Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nhu cầu sử dụng hoa chậu phục vụ trang trí nội thất, cảnh quan đô thị và làm quà tặng đang gia tăng tại nhiều đô thị tại Việt Nam. Trồng cây trong chậu là giải pháp kỹ thuật giúp tối ưu hóa diện tích canh tác, thuận tiện trong vận chuyển, giảm thiểu nguy cơ phát sinh nguồn bệnh từ đất tự nhiên và kiểm soát các yếu tố hóa học, vật lý của môi trường rễ. Cây dạ yến thảo (Petunia hybrida L.) và cây hoa chuông (Sinningia speciosa) là hai đối tượng hoa chậu ngoại nhập có giá trị thẩm mỹ và giá trị thương phẩm cao, thu hút thị hiếu tiêu dùng nhờ màu sắc đa dạng và thời gian ra hoa kéo dài.

Song song với sự phát triển của ngành trồng trọt, lượng phụ phẩm nông nghiệp thải ra môi trường hàng năm rất lớn. Số liệu từ Tổng cục Thống kê năm 2020 cho thấy tổng khối lượng phụ phẩm nông nghiệp cả nước đạt trên 156,8 triệu tấn, trong đó phụ phẩm sau thu hoạch và chế biến trồng trọt chiếm 56,7% (88,9 triệu tấn), chất thải chăn nuôi chiếm 39,1% (61,4 triệu tấn), lâm nghiệp chiếm 3,5% (5,5 triệu tấn) và thủy sản chiếm gần 1 triệu tấn (10,6%). Riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long phát sinh khoảng 39,4 triệu tấn phụ phẩm trong năm 2020. Việc tái sử dụng các nguồn phụ phế phẩm này làm nguyên liệu sản xuất giá thể hữu cơ là hướng tiếp cận cần thiết nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và hạn chế khai thác tài nguyên đất mặt.

Làng hoa Sa Đéc (tỉnh Đồng Tháp) là một trong những trung tâm sản xuất hoa kiểng lớn của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Tuy nhiên, tập quán canh tác tại đây chủ yếu dựa vào kinh nghiệm; nguồn giá thể truyền thống gồm phân rơm mục và vỏ trấu tươi tồn tại nhiều nhược điểm như khả năng giữ nước hạn chế, tồn dư nhiều mầm bệnh nấm hại rễ, phụ thuộc nguồn nguyên liệu bên ngoài và giá cả bấp bênh, làm giảm tỷ lệ hoa thương phẩm và lợi nhuận của người trồng.

Từ thực tiễn trên, đề tài khóa luận "Thử nghiệm mô hình ứng dụng giá thể cho cây dạ yến thảo (Petunia hybrida L.) và cây hoa chuông (Sinningia speciosa) trồng chậu tại thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp" được triển khai, kế thừa kết quả từ dự án sản xuất thử nghiệm cấp cơ sở "Nghiên cứu sản xuất nguyên liệu và giá thể trồng hoa tại Làng hoa Sa Đéc, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp".

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định mô hình sử dụng giá thể phối trộn mới cho cây dạ yến thảo và cây hoa chuông đạt hiệu quả kinh tế cao hơn từ 20% trở lên so với mô hình sản xuất sử dụng giá thể đại trà tại địa phương.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Bố trí mô hình thí nghiệm đồng ruộng diện rộng cho hai giống hoa dạ yến thảo và hoa chuông trồng chậu.
  2. Theo dõi, đo đạc và đánh giá các chỉ tiêu thời gian sinh trưởng, phát triển, các chỉ tiêu hình thái thân lá rễ, tình hình sâu bệnh hại và phẩm chất hoa thương phẩm.
  3. Lập bảng tính toán chi phí, doanh thu và lượng hóa hiệu quả kinh tế của mô hình giá thể mới so với mô hình đối chứng.
  4. Xử lý và phân tích thống kê các số liệu thực nghiệm nhằm đảm bảo tính chuẩn xác và độ tin cậy khoa học.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cây dạ yến thảo (Petunia hybrida L.) và cây hoa chuông (Sinningia speciosa) nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô thuần dưỡng 15 ngày.
  • Phạm vi không gian: Trung tâm Ứng dụng Nông nghiệp Công nghệ cao tỉnh Đồng Tháp, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 8/2023 (bắt đầu triển khai từ tháng 9/2023) đến tháng 12/2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở khoa học về giá thể và nguyên liệu hữu cơ

