Nghiên cứu tỷ lệ kiểu gen và mối liên quan của HPV ở bệnh nhân u nhú đảo ngược mũi xoang

Nghiên cứu tỷ lệ kiểu gen và mối liên quan của HPV ở bệnh nhân u nhú đảo ngược mũi xoang, cung cấp thông tin quan trọng cho y học.

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Khoa học y sinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

159
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Một vài đặc điểm của u nhú đảo ngược mũi xoang

1.2. Giải phẫu sinh lý và mô học mũi xoang

1.3. Niêm mạc mũi xoang

1.4. Bệnh sinh u nhú đảo ngược mũi xoang

1.5. Hút thuốc lá và u nhú đảo ngược mũi xoang

1.6. Viêm mạn tính và u nhú đảo ngược mũi xoang

1.7. Triệu chứng lâm sàng của bệnh u nhú đảo ngược mũi xoang

1.7.1. Triệu chứng cơ năng

1.7.2. Triệu chứng thực thể

1.8. Tái phát của u nhú đảo ngược mũi xoang

1.9. Tổn thương đại thể, vi thể của u nhú đảo ngược mũi xoang

1.10. Human Papilloma virus và u nhú đảo ngược mũi xoang

1.11. Cơ chế của sự tiến triển u nhú đảo ngược thành ác tính

1.12. Phát hiện ADN HPV trong mô

1.13. Nghiên cứu HPV trong u nhú đảo ngược mũi xoang

1.13.1. Trên thế giới

1.13.2. Tình hình nghiên cứu HPV trong u nhú đảo ngược mũi xoang tại Việt Nam

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

2.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán u nhú đảo ngược mũi xoang

2.4. Tiêu chuẩn chẩn đoán polyp mũi xoang

2.5. Tiêu chuẩn chẩn đoán ung thư mũi xoang

2.6. Tiêu chuẩn loại trừ

2.7. Trang bị, hóa chất nghiên cứu

2.8. Phương pháp nghiên cứu

2.9. Thiết kế nghiên cứu

2.10. Các thông số nghiên cứu

2.11. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

2.11.1. Phương pháp xử lý

2.11.2. Phương pháp phân tích số liệu

2.12. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm lâm sàng bệnh nhân u nhú đảo ngược mũi xoang

3.2. Đặc điểm tuổi và giới

3.3. Một số đặc điểm lâm sàng u nhú đảo ngược mũi xoang

3.4. Một số đặc điểm giải phẫu bệnh u nhú đảo ngược mũi xoang

3.5. Tỷ lệ nhiễm HPV và kiểu gen của HPV ở mô u nhú đảo ngược mũi xoang

3.6. Tỷ lệ phát hiện HPV-ADN ở mô u nhú đảo ngược mũi xoang

3.7. Kiểu gen HPV-ADN ở mô u nhú đảo ngược mũi xoang

3.8. Phân tích mối liên quan của nhiễm HPV với một số đặc điểm lâm sàng bệnh nhân UNĐN MX

3.9. Mối liên quan của nhiễm HPV ở bệnh nhân u nhú đảo ngược mũi xoang

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng bệnh nhân u nhú đảo ngược mũi xoang

4.2. Đặc điểm về tuổi và giới bệnh nhân u nhú đảo ngược mũi xoang

4.3. Đặc điểm lâm sàng bệnh nhân u nhú đảo ngược mũi xoang

4.4. Đặc điểm giải phẫu bệnh u nhú đảo ngược mũi xoang

4.5. Tỷ lệ nhiễm HPV và kiểu gen của HPV ở mô u nhú đảo ngược mũi xoang

4.6. Tỷ lệ phát hiện HPV-ADN ở mô u nhú đảo ngược mũi xoang

4.7. Kiểu gen HPV-ADN ở mô u nhú đảo ngược mũi xoang

4.8. Mối liên quan của nhiễm HPV và kiểu gen của HPV với một số đặc điểm lâm sàng bệnh nhân u nhú đảo ngược mũi xoang

4.9. HPV liên quan với tuổi và giới ở BN u nhú đảo ngược mũi xoang

4.10. HPV liên quan với sự tái phát của u nhú đảo ngược mũi xoang

4.11. HPV liên quan với hút thuốc lá, uống rượu và u nhú đảo ngược mũi xoang

4.12. Kiểu gen của HPV liên quan tới tình trạng chuyển hóa ác tính của u nhú đảo ngược mũi xoang

4.13. Những hạn chế của đề tài

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu tỷ lệ gen HPV ở bệnh nhân u nhú đảo ngược mũi xoang

