Phần mở đầu + Chƣơng 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên, hiện trạng ngập nước tại thành phố Hồ Chí Minh. + Chƣơng 2: Tính toán thủy lực cống và kiểm toán hệ thống thoát nước hıện hữu. + Chƣơng 3: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ crosswave chống ngập cho tuyến đường Võ Văn Ngân quận Thủ Đức-TPHCM + Phần kết luận và kiến nghị. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, HIỆN TRẠNG NGẬP NƢỚC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
Vị trí địa lý TP.Hồ Chí Minh nằm trong toạ độ địa lý khoảng 10 0 10’ – 100 38 vĩ độ bắc và 1060 22’ – 106054 ’ kinh độ đông. Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh , Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang [3].Bản đồ vị trí địa lý thành phố Hồ Chí Minh Đường Võ Văn Ngân bắt đầu giao với Lê Văn Chí đến ngã 5 chợ Thủ Đức dài khoảng 2,050m, mặt cắt ngang đường hiện hữu phần xe chạy 11m ~ 12m, vỉa hè mỗi bên rộng từ 3-5m. Mặt đường còn khá tốt, tuy nhiên vỉa hè nhiều đoạn hư hỏng nhiều [3]. Khu vực tuyến đƣờng Võ Văn Ngân - quận Thủ Đức 1.
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Ðông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Ðịa hình tổng quát có dạng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Ðông sang Tây, có thể chia thành 3 tiểu vùng địa hình: vùng cao nằm ở phía Bắc - Ðông Bắc và một phần Tây Bắc (thuộc bắc huyện Củ Chi, đông bắc quận Thủ Ðức và quận 9), vùng thấp trũng ở phía Nam-Tây Nam và Ðông Nam thành phố (thuộc các quận 9, 8,7 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ), vùng trung bình, phân bố ở khu vực Trung tâm Thành phố, gồm phần lớn nội thành cũ, một phần các quận 2, Thủ Ðức, toàn bộ quận 12 và huyện Hóc Môn [3] 6 Hình 1. Bản đồ cao độ thành phố Hồ Chí Minh trên mực nƣớc biển trung bình Một số đặc điểm hiện trạng đường Võ Văn Ngân như sau [5]: Địa hình khu vực tuyến có xu hướng thấp dần từ đầu tuyến về cuối tuyến, cao độ tương đối cao và địa hình khá dốc, phía đầu tuyến có cao độ +29.90m và phía cuối tuyến có cao độ khoảng +4. Khu vực tuyến đi qua là khu dân cư hiện hữu dọc hai bên đường có các đường ngang rộng trung bình khoảng 6m đến 12m tùy từng vị trí.
Dân cư: dân cư dọc tuyến khá đông đúc, chủ yếu là mới xây dựng, dọc tuyến có nhiều nhà máy xí nghiệp và các cơ sở sản xuất mới mọc lên. Các công trình kiến trúc quan trọng: trên tuyến ngoài một số nhà cao tầng mới xây dựng thì hầu như không có các công trình kiến trúc đặc biệt.Bản đồ cao độ thành phố Hồ Chí Minh 8 Một số hình ảnh liên quan đến khu vực nghiên cứu: Điểm đầu khu vực nghiên cứu Trước trường ĐH SPKT Khu vực trường CĐN Thủ Đức Đoạn trước ngã 5 chợ Thủ Đức Hệ thống TNHH không đảm bảo Rãnh ngắt nước đoạn gần Nhà Thờ Ngã 5 chợ Thủ Đức Đoạn qua chợ Thủ Đức 9 Đoạn qua chợ Thủ Đức Giao Lê Văn Ninh – Dương Văn Cam 1. Chế độ khí tƣợng - thủy văn [5]. Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) nằm trong vùng Miền Đông Nam Bộ (MĐNB), ở vị trí vừa là nơi tiếp giáp với Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), vừa là cửa ngõ từ biển vào đất liền để từ đó tỏa đi khắp cả nước.HCM có diện tích tự nhiên 2.093,7 km2, phía Bắc giáp các tỉnh Đồng Nai và Bình Dương, phía Tây giáp các tỉnh Tây Ninh và Long An, phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và biển Đông.