Giá thể trồng cây trong chậu là môi trường giữ rễ, cung cấp nước, chất dinh dưỡng và không khí cho hệ rễ hô hấp. Một giá thể tiêu chuẩn cần đáp ứng độ xốp thông thoáng, khả năng giữ ẩm cao, dung trọng (khối lượng riêng) thích hợp trong khoảng 0,1 - 0,8 kg/dm³, dung tích hấp thu cation (CEC) cao để lưu giữ dinh dưỡng chống rửa trôi, độ pH trung tính hoặc hơi chua (5,5 - 6,5) và tỷ lệ C/N cân bằng nhằm hạn chế hiện tượng cạnh tranh đạm sinh học.

Các vật liệu được sử dụng phối trộn trong nghiên cứu bao gồm:

  • Mụn dừa: Có pH phù hợp (khoảng 5,48), giữ ẩm tốt nhưng chứa hàm lượng tanin, lignin và độ dẫn điện (EC) cao nếu chưa qua xử lý, nghèo đạm và lân.
  • Phân rơm và rơm rạ mục: Cung cấp độ tơi xốp, thông thoáng khí giúp rễ phát triển thuận lợi.
  • Phân bò hoai mục: Giàu chất hữu cơ, giữ ẩm tốt, bổ sung các nguyên tố đa lượng (1,57% N; 2,29% P₂O₅; 1,08% K₂O) và các nguyên tố vi lượng.
  • Bùn đáy ao nuôi cá tra: Chứa hàm lượng chất hữu cơ cao (10,5 - 11,7%), đạm tổng số khoảng 0,5% và lân tổng số khoảng 0,22%, có thể ủ thành phân hữu cơ sinh học để giảm chi phí đầu vào.
  • Than sinh học (TSH) từ vỏ trấu: Cung cấp kali, tăng khả năng giữ ẩm, độ xốp và duy trì cấu trúc bền vững cho giá thể.

Thiết kế và bố trí thí nghiệm

Nghiên cứu tiến hành hai thí nghiệm diện rộng độc lập theo phương thức ngẫu nhiên không lặp lại:

  • Công thức thử nghiệm (Giá thể Nông Lâm - NL): 60% GT1 : 35% GT2 : 5% TSH (tính theo tỷ lệ thể tích - TLTT).
    • GT1: Hỗn hợp chế biến từ bã nấm rơm, mụn dừa và phân bò.
    • GT2: Hỗn hợp sản xuất từ bùn đáy ao nuôi cá tra, rơm rạ và phân bò bằng phương pháp ủ compost hiếu khí trong 28 - 35 ngày.
    • TSH: Than sinh học sản xuất từ vỏ trấu.
  • Công thức đối chứng (Giá thể Sa Đéc - SD): 66,7% phân rơm mục (PR) : 33,3% vỏ trấu sống (VT) (theo tập quán địa phương).
Chỉ tiêu lý - hóa tính Đơn vị Phương pháp thử nghiệm Giá thể thử nghiệm (NL) Giá thể đối chứng (SD)
Độ thoáng khí % (v/v) TCN 27,1 45,2
Khả năng giữ nước % (v/v) TCVN 6651:2000 49,2 36,6
Độ rỗng % (v/v) TCVN 11399:2016 76,3 81,8
Lượng nước hữu dụng % (v/v) TCVN 9297:2012 31,8 15,1
pH ($H_2O$) - TCVN 3263-9:2020 6,5 7,2
Độ dẫn điện (EC) dS/m TCVN 6650:2000 1,23 0,92
Cacbon hữu cơ % TCVN 9294:2012 23,1 28,0
Nitơ tổng số % TCVN 8557:2010 1,36 0,95
$N-NH_4^+$ mg/kg TCVN 11069-1:2015 19,5 17,5
$N-NO_3^-$ mg/kg TCVN 10682:2015 123,3 9,8
$P_2O_5$ hữu hiệu % TCVN 8559:2010 0,44 0,38
$K_2O$ trao đổi % TCVN 8560:2018 1,78 1,43
Canxi (Ca) mg/kg TCVN 9284:2018 927,1 1088,4
Magie (Mg) mg/kg TCVN 9285:2018 258,6 433,2
Tỷ lệ C/N - Tính toán 17,0 29,5