Nghiên cứu tỷ lệ gen HPV ở bệnh nhân u nhú đảo ngược mũi xoang là một lĩnh vực quan trọng trong y học hiện đại. U nhú đảo ngược mũi xoang là một loại u tân sinh lành tính, nhưng có khả năng tái phát cao và liên quan đến ung thư. Việc xác định tỷ lệ nhiễm HPV có thể giúp hiểu rõ hơn về cơ chế bệnh sinh và các yếu tố nguy cơ liên quan. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin về tình hình nhiễm HPV mà còn mở ra hướng đi mới trong việc điều trị và phòng ngừa bệnh.

1.1. Đặc điểm của u nhú đảo ngược mũi xoang

U nhú đảo ngược mũi xoang (UNĐN MX) là một loại u tân sinh lành tính, thường gặp ở nam giới và có tỷ lệ mắc cao ở độ tuổi trung niên. U này có thể gây ra nhiều triệu chứng khó chịu và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Việc hiểu rõ về đặc điểm lâm sàng và mô học của u nhú đảo ngược mũi xoang là rất cần thiết để có phương pháp điều trị hiệu quả.

1.2. Tình hình nghiên cứu HPV trên thế giới

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa nhiễm HPV và sự phát triển của u nhú đảo ngược mũi xoang. Các kiểu gen HPV như HPV-16 và HPV-18 được xác định là có nguy cơ cao gây ung thư. Việc phát hiện và phân tích tỷ lệ nhiễm HPV trong các mẫu mô bệnh nhân là cần thiết để đánh giá nguy cơ và đưa ra các biện pháp phòng ngừa.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu tỷ lệ gen HPV

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về HPV, nhưng việc xác định tỷ lệ nhiễm HPV ở bệnh nhân u nhú đảo ngược mũi xoang vẫn còn nhiều thách thức. Các yếu tố như độ tuổi, giới tính, và tiền sử bệnh lý có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu. Hơn nữa, việc thu thập mẫu và phân tích gen HPV cần được thực hiện một cách chính xác để đảm bảo độ tin cậy của kết quả.

2.1. Thách thức trong việc thu thập mẫu bệnh phẩm

Việc thu thập mẫu bệnh phẩm từ bệnh nhân u nhú đảo ngược mũi xoang gặp nhiều khó khăn do tính chất phức tạp của bệnh. Các mẫu cần được lấy đúng cách và bảo quản tốt để đảm bảo chất lượng trong quá trình phân tích gen HPV.

2.2. Khó khăn trong việc phân tích kiểu gen HPV

Phân tích kiểu gen HPV đòi hỏi kỹ thuật cao và thiết bị hiện đại. Việc xác định chính xác kiểu gen HPV có thể gặp khó khăn do sự đa dạng của các chủng virus. Điều này yêu cầu các nhà nghiên cứu phải có kiến thức chuyên sâu và kinh nghiệm trong lĩnh vực này.

III. Phương pháp nghiên cứu tỷ lệ gen HPV ở bệnh nhân

Nghiên cứu tỷ lệ gen HPV ở bệnh nhân u nhú đảo ngược mũi xoang thường sử dụng các phương pháp như PCR (Polymerase Chain Reaction) để phát hiện ADN HPV trong mẫu mô. Phương pháp này cho phép xác định nhanh chóng và chính xác sự hiện diện của virus HPV, từ đó đánh giá tỷ lệ nhiễm HPV trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu.

3.1. Phương pháp thu thập mẫu và xử lý

Mẫu mô được thu thập từ bệnh nhân thông qua phẫu thuật hoặc nội soi. Sau khi thu thập, mẫu sẽ được xử lý và bảo quản trong điều kiện thích hợp để đảm bảo không bị phân hủy trước khi phân tích.

3.2. Kỹ thuật PCR trong phát hiện HPV

Kỹ thuật PCR là một trong những phương pháp chính để phát hiện ADN HPV. Phương pháp này cho phép khuếch đại các đoạn ADN mục tiêu, giúp phát hiện sự hiện diện của virus HPV một cách nhanh chóng và chính xác.

