi mà không qua tâm thất phải và đƣợc coi là phẫu thuật thì cuối cho bệnh nhân tim bẩm sinh dạng một tâm thất [3],[4],[5],[6].

Kể từ khi phẫu thuật Fontan đƣợc áp dụng cho nhóm bệnh này đã có rất nhiều các thay đổi về kỹ thuật thực hiện miệng nối đƣa máu từ tĩnh mạch chủ dƣới lên động mạch phổi nhằm giảm tỷ lệ tử vong cũng nhƣ các biến chứng sau mổ nhƣ: phẫu thuật Fontan kinh điển với miệng nối tiểu nhĩ 2 phải vào động mạch phổi; kỹ thuật nối tâm nhĩ phải với tâm thất phải; kỹ thuật đƣa máu từ tĩnh mạch chủ dƣới lên động mạch phổi bằng đƣờng hầm trong tim (Lateral tunnel technique). Đến năm 1990, Marceletti thực hiện nối tĩnh mạch chủ dƣới với động mạch phổi bằng ống nối ngoài tim (Extra cardiac conduit technique) với các ƣu điểm nhƣ giảm tỷ lệ tử vong, biến chứng rối loạn nhịp tim, tắc mạch [7], từ đó đến nay kỹ thuật này đƣợc áp dụng rộng rãi tại các trung tâm phẫu thuật tim trên thế giới. Để chuẩn bị cho phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim, hầu hết BN đều đƣợc phẫu thuật tạm thời Glenn hai hƣớng (Bidirectional Glenn). Đây là kỹ thuật điều trị không quá phức tạp, có thể không cần tới tuần hoàn ngoài cơ thể, cải thiện tức thì (nhƣng tạm thời) tình trạng bão hòa ô xy trong máu đại tuần hoàn.

Tại Việt nam ngày càng nhiều bệnh nhi đƣợc chẩn đoán tim bẩm sinh dạng một tâm thất, chủ yếu đƣợc làm phẫu thuật thì một (phẫu thuật Glenn hai hƣớng), một số bệnh viện đã tiến hành phẫu thuật Fontan song mới chỉ công bố kết quả ban đầu nhƣ: Trung tâm tim mạch bệnh viện E, viện tim Hà nội, viện tim thành phố Hồ Chí Minh, bệnh viện hữu nghị Việt đức. Để nghiên cứu chỉ định, khả năng áp dụng kỹ thuật cũng nhƣ kết quả phẫu thuật chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim điều trị tim bẩm sinh dạng một tâm thất tại Trung tâm tim mạch - Bệnh viện E" với hai mục tiêu. Nhận xét đặc điểm tổn thương, chỉ định áp dụng kỹ thuật Fontan với ống nối ngoài tim trong bệnh tim bẩm sinh dạng một tâm thất tại trung tâm tim mạch bệnh viện E. Đánh giá kết quả sớm và trung hạn phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim trong điều trị tim bẩm sinh dạng một tâm thất tại Trung tâm tim mạch bệnh bệnh viện E.

3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. SƠ LƢỢC LỊCH SỬ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH TIM BẨM SINH DẠNG MỘT TÂM THẤT 1. Định nghĩa Bệnh tim bẩm sinh dạng một tâm thất là nhóm bệnh tim bẩm sinh có thể có một hoặc hai tâm thất song chỉ có một tâm thất đủ kích thƣớc và chức năng bơm máu đến các cơ quan trong cơ thể. Nhƣ vậy bệnh tim bẩm sinh dạng một tâm thất có thể ở dạng thiểu sản tâm thất phải, thiểu sản tâm thất trái, hoặc ở thể không xác định [2].

Lịch sử + Kể từ khi William Harvey mô tả vòng tuần hoàn trong cuốn “De Motu Cordis” đến trƣớc những năm 1940, có nhiều mô tả chức năng của tâm thất phải là một trong hai bơm chính để duy trì tuần hoàn bình thƣờng. Năm 1943, Starr và cộng sự thấy rằng áp lực tĩnh mạch không tăng khi có tổn thƣơng diện rộng của tâm thất phải. Năm 1949, Rodbard và Wagner tiến hành thắt thân ĐMP, nối tiểu nhĩ phải vào ĐMP [8]. + Năm 1958: William Wallace Lumpkin Glenn phẫu thuật đầu tiên cho một bé trai 7 tuổi, chẩn đoán: hẹp phổi, thiểu sản thất phải.