Quy mô và điều kiện kỹ thuật thí nghiệm

  • Cây dạ yến thảo: 2 ô cơ sở, mỗi ô 300 chậu (1 cây/chậu), tổng quy mô 600 chậu. Chậu nhựa kích thước miệng x đáy x cao là 20 x 14 x 15 cm, chiều cao lớp giá thể 12 cm. Khoảng cách chậu 15 cm, khoảng cách giữa các ô cơ sở 40 cm. Tổng diện tích khu thí nghiệm 124,2 m² (không tính lối đi).
  • Cây hoa chuông: 2 ô cơ sở, mỗi ô 500 chậu (1 cây/chậu), tổng quy mô 1.000 chậu. Chậu nhựa kích thước miệng x đáy x cao là 15 x 12 x 14 cm, chiều cao lớp giá thể 11 cm. Khoảng cách chậu 15 cm, khoảng cách giữa các ô cơ sở 50 cm. Tổng diện tích khu thí nghiệm 78,86 m² (không tính lối đi).
  • Điều kiện nhà màng: Sử dụng lưới đen che sáng 50% nhằm kiểm soát nhiệt độ môi trường ở mức 18 - 24°C và độ ẩm không khí từ 60 - 70%.
  • Chế độ dinh dưỡng và phòng trừ dịch hại: Sử dụng phân bón lá H-Giàu Humic, chất kích thích sinh trưởng Atonik, phân bón gốc NPK 30-10-10 và NPK 20-20-15; phòng trừ nấm bệnh lở cổ rễ và thối thân lá bằng Rampart 35 SD, Ridomil Gold 65 WG; phòng trừ sâu khoang và bọ trĩ bằng Chlorferan 240 SC và Agassi 55 EC.

Phương pháp theo dõi và xử lý số liệu

Mỗi công thức chọn ngẫu nhiên 50 cây để theo dõi định kỳ: 25 cây theo dõi các chỉ tiêu phát triển của hoa (thời gian ra nụ, nở hoa, độ bền hoa, tỷ lệ hoa nở) và 25 cây đo đạc các chỉ tiêu sinh khối thân, lá, rễ tươi khi xuất vườn. Dữ liệu thực nghiệm được tổng hợp bằng Microsoft Excel và phân tích kiểm định T-Test so sánh giá trị trung bình giữa hai nghiệm thức trên phần mềm thống kê Minitab 16.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa các đặc điểm sinh học, thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây dạ yến thảo (Petunia hybrida L., họ Solanaceae) và cây hoa chuông (Sinningia speciosa, họ Gesneriaceae). Tác giả phân tích các yếu tố ngoại cảnh tác động trực tiếp đến quá trình phân hóa mầm hoa như nhiệt độ (18 - 24°C), quang kỳ (12 - 16 giờ chiếu sáng/ngày) và yêu cầu đối với hệ rễ chùm phát triển nông (10 - 20 cm) cần độ tơi xốp cao.

Nội dung chương tổng hợp các nghiên cứu trong nước về ảnh hưởng của giá thể phối trộn đến sinh trưởng của hoa chậu: nghiên cứu của Nguyễn Thị Thiên Hiệp (2008) trên hoa cẩm chướng; Trần Thị Thu Hà (2011), Nguyễn Hạnh Duy (2016), Nguyễn Văn Khoa (2021) trên hoa dạ yến thảo; Lã Thị Thu Hằng (2015), Lê Bá Chương (2017), Phạm Ngọc Linh (2019) trên hoa chuông; cũng như nghiên cứu của Trần Văn Thịnh và ctv (2016, 2018) về việc sử dụng bùn ao cá tra và rơm rạ ủ trichoderma làm giá thể. Tổng quan cho thấy việc tối ưu hóa tỷ lệ phối trộn giữa nguồn chất thải hữu cơ đã qua xử lý compost và than sinh học trấu trên quy mô sản xuất thực tế tại Sa Đéc vẫn là khoảng trống cần được khảo nghiệm.

