Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về hoa làm thí nghiệm 1.1 Dạ yến thảo 1.1 Nguồn gốc và phân loại Dạ yến thảo (Petunia hybrida L.) có nguồn gốc từ P.axillaris, hai trong số nhiều loài Petunia đặc hữu của Nam Mỹ. Sự phân bồ địa lý bao gồm các vùng ôn đới và cận nhiệt đới của Argentina, Uruguay, Paraguay, Bolivia và Brazil, với trung tâm là sự đa dạng ở miền nam Brazil (Stehmann và Sobral, 2009). Phân loại thực vật: Tên khoa học là Petunia hybrid. Bộ: Bộ Cà (Solanales).
Họ: Họ Cà (Solanaceae). Chi: Dạ Yên Thao (Petunia). Loài: Petunia Hybrida Thân: Dạ yến thảo có thân leo hoặc thân bụi, là cây hàng năm. Phần lớn dạ yến thảo chúng ta trồng ngày nay là đã được lai tạo từ Petunia axillaris, Petunia violacea, Petunia inflate và được chia làm 3 kiểu cây: Dạ yến thảo kép: Cây thân leo, hoa lớn với nhiều lớp cánh (Grandiflora), đường kính của hoa có thể đến 13cm.
Dạ yến thảo đơn: Cây thân bụi, hoa chỉ có một lớp cánh (Multiflora) nhưng lại có rất nhiều hoa đường kính của hoa từ 5 - 7,5 cm, dễ trồng và rat ít ảnh hưởng bởi sâu bọ. Cánh có thé đơn lớp va da lớp, dang gon sóng. Hoa có thé có sọc, đốm hoặc viền quanh cánh với nhiều màu sắc khác nhau như đỏ tía, màu hoa cả, màu oải hương, hồng, đỏ, trắng, vàng. Khi chạm vảo lá và cuống hoa thay hoi dinh và có mùi thơm rất khác biệt.
Da yến thảo lượn sóng: là cây thân leo, mùi thom benzen đặc trưng vì trên cây có rất nhiều tinh dau. Day là kiểu hoa rũ, chảy dài phủ xung quanh chậu. Giá của hạt giống dạng hoa này thì rất đắt, điều này đòi hỏi sự chăm sóc cân thận đôi với việc nảy mâm của cây hoa. Lá: lá đơn có hình bầu dục, mọc vòng, hai mặt lá có màu xanh lục tương tự nhau, mặt trên và dưới biéu bi lá có lớp lông mịn.
Hoa: Dạ yến thảo có 3 loại: hoa lớn, hoa trung, hoa nhỏ. Với kích thước và số lượng hoa trên cây mà mỗi loại hoa có cách trồng khác nhau. Hoa có hình phễu nhưng các loài đạ yến thảo lai tạo lại có rất nhiều dạng. Hoa mọc đơn độc từ các nách lá, mỗi nách lá cho từ 1 - 2 hoa.
Mỗi hoa gồm có: cuống hoa lá đài, lá bắc, ống hoa, tràng hoa, ống nhị đực, bầu nhụy cái. Cánh hoa có thể một lớp hay nhiều lớp cánh, cánh hoa có dạng gợn sóng. Hoa có thể có sọc đốm hoặc viền quanh cánh. Hoa có nhiều màu sắc khác nhau như: Đỏ tía, màu hoa cà, màu oải hương hồng đỏ, trắng, vàng (Nguyễn Thị Ái Hà, 2010).1 Nguồn gốc và phân loại Các giống hoa chuông hoang dại đầu tiên được phát hiện ở Brazil có sự đa dạng về màu sắc, kích thước, hình đáng hoa.
Thông qua các quá trình lai tạo, chọn lọc các giống trồng hiện nay có nhiều ưu điểm phù hợp với thị hiểu của người chơi hoa. Riêng Việt Nam hoa chuông có nhiều tên gọi khác nhau: hoa tình yêu (valentine), tử la lan, mom chó biển, hồng xiêm (Lã Thị Thu Hằng, 2015). Phân loại thực vật hoc: Tên khoa học Sinningia speciosa. Bộ: Bộ hoa môi (Lamiales).
Họ: Họ thượng tiễn (Gesneriaceae). Chi: Hoa chuông (Sinningia). Loài: Sinningia speciose 4 Hoa chuông rất đa dang. Chi Sinningia có khoảng 40 - 50 loài và vô số các loài lai.