Đây là phẫu thuật Glenn kinh điển [9].Alex Haller thực hiện và báo cáo phẫu thuật Bidirectional Glenn, gọi là phẫu thuật Glenn hai hƣớng, giúp cho máu lên cả hai phổi [10]. + Năm 1968, Francis Fontan (phẫu thuật viên ngƣời Pháp) đã tiến hành phẫu thuật nối tiểu nhĩ phải vào động mạch phổi, khâu kín lỗ van ba lá, vá lỗ thông liên nhĩ cho BN thiểu sản van ba lá. Năm 1971, Fontan và Baudet cùng 4 với cộng sự đã công bố kết quả của phẫu thuật trên và đƣợc đặt tên phẫu thuật là Fontan [7],[11]. + Năm 1988, Mar de Leval và cộng sự tiến hành phẫu thuật Fontan với miệng nối ở trong tim [7],[12].

+ Năm 1990, Marceletti và cộng sự cải tiến phẫu thuật Fontan với miệng nối ngoài tim bằng mạch nhân tạo [6],[7]. + Ngoài ra vào những năm 1970, Bjork và cộng sự mô tả kỹ thuật sử dụng động mạch có van để nối nhĩ phải với động mạch phổi trong điều trị thiểu sản van ba lá, song kỹ thuật này ít đƣợc áp dụng [3]. + Tại Việt nam: phẫu thuật Fontan mới chỉ tiến hành tại một số bệnh viện nhƣ: viện tim thành phố Hồ Chí Minh, bệnh viện tim Hà nội, Trung tâm tim mạch bệnh viện E với những báo cáo kết quả ban đầu. GIẢI PHẪU TIM Tim là một khối cơ rỗng, có chức năng nhƣ một máy bơm vừa hút máu TM về tim và đẩy máu đi nuôi cơ thể và lên phổi để trao đổi khí [13].

Tim có bốn buồng bao gồm tâm nhĩ phải, tâm nhĩ trái, tâm thất phải và tâm thất trái. Hai tâm nhĩ đƣợc ngăn cách bởi vách gian nhĩ. Hai tâm thất đƣợc ngăn cách bởi vách gian thất, vách gian thất bao gồm phần cơ ở phía dƣới, dày, lồi sang phải và phần màng mỏng ở phía trên. Bên phải, tâm nhĩ phải và tâm thất phải thông với nhau qua lỗ nhĩ thất phải có van nhĩ thất phải hay van ba lá.

Bên trái, tâm nhĩ trái và tâm thất trái thông với nhau qua lỗ nhĩ thất trái, có van nhĩ thất trái hay van hai lá. Các van nhĩ thất có tác dụng cho máu đi theo một chiều từ tâm nhĩ xuống tâm thất.1: Giải phẫu tim [14] Đƣờng kính của các buồng tim và vòng van tim ở trẻ em thay đổi theo tuổi, theo diện tích da, đến tuổi trƣởng thành kích thƣớc tim không thay đổi. Thực hành lâm sàng thƣờng đo kích thƣớc của buồng tim, đƣờng kính vòng van trên máy siêu âm Doppler tim. Dựa trên cân nặng và chiều cao cơ thể tính chỉ số bề mặt cơ thể BSA (Body Surface Area), sau đó đối chiếu kích thƣớc của buồng tim, vòng van tim với chỉ số BSA để tính ra điểm z (z score).

Nếu điểm z từ -2 đến 2 là bình thƣờng, điểm z < -2 là thiểu sản [15]. Có nhiều công thức tính chỉ số BSA, song trên thực tế lâm sàng hay sử dụng công thức của Du Bois [15]: BSA = 0.725 (W: cân nặng theo kg; H: chiều cao theo cm) 6 Nghiên cứu của Michael D. Pettersen thực hiện trên 813 trẻ từ 1 ngày đến 18 tuổi tại bệnh viện nhi ở Michigan, Hoa Kì (Children’s Hospital of Michigan) từ năm 2001 đến 2003. Đối tƣợng nghiên cứu đƣợc đo cân nặng và chiều cao, tính chỉ số BSA, và siêu âm Doppler tim đo kích thƣớc các buồng tim.