Chương 2: Nội dung và phương pháp thí nghiệm

Chương 2 mô tả chi tiết điều kiện khí hậu thời tiết tại khu vực Sa Đéc trong thời gian nghiên cứu (tháng 9 - 12/2023) với lượng mưa giảm dần từ 434 mm (tháng 9) xuống 137 mm (tháng 12), độ ẩm không khí trung bình dao động từ 78% đến 86%. Tác giả trình bày xuất xứ nguồn cây giống cấy mô đạt tiêu chuẩn kiểm nghiệm trước trồng (dạ yến thảo cao 3,9 cm với 6,2 lá; hoa chuông cao 3,5 cm với 5 lá).

Chương này công bố quy trình công nghệ ủ compost GT1 và GT2, phân tích chi tiết các chỉ số lý hóa của giá thể NL so với đối chứng SD (Bảng 2.2). Đồng thời, tác giả thiết lập quy trình theo dõi các chỉ tiêu nông học: chiều cao cây, số lá, số cành cấp 1, đường kính tán, chiều dài rễ, sinh khối tươi, thời điểm phân cành, ngày ra nụ, ngày nở hoa, ngày hoa tàn, độ bền hoa tự nhiên, độ bền chậu hoa, tỷ lệ hoa nở và tiêu chí phân loại chậu thương phẩm (Loại 1, Loại 2, Loại 3) làm căn cứ lượng hóa hiệu quả kinh tế ($HQ_i$).

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm thu thập từ hai mô hình thử nghiệm:

  • Đối với cây dạ yến thảo: Cây trồng trên nền giá thể NL vượt trội rõ rệt so với đối chứng SD từ giai đoạn 14 ngày sau trồng (NST) đến thời điểm kết thúc theo dõi (42 NST). Tại 42 NST, cây trên giá thể NL đạt chiều cao 16,32 cm, số lá 37,10 lá/cây và 9,80 cành cấp 1/cây. Chiều dài rễ khi xuất vườn đạt 28,49 cm, tổng khối lượng tươi thân - lá - rễ đạt 274,99 g/chậu (gấp 1,72 lần so với 159,98 g/chậu của đối chứng). Các chỉ tiêu nở hoa trên giá thể NL đều đạt mức cao: số hoa trung bình 15,9 hoa/cây (tỷ lệ nở 87,3%), đường kính hoa 6,73 cm, độ bền chậu hoa đạt 80,88 ngày (kéo dài hơn đối chứng 9,5 ngày). Lợi nhuận sản xuất đạt 2.028,4 nghìn đồng/300 chậu, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn 36,3% so với đối chứng.
  • Đối với cây hoa chuông: Sinh trưởng của cây hoa chuông trên giá thể NL thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ($P < 0,01$) từ sau 14 NST. Đến 35 NST, chiều cao cây đạt 8,45 cm, số lá đạt 15,50 lá/cây, chiều dài lá đạt 9,87 cm và chiều rộng lá đạt 6,26 cm. Độ bền chậu hoa chuông trên giá thể NL kéo dài hơn 4,4 ngày so với giá thể đối chứng SD. Về mặt kinh tế, mô hình giá thể NL đạt hiệu quả kinh tế vượt trội 29,1% so với công thức đối chứng.