Hiện nay Sinningia speciose được trồng phổ biến: Mỹ, Châu Au, Trung Quốc, Nhật, Thái Lan, Brazil, An D6, Philipin. Ở khí hậu lạnh hoa Chuông sẽ ra hoa vào mùa ha, vùng có khí hậu ấp hơn thì có thé ra hoa quanh năm (Kessler, 1999).2 Đặc điểm thực vật học cây hoa chuông Rễ cây hoa chuông thuộc loại rễ chùm, phần lớn phát triển theo chiều ngang, ở tang đất mặt từ 10 — 20 cm. Kích thước các rễ trong bộ rễ chênh lệch nhau không nhiều, số rễ tương đối nhiều nên khả năng hút nước và dinh dưỡng của cây rất mạnh. Rễ phát sinh từ mầm rễ của hạt, từ củ, thân, cuống lá và những cơ quan sinh dưỡng tiếp xúc trực tiếp với đất.
Vì vậy, hoa chuông rat thích hợp trồng trên các loại giá thé tơi xốp, điều chỉnh thành phần dinh dưỡng phù hợp đề kích thích bộ rễ phát triển. Thân cây hoa chuông thuộc dang thân thảo có nhiều đốt giòn dé gãy, lá mọc ra ở những vị trí đốt thân ngầm, có lóng bị rút ngắn nên nhiều lá kết cụm lại rậm rạp, chiều cao cây khoảng 12 — 15 cm. Tán lá tan ra có đường kính khoảng 22 — 33 cm. Cây hoa chuông có dạng thân củ.
Lá hình oval, mọc đối xứng từng cặp xen kẽ nhau, xếp theo kiểu xoắn ốc có lông nhung mềm mượt bao phủ, mặt dưới lá thường hơi đỏ, mặt trên lá thường xanh đậm, mép lá có dạng khía răng cưa. Cây có ít lá, mặt trên lá bao phủ một lớp lông tơ mượt như nhung, mặt dưới nhẫn, gân lá hình mạng, trung bình một chu kỳ sinh trưởng của cây có từ 5 — 18 lá trên thân chính. Lá góp phan làm tăng giá trị tham mỹ của hoa và là cơ quan sinh dưỡng có thé sử dụng làm vật liệu dé nhân giống vô tính. Hoa có hình chuông, cánh mượt như nhung và viền cánh hoa có viền gợn sóng.
Mau sắc hoa rất phong phú: đỏ, trang, hong, đỏ viền trang, xanh, tím cho đến tím sam. Cánh hoa đơn hoặc kép, các cánh xếp xen kẽ nhau. Hoa mọc đơn lẻ hoặc mọc thành chùm. Hoa chuông là hoa lưỡng tính, cầu tạo hoa gồm các bộ phận: đài hoa, cánh hoa, nhị hoa va noãn, có hai cặp nhị so le nhau, trong đó có một nhị lép đính trên trang hoa, các bao phấn dính nhau thành từng cặp, có một nhụy hoa, vòi nhụy mảnh mai, núm nhụy chia thành hai thùy.
Ngoài ra, còn có thêm túi mật thu hút côn trùng (ong, kiến) và động vật nhỏ (chim, ruồi) làm tăng kha năng thụ phan hoa (Lê Thi Ngọc, 2013) 1.3 Yêu cầu ngoại cảnh Nhu cầu về ánh sáng: không cần quá nhiều ánh sáng. Quang kỳ thích hợp nhất dé cây hoa sinh trưởng và phát triển là 12—16 giờ chiếu sáng mỗi ngày. Phát triển tốt trong điều kiện thoáng mát (khoảng 50% ánh sáng). Có thé kiểm soát ánh sáng bang cách phủ lưới đen xung quanh khu vực thí nghiệm.
Nhiệt độ từ 18 —24°C là thích hợp cho sự tăng trưởng cua cây. Đất trồng giàu dinh dưỡng tơi xốp, thoáng khí pH đất thích hợp dao động trong khoảng 5,8—7,5 (Lê Thi Ngọc, 2013).2 Giới thiệu sơ lược về giá thé 1.1 Khái niệm giá thể Giá thé được xem là môi trường giúp cây đứng vững nhờ sự bám chặt của rễ, cung cấp nước, dinh dưỡng cho cây trồng và điều hòa nhiệt độ dựa vào khả năng giữ nước, chất dinh dưỡng của giá thé (Trương Thị Cam Nhung, 2016). Một số loại giá thể đơn giản bao gồm các loại sỏi đá, rơm rạ, đá bọt núi lửa, thường thay trong làm giá đỗ thủ công, trồng nam hay trồng trong bé thủy canh. Tuy nhiên, chúng không được phô biến cho tất cả các loại cây trồng, cũng như các phương pháp ươm cây, gieo hạt thông thường, mà chỉ chuyên dùng cho trường hợp cụ thể.