Chiều rộng trung bình là 15 km (nơi rộng nhất 50 km- từ Thủ Đức qua Bình Chánh, và nơi hẹp nhất 6,5 km (ngang mũi Nhà Bè), chiều dài theo đường chim bay từ Cần Giờ đến Củ Chi là 100 km, từ 10o22’ đến 11o31’ vĩ độ Bắc, từ 106o22’ đến 107o01’ kinh độ Đông. TPHCM Có đặc điểm khí tượng thủy văn như sau: 1. Khí tƣợng Nắng Thành phố Hồ Chí Minh rất nhiều nắng. Số giờ nắng toàn năm trung bình lên tới 2488.9 giờ, vào loại nhiều trên toàn quốc.
Suốt 4 tháng mùa khô, từ tháng 1 đến tháng 4, số giờ nắng vượt quá 240 giờ mỗi tháng. Tháng nhiều nhất là tháng 3, thường có tới 272 giờ. Thời kỳ tương đối ít nắng là các tháng mưa nhưng số giờ nắng mỗi tháng cũng trên 162 giờ. Số giờ nắng trung bình tại trạm khí tƣợng Tân Sơn Nhất Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm Số giờ 244 246 272 239 195 171 180 172 162 182 200 223 2489 10 Chế độ ẩm Thời kỳ ẩm trùng với mùa mưa, kéo dài từ tháng 6 đến tháng 11 có độ ẩm trung bình vượt quá 80%.
Thời kỳ khô trùng với mùa ít mưa. Trừ tháng 5 và tháng 12 còn tương đối ẩm, trong 4 tháng còn lại, từ tháng 1 đến tháng 4, độ ẩm trung bình giảm xuống 70-72%. Độ ẩm tƣơng đối (%) tháng và năm trạm KT Tân Sơn Nhất Tháng I II III IV V VI VII VII IX X XI XII Năm T. bình 72 70 70 72 79 82 83 83 I 85 84 80 77 78 Min 23 22 20 21 26 30 40 44 43 40 33 29 20 Chế độ nhiệt độ không khí Đặc điểm cơ bản là có một nền nhiệt độ cao và hầu như không thay đổi trong năm.
Nhiệt độ trung bình qua các năm từ 27 - 280C. Nhiệt độ trung bình cao nhất vào tháng 4 (350C), nhiệt độ trung bình thấp nhất trong tháng 12 (220C). Nhiệt độ ít biến động qua các tháng, khoảng 4 – 5oC, nhưng sự chênh lệch nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm tương đối lớn. Thời kỳ nóng nhất trong năm là đầu mùa mưa: tháng 3, 4 và 5.
Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối đã ghi được là 400C (4/1912). Tháng khí thấp nhất tuyệt đối đã ghi được là 13. Nhiệt độ không khí (C) tháng và năm tại trạm khí tƣợng TSN Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm T.8 Chế độ mưa Lượng mưa từ tháng 12 tới tháng 3 năm sau Nhìn chung lượng mưa trong thời kỳ này trên toàn khu vực đều khá thấp. Lượng mưa trung bình tháng lớn nhất trong thời kỳ này cũng chỉ đạt gần 40 mm.
Lượng mưa trung bình tháng nhỏ nhất có khi chỉ một vài mm, diễn ra ở nhiều nơi nhất là vào tháng 1 và tháng 2, đây là những tháng có lượng mưa nhỏ nhất trong năm. Trong tháng này qui luật phân bố lượng mưa không rõ nét, sự khác biệt theo không gian tương đối nhỏ. Khi tính độ lệch chuẩn (S) cho các giá trị lượng mưa tháng của toàn khu vực cho thấy 11 S đều khá nhỏ so với các tháng khác. Hay nói cách khác lượng mưa trong các tháng này là rất ổn định.