Kết quả và đóng góp

Số liệu thực nghiệm tổng hợp

Chỉ tiêu nông học và kinh tế Mô hình thử nghiệm (NL) Mô hình đối chứng (SD) Mức chênh lệch / Ý nghĩa thống kê
Cây dạ yến thảo (Petunia hybrida L.)
Chiều cao cây tại 42 NST (cm) $16,32 \pm 0,53$ $15,92 \pm 0,58$ Cao hơn 1,03 lần ($t = 3,58^{**}$)
Số lá tại 42 NST (lá/cây) $37,10 \pm 1,62$ $34,92 \pm 1,75$ Cao hơn 1,06 lần ($t = 6,47^{**}$)
Số cành cấp 1 tại 42 NST (cành/cây) $9,80 \pm 0,74$ $8,41 \pm 1,19$ Cao hơn 1,16 lần ($t = 6,99^{**}$)
Chiều dài cành cấp 1 khi xuất vườn (cm) $14,30 \pm 0,94$ $12,30 \pm 1,05$ Vượt trội ($t = 10,01^{**}$)
Đường kính tán cây khi xuất vườn (cm) $29,46 \pm 1,24$ $27,44 \pm 1,51$ Rộng hơn 2,02 cm ($t = 7,29^{**}$)
Chiều dài rễ tại 70 NST (cm) $28,49 \pm 1,27$ $24,79 \pm 1,80$ Dài hơn 1,15 lần ($t = 8,41^{**}$)
Khối lượng rễ tươi (g/chậu) $40,01 \pm 1,65$ $22,50 \pm 2,08$ Nặng hơn 1,78 lần ($t = 32,89^{**}$)
Khối lượng thân, lá tươi (g/chậu) $234,98 \pm 2,12$ $137,48 \pm 3,44$ Nặng hơn 1,71 lần ($t = 120,68^{**}$)
Tổng khối lượng sinh khối tươi (g/chậu) $274,99 \pm 3,76$ $159,98 \pm 5,45$ Nặng hơn 1,72 lần ($t = 85,53^{**}$)
Ngày phân cành cấp 1 (NST) $11,94 \pm 0,62$ $12,64 \pm 0,85$ Sớm hơn 0,7 ngày ($t = -4,70^{**}$)
Ngày hoa tàn (NST) $58,68 \pm 0,99$ $56,52 \pm 1,39$ Muộn hơn ($t = 6,34^{**}$)
Độ bền hoa tự nhiên (ngày) $5,20 \pm 0,41$ $4,40 \pm 0,58$ Dài hơn 1,25 lần ($t = 5,66^{**}$)
Độ bền chậu hoa (ngày) $80,88 \pm 1,17$ $71,40 \pm 1,61$ Dài hơn 9,48 ngày ($t = 33,08^{**}$)
Số nụ trên cây (nụ) $18,20 \pm 1,26$ $15,60 \pm 1,00$ Cao hơn 1,17 lần ($t = 8,09^{**}$)
Số hoa trên cây (hoa) $15,90 \pm 1,05$ $12,30 \pm 0,95$ Cao hơn 1,29 lần ($t = 12,58^{**}$)
Tỷ lệ hoa nở (%) $87,30 \pm 2,52$ $79,00 \pm 2,72$ Cao hơn 8,3% ($t = 11,24^{**}$)
Đường kính hoa (cm) $6,73 \pm 0,14$ $6,44 \pm 0,26$ Lớn hơn ($t = 5,02^{**}$)
Số chậu thương phẩm Loại 1 (trên 300 chậu) 211 187 Tăng 24 chậu
Tổng số chậu thương phẩm (Loại 1 + Loại 2) 278 265 Tăng 13 chậu
Hiệu quả kinh tế chênh lệch ($HQ_i$) 36,3% Đối chứng Vượt chỉ tiêu đặt ra (> 20%)
Cây hoa chuông (Sinningia speciosa)
Chiều cao cây tại 35 NST (cm) $8,45 \pm 0,37$ $7,92 \pm 0,42$ Cao hơn 1,07 lần ($t = 6,66^{**}$)
Số lá tại 35 NST (lá/cây) $15,50 \pm 0,97$ $13,94 \pm 1,53$ Nhiều hơn 1,56 lá ($t = 6,08^{**}$)
Chiều dài lá tại 35 NST (cm) $9,87 \pm 0,26$ $8,78 \pm 0,66$ Dài hơn 1,09 cm ($t = 10,88^{**}$)
Chiều rộng lá tại 35 NST (cm) $6,26 \pm 0,17$ $5,89 \pm 0,29$ Rộng hơn 0,37 cm ($t = 7,84^{**}$)
Độ bền chậu hoa Kéo dài hơn đối chứng 4,4 ngày - -
Hiệu quả kinh tế chênh lệch ($HQ_i$) 29,1% Đối chứng Vượt chỉ tiêu đặt ra (> 20%)

(Ghi chú: $^{**}$ biểu thị sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất $P < 0,01$).