IV. Kết quả nghiên cứu tỷ lệ gen HPV ở bệnh nhân

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm HPV ở bệnh nhân u nhú đảo ngược mũi xoang có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm tuổi và giới tính. Các kiểu gen HPV phổ biến được phát hiện bao gồm HPV-6, HPV-11, và HPV-16. Những phát hiện này không chỉ cung cấp thông tin quan trọng về mối liên quan giữa HPV và u nhú đảo ngược mũi xoang mà còn mở ra hướng đi mới trong việc điều trị và phòng ngừa bệnh.

4.1. Tỷ lệ nhiễm HPV theo độ tuổi

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm HPV cao hơn ở nhóm bệnh nhân từ 40 đến 60 tuổi. Điều này cho thấy độ tuổi có thể là một yếu tố nguy cơ quan trọng trong sự phát triển của u nhú đảo ngược mũi xoang.

4.2. Kiểu gen HPV phổ biến ở bệnh nhân

Các kiểu gen HPV như HPV-16 và HPV-18 được phát hiện với tỷ lệ cao trong mẫu mô bệnh nhân. Điều này cho thấy mối liên quan chặt chẽ giữa các kiểu gen này và sự phát triển của u nhú đảo ngược mũi xoang.

V. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu tỷ lệ gen HPV

Nghiên cứu tỷ lệ gen HPV ở bệnh nhân u nhú đảo ngược mũi xoang có thể giúp cải thiện các phương pháp chẩn đoán và điều trị. Việc phát hiện sớm nhiễm HPV có thể giúp bác sĩ đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời, từ đó giảm thiểu nguy cơ tái phát và biến chứng của bệnh.

5.1. Cải thiện phương pháp chẩn đoán

Việc phát hiện HPV sớm có thể giúp bác sĩ chẩn đoán chính xác hơn về tình trạng bệnh của bệnh nhân. Điều này có thể dẫn đến việc áp dụng các phương pháp điều trị phù hợp hơn.

5.2. Tăng cường biện pháp phòng ngừa

Nghiên cứu cũng mở ra cơ hội cho việc phát triển các biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn đối với bệnh nhân có nguy cơ cao. Việc tiêm vaccine HPV có thể là một trong những giải pháp tiềm năng.

VI. Kết luận và tương lai của nghiên cứu tỷ lệ gen HPV

Nghiên cứu tỷ lệ gen HPV ở bệnh nhân u nhú đảo ngược mũi xoang là một lĩnh vực quan trọng cần được tiếp tục khai thác. Những phát hiện từ nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về mối liên quan giữa HPV và u nhú đảo ngược mũi xoang mà còn mở ra hướng đi mới trong việc điều trị và phòng ngừa bệnh. Tương lai của nghiên cứu này có thể dẫn đến những tiến bộ trong y học và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

6.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định rõ hơn mối liên quan giữa các kiểu gen HPV và sự phát triển của u nhú đảo ngược mũi xoang. Việc này sẽ giúp xây dựng các hướng dẫn điều trị hiệu quả hơn.

6.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu trong y học

Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa trong việc điều trị u nhú đảo ngược mũi xoang mà còn góp phần vào việc hiểu biết sâu sắc hơn về vai trò của HPV trong các bệnh lý khác. Điều này có thể mở ra nhiều cơ hội mới trong nghiên cứu y học.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ U nhú đảo ngƣợc mũi xoang là u tân sinh lành tính thƣờng xuất phát từ niêm mạc khe mũi giữa và vách mũi xoang. Đây là bệnh lý đã đƣợc ghi nhận trong y văn hơn một thế kỷ qua, tuy nhiên đến nay u nhú đảo ngƣợc mũi xoang vẫn đang là vấn đề đƣợc tranh luận nhiều do tính chất phức tạp của bệnh sinh, khả năng tái phát cao và mức độ phối hợp với ung thƣ của tình trạng bệnh lý gây nên. U nhú đảo ngƣợc mũi xoang là bệnh tƣơng đối hiếm gặp chiếm 0,5% trong các u vùng tai mũi họng nói chung và khoảng 4% các u mũi xoang n i riêng [1], [2]. Các khối u thƣờng chỉ xảy ra ở một bên mũi và tỷ lệ mắc u nhú đảo ngƣợc mũi xoang hay gặp ở nam cao hơn so với nữ khoảng 4 đến 5 lần.