mm 350 Nhà Bè Tân Sơn Hòa 300 Cần Giờ Cát Lái 250 Hóc Môn Củ Chi 200 Lê Minh Xuân Long Sơn 150 An Phú Tam Thôn Hiệp 100 XM Hà Tiên Bình Chánh 50 Đài KTTV KVNB Thuận An 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tháng Hình 1. Lƣợng mƣa trung bình tháng trên khu vực Tp.HCM Lượng mưa trung bình năm Lượng mưa trong tháng 4 và tháng 11 Đây là hai tháng chuyển tiếp giữa mùa khô và mùa mưa.Thời đoạn này có sự biến đổi sâu sắc của các trường khí tượng, nhất là trường gió, ẩm từ mặt đất lên tới 700 mb. Lượng mưa thu được trong tháng 4 chủ yếu là do sự bộc phát của gió mùa Tây Nam. Tháng 11 lượng mưa thu được do nhiều nguyên nhân như gió mùa tây nam, sóng đông, dải ICZ , gió mùa Đông Bắc.
Phân bố mưa từ tháng 5 đến tháng 10 Các tháng này tập trung phần lớn lượng mưa năm, đạt khoảng 93% đến 96% lượng mưa năm. Lượng mưa trong tất cả các tháng này đều khá cao, chỉ có tháng 5 lượng mưa còn thấp, từ 140 mm đến 180 mm. Các tháng còn lại lượng mưa hầu hết đạt từ 200 mm đến 300 mm. Từ các bản đồ phân bố lượng mưa trung bình tháng cho thấy khu vực mưa lớn thường xảy ra ở các quận trung tâm, điều này có liên quan đến mặt đệm và chất thải công nghiệp, đây cũng là nguyên nhân góp phần gây nên ngập lụt.
Vào cuối tháng 7 đầu tháng 8 thường xảy các đợt khô hạn kéo dài. Sự bất thường này tạo nên hai đỉnh mưa, một đỉnh chính vào tháng 9 và một đỉnh phụ vào tháng 6. Nguyên nhân chủ yếu của các đợt khô hạn này liên quan đến hoạt động của Lưỡi cao áp Thái Bình Dương (LCATBD). Điều này thể hiện rõ qua đường quá trình lượng mưa trượt một tháng.
12 Trong tháng 7, LCATBD thường lấn sâu vào đất liền, thể hiện khá rõ trên mực 700 mb gây nên những ảnh hưởng khác nhau cho khu vực. Hoạt động này thường gây nên những đợt khô hạn kéo dài từ 6 đến 12 ngày ở một số nơi. Phân tích độ lệch chuẩn cho các giá trị lượng mưa tháng của toàn khu vực nhận thấy trong tháng 7 giá trị của S khá lớn so với các tháng còn lại, hay nói cách khác do hoạt động bất thường của LCATBD gây nên sự dị thường này. Thống kê các đợt khô hạn có số ngày không mưa từ 6 ngày trở lên, số đợt khô hạn trung bình của các trạm trong mùa mưa là từ 3 đến 4 lần.
Sau các đợt khô hạn trên do điều kiện nhiệt lực thuận lợi kết hợp với sự tăng cường của gió mùa tây nam và các hình gây mưa khác có thể gây nên các trận mưa cường độ cao gây ngập lụt. Số ngày có lượng mưa lớn hơn 40 mm các trạm khu vực nội thành trong tháng 5 còn tương đối thấp khoảng từ 0. Riêng các tháng còn lại đều khá cao, có trạm lên tới 2. Tháng 10 là tháng hay xảy các đợt mưa lớn kéo dài, số ngày có lượng mưa trên 40 mm khu vực nội thành đều từ 1.
Đây là tháng có khả năng ngập cao do lượng mưa tại chỗ, triều cao và xả lũ từ thượng nguồn. Lượng mưa trung bình năm Qua phân bố lượng mưa trung bình năm cho thấy, một khu vực mưa lớn được hình thành ở vùng trung tâm thành phố và mở rộng về phía Tây Tây Nam. Đối diện với khu vực này là vùng có lượng mưa thấp nằm ngoài trung tâm thành phố, về phía đông bắc.