Giải pháp kỹ thuật và đóng góp của đề tài

  1. Xác lập công thức phối trộn giá thể tối ưu: Tỷ lệ thể tích 60% GT1 (mụn dừa, bã nấm, phân bò) : 35% GT2 (bùn đáy ao cá tra, rơm rạ, phân bò ủ hiếu khí) : 5% TSH (than sinh học trấu) có các chỉ tiêu hóa lý lý tưởng (pH 6,5; độ ẩm hữu dụng 31,8%; C/N 17,0; đạm nitrate $123,3\text{ mg/kg}$), thay thế hiệu quả giá thể phân rơm và vỏ trấu truyền thống.
  2. Hoàn thiện quy trình canh tác hoa chậu trong điều kiện che lưới giảm 50% ánh sáng kết hợp bón thúc cân đối, kiểm soát tốt sâu khoang, bọ trĩ và nấm bệnh thối thân rễ.
  3. Cung cấp luận cứ thực nghiệm chứng minh phụ phẩm nông nghiệp tại chỗ (bùn ao cá tra, bã nấm, vỏ trấu) hoàn toàn có thể chế biến thành vật liệu hữu cơ có giá trị kinh tế, giúp người làm vườn tại Sa Đéc chủ động vật tư, tăng tỷ lệ hoa xuất vườn loại 1 và nâng cao lợi nhuận sản xuất từ 29,1% đến 36,3%.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Thí nghiệm được triển khai theo phương thức diện rộng với 2 công thức ngẫu nhiên không bố trí lần lặp lại, thực hiện trong khuôn khổ một vụ mùa duy nhất (tháng 9 đến tháng 12/2023) tại Trung tâm Ứng dụng Nông nghiệp Công nghệ cao tỉnh Đồng Tháp.
  • Quy mô khảo nghiệm giới hạn ở mức 600 chậu dạ yến thảo và 1.000 chậu hoa chuông, chưa khảo sát đầy đủ biến động của môi trường giá thể khi triển khai tại các hộ canh tác tư nhân với quy trình quản lý nước tưới và vi khí hậu khác nhau.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Tiếp tục theo dõi, đánh giá tính ổn định của công thức giá thể NL qua các mùa vụ canh tác khác trong năm tại Làng hoa Sa Đéc, đặc biệt là vụ Hè Thu có nhiệt độ cao và mưa kéo dài.
  • Mở rộng nghiên cứu thử nghiệm công thức giá thể trên các đối tượng hoa chậu thương phẩm khác như hoa đồng tiền, hoa dừa cạn, cúc mâm xôi hoặc hoa vạn thọ.
  • Nghiên cứu tiêu chuẩn hóa quy trình sản xuất giá thể GT1 và GT2 ở quy mô công nghiệp nhằm ổn định chất lượng thương phẩm và hạ giá thành nguyên liệu.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và giảng viên các chuyên ngành Nông học, Khoa học Cây trồng, Làm vườn và Quản lý Nông nghiệp trong việc thiết kế thí nghiệm nông học diện rộng và lượng hóa hiệu quả kinh tế kỹ thuật.
  • Kỹ sư nông nghiệp và cán bộ khuyến nông tại các vùng chuyên canh hoa kiểng, đặc biệt là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Các hợp tác xã, cơ sở ươm trồng cây giống và nhà vườn tại Làng hoa Sa Đéc có nhu cầu đổi mới kỹ thuật phối trộn giá thể, tận dụng phụ phẩm hữu cơ tại chỗ để giảm phụ thuộc vào nguồn phân rơm tự nhiên đang ngày càng khan hiếm.

Phần có giá trị tham khảo cao nhất trong khóa luận:

  • Bảng phân tích chi tiết các chỉ tiêu hóa lý tính của giá thể (Bảng 2.2) với các phương pháp thử nghiệm đạt chuẩn TCVN.
  • Quy trình kỹ thuật ủ compost phụ phẩm bùn ao nuôi cá tra kết hợp rơm rạ và phân bò (GT2).
  • Phương pháp luận, tiêu chí phân cấp hoa chậu thương phẩm (Loại 1, Loại 2) và công thức tính toán hiệu quả kinh tế nông học ($HQ_i$).