Bệnh gặp ở ngƣời da trắng nhiều hơn ngƣời da đen và thƣờng gặp ở lứa tuổi 50 đến 60 tuổi. Ở nƣớc ta, u nhú đảo ngƣợc mũi xoang là bệnh ít gặp nên chƣa c nhiều nghiên cứu đƣợc công bố. U nhú đảo ngƣợc mũi xoang có nhiều tên gọi khác nhau và đƣa đến nhiều phƣơng pháp điều trị khác nhau. Một vài tên gọi nhƣ viêm xoang nhú (papillary sinusitis) hoặc u nhú biểu mô (epithelial papilloma) không phản ánh đƣợc sự nghiêm trọng của bệnh.

Một số tên gọi khác nhƣ ung thƣ nhú (papillary carcinoma) hoặc ung thƣ c nhung mao (villous cancer) lại quá nặng nề, đe dọa và đƣa đến xu hƣớng điều trị quá đáng không cần thiết. Cơ chế bệnh sinh của u nhú đảo ngƣợc mũi xoang đến nay vẫn chƣa hoàn toàn sáng tỏ. Sự viêm nhiễm, dị ứng, thuốc lá, sự tiếp xúc hóa chất đã đƣợc coi là c liên quan đến cơ chế bệnh sinh, nhƣng đến nay các yếu tố này chỉ đƣợc coi là các yếu tố thuận lợi giúp cho bệnh phát sinh phát triển. Những nghiên cứu gần đây trên thế giới đã chứng minh nhiễm HPV (Human Papilloma Virus) tiềm tàng, mạn tính vùng mũi xoang c liên quan với sự phát sinh các khối u, trong đ c u nhú đảo ngƣợc mũi xoang và ung thƣ.

Tuy LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 nhiên, bệnh sinh liên quan nhiễm HPV gây u nhú đảo ngƣợc mũi xoang và biến tính ung thƣ mũi xoang cần đƣợc nghiên cứu và làm sáng tỏ [3], [4]. HPV là một virus nhỏ hệ gen ADN có khả năng nhiễm và nhân lên trong các tế bào biểu mô vảy. Phần lớn HPV lây nhiễm không có triệu chứng, âm thầm và tiến triển gây rối loạn tăng sinh tế bào và biến tính ung thƣ. Hiện nay đã có hàng trăm kiểu gen HPV (HPV genotype) khác nhau đƣợc phát hiện, trong đ chỉ có các kiểu gen HPV-16, -18, -31, -33, -35, -39, -45, -51, -52, -58 là những kiểu gen có nguy cơ cao gây ung thƣ mũi xoang.

Trong đ , kiểu gen HPV-6, -11, -16, -18 cho thấy có liên quan chặt chẽ đối với bệnh sinh ung thƣ mũi xoang [5], [6]. U nhú đảo ngƣợc mũi xoang hiện nay đƣợc xem là một bệnh c liên quan đến nhiễm HPV và tiến triển ung thƣ h a. Ở nƣớc ta đã c khá nhiều nghiên cứu về HPV trong một số bệnh lý liên quan ung thƣ cổ tử cung và u nhú mũi xoang. Tuy nhiên, chƣa c nhiều nghiên cứu liên quan HPV trong bệnh lý u nhú đảo ngƣợc ở mũi xoang, đặc biệt liên quan của kiểu gen HPV với u nhú đảo ngƣợc mũi xoang và ung thƣ mũi xoang.

Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu tỷ lệ, ki u gen và mối liên quan c a HPV ở bệnh nhân u ảo mũ xo ” với 2 mục tiêu sau : 1. Xác định tỷ lệ, kiểu gen và phân bố các kiểu gen của HPV ở bệnh nhân u nhú đảo ngược mũi xoang. Phân tích mối liên quan của nhiễm HPV và kiểu gen HPV với một số đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân u nhú đảo ngược mũi xoang. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. M t v i đặc điểm của u nhú đảo ngƣợc mũi xoang U nhú đảo ngƣợc mũi xoang (UNĐN MX) là u tân sinh lành tính niêm mạc khe mũi giữa, vách mũi xoang, chiếm tỷ lệ 0,5 – 4% trong tất cả các u vùng mũi. Loại u nhú này có tần xuất khoảng 0,75 đến 1,5 ca/100.000 dân/năm, với nam giới chiếm ƣu thế (tỉ lệ 3:1 so với nữ giới). Lần đầu tiên Ward đã mô tả UNĐN MX cách đây hơn một thế kỷ nhƣng mãi cho đến năm 1938, dựa vào tính chất xâm lấn các mô lân cận, xu hƣớng dễ tái phát và khả năng kết hợp với các u ác tính khác của bệnh Ringertz mới hệ thống hóa và sắp xếp lại [1], [2].

Hình ảnh đa dạng của u nhú đảo ngƣợc mũi xoang *N u : eo Roh HJ và cs (2004) [3] A: hình ảnh các cuộn u nhú ph tế bào vảy g n khu v c m t tế bào trụ có lông chuy n B: vùng bi u mô tế bào trụ có lông chuy n tiếp giáp vùng dị sản tế bào vảy C: vùng chuy n dạng từ oạ II oạn III. Tổn thƣơng u nhú đảo ngƣợc mũi xoang chƣa thực sự quen thuộc với các nhà chuyên môn tai mũi họng và giải phẫu bệnh học. Vì vậy, có nhiều tên gọi và những cách mô tả khác nhau đƣợc dùng để chỉ tổn thƣơng của u nhƣ: u LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 nhú đảo ngƣợc (inverted papilloma): u nhú Schneider (Schneiderian papilloma): viêm xoang dạng nhú (papillary sinusitis): polyp với dị sản đảo nghịch (polype with inverting metaplasia): tăng trƣởng tế bào chuyển đổi lành tính (benign transitional cell growth): u nhú biểu mô (epithelia papilloma): u nhú mềm (soft papilloma): u nhú tế bào chuyển đổi (transitional cell papilloma): bƣớu xơ dạng nhú (papillary fibroma): bệnh u nhú (papillomatosis): ung thƣ tế bào trụ (cyclindrical cell carcinoma): ung thƣ biểu mô vảy dạng nhú (squamous papillary epithelioma) (hình 1.1) Trong số đ , nhiều tên gọi không thích hợp hoặc không mô tả chính xác đƣợc tổn thƣơng hoặc chỉ ngụ ý mô tả một diễn biến lâm sàng nào đ khiến điều trị sai hƣớng [2]. Một vài tên gọi nhƣ “viêm xoang dạng nhú” hoặc "u nhú biểu mô" không phản ánh đƣợc sự nghiêm trọng của tổn thƣơng.

Ngƣợc lại các tên gọi khác nhƣ: "papillary carcinoma" hoặc "villous cancer" mang tính đe dọa nhƣ ung thƣ [7] nên đã khuyến khích sử dụng các phƣơng pháp điều trị giống ung thƣ. Bốn tính chất đặc trƣng của u nhú đảo ngƣợc mũi xoang là: - Dễ tái phát - Khả năng phá hủy - Kết hợp với polyp mũi - Kết hợp với u ác tính khác. Những tính chất này đã làm cho sự đánh giá về tính chất của bệnh, sử dụng các phƣơng pháp điều trị rất khác nhau của các tác giả. Một số nhà lâm sàng coi u này là lành tính, một số khác xếp vào tiền ác tính, một số ngƣời khác lại cho là ác tính.

Trong điều trị, một số tác giả đề nghị dùng phƣơng pháp bảo tồn trƣớc tiên, để dành những kỹ thuật triệt để tận gốc cho những tổn thƣơng lan rộng hoặc là cho phẫu thuật lần sau khi bệnh tái phát. Do bệnh có tính chất âm ỉ và xâm lấn nên một vài tác giả khuyến cáo nên cắt bỏ xƣơng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 sàng và cắt bỏ phần giữa xƣơng hàm trên đối với UNĐN MX và sử dụng phƣơng pháp phẫu thuật sọ mặt đối với những khối u tân tạo xâm lấn rộng. Cho đến nay, UNĐN MX vẫn còn là một vấn đề thời sự vì những điểm nêu trên, đặc biệt là căn nguyên của tổn thƣơng (nguyên nhân gây UNĐN MX) vẫn còn chƣa sáng tỏ. Các yếu tố: viêm nhiễm, dị ứng, thuốc lá, ô nhiễm môi trƣờng, tiếp xúc với các hóa chất độc hại, nghề nghiệp…là những yếu tố liên quan tạo thuận lợi cho bệnh phát sinh và phát triển [7].