Ngày nay việc sử dụng giá thể có sự khác biệt khá nhiều, giá thể được đưa vào sử dụng phô biến hơn cho tất cả các phương pháp trồng cây. Giá thể được sử dụng hiện 6 nay rất đa dạng về chủng loại cũng như công thức phối trộn. Các giá thê trồng hoa trong chậu phô biến hiện nay như xơ đừa, tro trau, trâu sông, phân hữu cơ, bã mía, đất sạch (Trần Diễm Mi, 2015).2 Đặc tính của giá thể 1.1 Khả năng trao déi cation (CEC) và pH CEC thể hiện khả năng trao đổi cation của dung dịch, CEC càng cao khả năng giữ lại các đinh dưỡng càng nhiều, CEC cao bao gồm đất, đất đen, vermiculite và những thành phần có chỉ số CEC thấp là perlite, cát. pH ảnh hưởng đến khả năng hữu dung của các chất đinh đưỡng mà cây trồng có thé sử dụng được.
pH thay đổi theo thành phan của giá thé, loại phân bón, pH nước tưới và thời gian sử dụng. pH trong khoảng 5,5 — 6,5 có thé ảnh hưởng tốt nhất đến kha năng hữu dụng của tat cả các nguyên tố dinh dưỡng trong đất (Trần Văn Thịnh và Nguyễn Nhật Chung, 2016).2 Khối lượng riêng Khối lượng riêng là một trong những tiêu chí đầu tiên dé lựa chọn giá thé. Các giá thể như xơ dừa, mùn cưa khi khô có khối lượng riêng rất nhỏ, tuy nhiên do khả năng giữ nước cao nên khi được tưới nước sẽ trở nên rất âm. Khối lượng riêng của giá thé được khuyến cáo sử dụng là 0,1 — 0,8 kg/đm2 (Lê Thị Thu Thao, 2015).3 Vai trò của giá thé đối với sinh trưởng và phát triển của cây trồng Giá thê trồng cây gồm: Phần rắn, phần rỗng, phần nước hữu hiệu và nước dư.
Trong đó quan trọng nhất là phần rỗng, tạo cho giá thê thông thoáng, giúp bộ rễ cây hô hấp đồng thời giúp các vi sinh vật có ích phát triển, nước hữu hiệu giúp cây hút đễ dang. Khi sử dụng giá thể thay thé cho đất thì việc bố sung thêm các chất dinh dưỡng và điều chỉnh pH thích hợp là cần thiết để giúp cây phát triển tốt (Huỳnh Thanh Hùng và ctv, 2018). Một giá thé tốt, lý tưởng cho cây trồng cần phải có những yêu cau sau: Trữ lượng dinh dưỡng cao và dé dàng cung cấp cho cây Phân bón dé dàng chuyền hóa thành dang dé hấp thu đối với cây trồng. Khả năng giữ các chất dinh dưỡng dé tiêu cao (hạn chế rửa trôi).
Cung cấp tất cả các chất dinh dưỡng trong trạng thái cân bằng. Giữ và cung cấp nước day đủ. Duy trì độ thoáng khí tốt (Trương Thị Cam Nhung, 2016).4 Giới thiệu một số vật liệu được sử dụng làm giá thể trong thí nghiệm 1.1 Mụn dừa Trái dừa sau khi tách lấy hạt thu được phần vỏ. Vỏ dừa được xé hay nghiền dé thu xo đừa va mun dừa phục vu nông nghiệp.
Tuy nhiên ham lượng chat chat lignin cao, khó phân hủy gây khó khăn cho việc chế biến thành các loại giá thé khác nhau. Nếu sử dung xơ dừa làm nguyên liệu “đất sạch” thì phải ủ vi sinh còn làm nguyên liệu của giá thé dinh dưỡng cho các loại cây trồng thì ngâm trong bề chứa có pha vôi dé xử ly chất chat lignin, ủ với chế phẩm sinh học dé thúc đây quá trình tiêu diệt các nam gây hại cho cây trồng vừa thúc đây quá trình ủ hoai của giá thê mụn dừa (Dương Hoa Xô, 2012).