Câu hỏi thường gặp

1. Công thức giá thể thử nghiệm (NL) gồm những thành phần nào và tỷ lệ phối trộn ra sao?

Giá thể thử nghiệm (NL) được phối trộn theo tỷ lệ thể tích: 60% GT1 : 35% GT2 : 5% TSH. Trong đó, GT1 gồm bã nấm rơm, mụn dừa và phân bò; GT2 được sản xuất từ bùn đáy ao nuôi cá tra, rơm rạ và phân bò qua quá trình ủ compost hiếu khí từ 28 đến 35 ngày; TSH là than sinh học sản xuất từ vỏ trấu.

2. Vì sao giá thể thử nghiệm (NL) cho hiệu quả sinh trưởng rễ vượt trội hơn giá thể đối chứng (SD)?

Giá thể NL có lượng nước hữu dụng đạt 31,8% (cao hơn 16,7% so với mức 15,1% của giá thể đối chứng SD), khả năng giữ nước đạt 49,2% (so với 36,6% của SD), tỷ lệ C/N cân bằng ở mức 17,0 (đảm bảo tính ổn định sinh hóa) và hàm lượng đạm dạng $N-NO_3^-$ đạt 123,3 mg/kg (gấp gần 13 lần so với 9,8 mg/kg của SD). Những yếu tố này tạo môi trường xốp ẩm, thoáng khí và dinh dưỡng cân đối giúp chiều dài rễ dạ yến thảo đạt 28,49 cm và sinh khối rễ tươi đạt 40,01 g/chậu, vượt xa giá thể đối chứng.

3. Mô hình giá thể mới cải thiện độ bền chậu hoa của hai giống cây như thế nào?

Cây dạ yến thảo trồng trên nền giá thể NL có độ bền chậu hoa đạt 80,88 ngày, dài hơn 9,48 ngày (tương đương 9,5 ngày) so với mức 71,40 ngày trên giá thể đối chứng SD. Đối với cây hoa chuông, độ bền chậu hoa trồng trên nền giá thể NL kéo dài hơn 4,4 ngày so với đối chứng SD.

4. Hiệu quả kinh tế của mô hình giá thể NL có đạt mục tiêu đề ra ban đầu không?

Mục tiêu ban đầu của đề tài là đạt hiệu quả kinh tế cao hơn từ 20% trở lên so với mô hình sản xuất đại trà. Kết quả thực nghiệm cho thấy hiệu quả kinh tế ($HQ_i$) của giá thể NL đạt 36,3% trên cây dạ yến thảo và 29,1% trên cây hoa chuông. Cả hai kết quả đều vượt mục tiêu 20% đặt ra.

5. Quy mô số lượng chậu và diện tích bố trí của hai thí nghiệm là bao nhiêu?

Thí nghiệm cây dạ yến thảo bố trí trên 2 ô cơ sở, mỗi ô 300 chậu (tổng 600 chậu), chậu kích thước 20 x 14 x 15 cm, tổng diện tích canh tác là 124,2 m². Thí nghiệm cây hoa chuông gồm 2 ô cơ sở, mỗi ô 500 chậu (tổng 1.000 chậu), chậu kích thước 15 x 12 x 14 cm, tổng diện tích canh tác là 78,86 m².


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hoài Thanh đã tiến hành đánh giá thực nghiệm mô hình ứng dụng giá thể hữu cơ phối trộn (60% GT1 : 35% GT2 : 5% TSH) đối với cây dạ yến thảo và cây hoa chuông trồng chậu tại thành phố Sa Đéc. Kết quả thực nghiệm chỉ ra giá thể thử nghiệm NL vượt trội hơn hẳn giá thể truyền thống về khả năng giữ nước hữu dụng, cải thiện sinh khối bộ rễ, tăng số lượng nụ hoa, mở rộng đường kính hoa và kéo dài thời gian thương phẩm của chậu hoa. Đề tài đã hoàn thành mục tiêu đề ra khi mang lại hiệu quả kinh tế gia tăng 36,3% đối với dạ yến thảo và 29,1% đối với hoa chuông, cung cấp giải pháp kỹ thuật có tính ứng dụng cao trong việc tái chế phụ phẩm nông nghiệp địa phương phục vụ phát triển nghề trồng hoa kiểng bền vững.