Từ đó đƣa ra bảng mô tả kích thƣớc buồng tim và đƣờng kính vòng van tim dựa trên chỉ số BSA [15]. Trên cơ sở đo kích thƣớc của buồng tâm thất để chẩn đoán xác định mức độ của bệnh lý tim bẩm sinh nói chung và bệnh lý tâm thất nói riêng.1: Đường kính tâm thất phải cuối kì tâm trương so với chỉ số BSA [15] 7 Biểu đồ 1.2: Đường kính thất trái cuối kì tâm trương so với chỉ số BSA [15] 1. CÁC THỂ TỔN THƢƠNG TIM BẨM SINH DẠNG MỘT TÂM THẤT 1. Thiểu sản tâm thất phải Các bệnh trong nhóm này BN bị thiểu sản tâm thất bên phải, tâm thất đảm bảo chức năng bơm máu đi nuôi cơ thể là tâm thất trái.

Bao gồm các bệnh thƣờng gặp sau [8]. + Thiểu sản van ba lá có thể kèm theo đảo gốc động mạch hoặc không. + Thất trái hai đƣờng vào có thể kèm đảo gốc động mạch hoặc không. + Teo phổi có vách liên thất nguyên vẹn… 1.

Thiểu sản van ba lá Thiểu sản van ba lá là tổn thƣơng thƣờng gặp nhất của bệnh tim bẩm sinh dạng một tâm thất thiểu sản thất phải. Tổn thƣơng này đƣợc phẫu thuật thành công đầu tiên vào những năm 60 của thế kỷ trƣớc bởi Fontan [4]. Thiểu sản van ba lá do sự không phát triển của van ba lá, có thể ở cột cơ, dây chằng van ba lá hoặc mô van. Vì thiểu sản van ba lá nên BN chỉ sống đƣợc khi có lỗ 8 thông liên nhĩ hoặc lỗ thông liên thất.

Thiểu sản van ba lá có thể phối hợp với các tổn thƣơng khác nhƣ thiểu sản van động mạch phổi, đảo gốc động mạch.2: Bệnh thiểu sản van ba lá [16] 1. Tâm thất trái hai đường vào Thất trái hai đƣờng vào (Double inlet left ventricle) là bệnh tim bẩm sinh hiếm gặp, chiếm khoảng 1% tổn thƣơng tim bẩm sinh [17]. Tổn thƣơng bao gồm: đảo gốc động mạch (ĐMC xuất phát từ tâm thất phải, ĐMP xuất phát từ tâm thất trái), tâm thất phải thƣờng teo nhỏ, van ba lá bị hẹp hoặc teo nhỏ, cả van hai lá và van ba lá cùng đổ vào tâm thất trái. BN có thông liên nhĩ và thông liên thất [18],[19].3: Bệnh tâm thất trái hai đƣờng vào [19] 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim điều trị tim bẩm sinh một tâm thất tại Bệnh viện E là một tài liệu quan trọng tập trung vào phương pháp phẫu thuật tiên tiến nhằm điều trị hiệu quả cho bệnh nhân mắc tim bẩm sinh một tâm thất. Nghiên cứu này không chỉ làm nổi bật kỹ thuật phẫu thuật Fontan mà còn nhấn mạnh việc sử dụng ống nối ngoài tim như một giải pháp tối ưu, giúp cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống và tiên lượng bệnh cho bệnh nhân. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các bác sĩ, nhà nghiên cứu và gia đình bệnh nhân quan tâm đến lĩnh vực tim mạch.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị tim mạch tiên tiến, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng ống ghép màng ngoài tim tự thân trong phẫu thuật điều trị bệnh thân chung động mạch, Luận văn thạc sĩ nhu cầu hỗ trợ sau phẫu thuật của gia đình và trẻ em bị tim bẩm sinh, và Luận án tiến sĩ đánh giá kết quả điều trị suy tim ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim cấp được cấy ghép tế bào gốc tự thân. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn chuyên sâu và các phương pháp điều trị liên quan, giúp bạn hiểu rõ hơn về lĩnh vực tim mạch và phẫu thuật.