Giải phẫu sinh lý và mô học mũi xoang 1. Mũi Khoang mũi (cavum nasi) ổ mũi hay hốc mũi ở giữa nền sọ, khoang miệng và hai hốc mắt khoang mũi thông ra ngoài bởi lỗ mũi ngoài và qua lỗ mũi sau (choanae) thông vào tỵ hầu. Khoang mũi đƣợc chia ra làm hai nửa bởi vách mũi (septum nasi). Mỗi nửa khoang mũi gồm phần tiền đình (vestribulum nasi) giới hạn bởi các sụn mũi ngoài và hố mũi riêng (cavum nasi proprium) hay khoang mũi chính danh đƣợc giới hạn bởi các xƣơng sọ.

Nhìn chung, khoang mũi c 4 thành : trên, dƣới, trong , ngoài. Thành trong là vách mũi chung cho cả hai nửa khoang mũi. Vách mũi gồm: Phần sau trên là mảnh đứng xƣơng sàng, phần trƣớc dƣới là sụn vách mũi (sụn 4 cạnh) và phần sau dƣới là xƣơng lá mía (phần màng). Nền mũi hay vòm miệng đƣợc tạo nên ở 2/3 trƣớc bởi mỏm khẩu cái xƣơng hàm trên và 1/3 sau bởi mảnh ngang xƣơng khẩu cái.

Thành trên hay vòm khoang mũi đƣợc tạo nên bởi xƣơng mũi ở phía trƣớc, mảnh ngang xƣơng sàng ở giữa và mặt trƣớc, mặt dƣới thân xƣơng bƣớm ở sau. Nhƣ vậy, thành trên khoang mũi là khe hẹp cong xuống dƣới gồm 3 đoạn: đoạn mũi trán, đoạn sàng và đoạn bƣớm, xuyên qua các lỗ mảnh ngang LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 xƣơng sàng c các tia khứu (fila olfactoria). Vì vậy, vùng trên khoang mũi là vùng khứu giác (region olfactorria), các vùng niêm mạc khác của khoang mũi là vùng hô hấp (region respiratoria). Thành ngoài có cấu tạo phức tạp, do xƣơng hàm trên, xƣơng lệ, xƣơng sàng, xƣơng khẩu cái và cánh trong chân bƣớm tạo nên.

Từ khối bên xƣơng sàng, xƣơng xoăn mũi trên và xƣơng xoăn mũi giữa (conchae nasales superiores medius) nhô vào trong lòng khoang mũi. Xƣơng xoăn mũi dƣới (concha nasal inferior) là một xƣơng riêng. Các xƣơng xoăn mũi cùng thành mũi ngoài tạo nên các ngách mũi, giữa xƣơng xoăn mũi dƣới và thành dƣới khoang mũi tạo nên ngách mũi dƣới (meatus nasal inferior), ở phần trên của ngách này cách lỗ mũi khoảng 1 - 1,5 cm có lỗ ống lệ tỵ đổ vào. Qua ống lệ tỵ, nƣớc mắt chảy vào mũi làm cho mũi lúc nào cũng ẩm.

Giữa xƣơng xoăn mũi dƣới và xƣơng xoăn mũi giữa là ngách mũi giữa (meatus nasal medius). Ðổ vào ngách này có xoang hàm trên, xoang trán, xoang sàng trƣớc và một phần xoang sàng giữa, ở thành ngoài ngách mũi c khe hình bán nguyệt rộng 2 - 3mm nằm giữa bóng sàng (bulla ethmoidale) và mỏm móc (processus uncinatus). Xoang hàm trên có lỗ đổ vào đáy khe này, ở phần trƣớc trên có lỗ đổ vào xoang trán. Xoang sàng trƣớc thông vào ngách mũi giữa bằng những lỗ nhỏ ở thành trƣớc và thành sau của khe.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