CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tuân thủ điều trị và các phương pháp đánh giá: 1. Khái niệm về tuân thủ điều trị Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới: “Tuân thủ điều trị của người bệnh là mức độ hành vi của người bệnh dựa trên sự kết hợp các biện pháp: Tuân thủ chế độ dùng thuốc, thay đổi lối sống, chế độ dinh dưỡng, chế độ hoạt động thể lực, chế độ kiểm soát và khám sức khỏe định kỳ tương ứng với các khuyến nghị đã được thống nhất từ một nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe (13, 14). Tuân thủ điều trị bằng thuốc là tỷ lệ giữa số liều thuốc được người bệnh sử dụng thực tế so với số liều được chỉ định/ kê đơn trong một khoảng thời gian nhất định (15).
Các phương pháp đo lường tuân thủ điều trị của người bệnh Có rất nhiều phương pháp đo lường về tuân thủ điều trị đã được áp dụng và thực hiện trên thế giới và Việt Nam, mỗi phương pháp sẽ có những ưu và nhược điểm riêng. Sau đây chúng tôi xin tổng hợp một số phương pháp chính (15-17) Bảng 1. Các phương pháp đo lường tuân thủ điều trị Phương pháp Ưu điểm Nhược điểm Gián tiếp Dễ tiến hành, chi phí thấp, cung cấp thông Sai số do nhớ lại, thông tin tin về các yếu tố ảnh Hệ thống tự báo cáo phụ thuộc vào chủ quan của hưởng đến TTĐT, ĐTNC nên có thể cho kết quả nghiên cứu được trên tuân thủ cao hơn thực tế. số lượng NB lớn và thời gian dài.
Dụng cụ theo dõi lọ thuốc Khó thực hiện trong các Dễ thống kê và đánh điện tử nghiên cứu số lượng lớn bệnh giá, có thể giám sát từ MEMS: Medication Events nhân và thời gian dài, không xa. Monitoring System đánh giá chính xác NB có 5 uống thuốc thật sự hay không. Chi phí cao. Độ nhạy thường không cao, dễ Đánh giá theo quan điểm của Dễ tiến hành, chi phí dẫn đến tỷ lệ tuân thủ cao hơn NVYT thấp, độ đặc hiệu cao thực tế.
Đơn giản, phản ánh Cần phải có sự hợp tác cao được mối liên quan với của NB. Đôi khi gây ra sự Nhật ký của NB các sự kiện bên ngoài thay đổi hành vi của NB. và/hoặc các ảnh hưởng của thuốc Cần NB mang vỏ thuốc đến Tỷ lệ tuân thủ của hình khi tái khám, không khẳng Số lượng viên thuốc dùng thức này chỉ ở mức định chính xác số lượng viên trung bình thuốc NB dã uống thật sự và số vỏ thuốc hiện có. Hiệu quả điều trị là sự tổng hợp Thực hiện dễ dàng, ít của rất nhiều yếu tố khác nhau Đáp ứng lâm sàng tốn kém chứ không đơn thuần chỉ có việc tuân thủ điều trị thuốc.
Trực tiếp Chỉ thực hiện được trong Định lượng nồng độ thuốc những điều kiện nhất định, chi trong máu và nước tiểu, phí cao, cần phải lấy mẫu xâm dùng chất đánh dấu thuốc lấn dịch cơ thể như máu, nước hoặc các chất chuyển hóa Độ chính xác cao tiểu, huyết thanh, kết quả có (Therapeutic drug thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố monitoring – TDM) cá nhân khác, khó thực hiện khi tiến hành nghiên cứu với số 6 lượng NB nhiều. Tốn thời gian và nhân lực y tế, Đánh giá tương đối chính khó đánh giá hành vi tuân thủ Quan sát trực tiếp NB xác hành vi tuân thủ không dùng thuốc Hiện tại đa số các nghiên cứu đánh giá sự tuân thủ dựa vào sự tự tường thuật của bệnh nhân qua phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân hoặc qua điện thoại. Đây là phương pháp chúng tôi sử dụng trong phạm vi nghiên cứu này. Phương pháp này chủ yếu dựa vào sự trả lời của NB về việc uống thuốc và hành vi liên quan đến các chế độ điều trị của NB trong một khoảng thời gian nhất định.
Phương pháp này còn được gọi là hệ thống tự báo cáo - Self-report system là phương pháp dễ thực hiện và ít tốn kém nhưng lại phụ thuộc vào chủ quan của ĐTNC (14, 15, 18, 19). Trong nghiên cứu hệ thống tự báo cáo, nghiên cứu viên sẽ dựa vào một thang đo đánh giá có sẵn, từ đó tiến hành thu thập số liệu thực tế thông qua bảng câu hỏi khảo sát NB. Không có thang đánh giá mức độ tuân thủ nào được coi là tiêu chuẩn vàng. Hiện nay có 5 loại thang đánh giá mức độ tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân thường được sử dụng trong thực hành lâm sàng là bảng câu hỏi tuân thủ điều trị MAQ - The Medication Adherence Questionnaire, bảng câu hỏi niềm tin về thuốc điều trị BMQ - The Brief Medication Questionnaire, thang đánh giá tuân thủ điều trị MARS - Medication Adherence Rating Scale, thang đánh giá niềm tin vào việc sử dụng thuốc hợp lý SEAMS - The Self-efficacy for Appropriate Medication Use Scale, thang đánh giá tuân thủ Hill – Bone (17).
Bảng câu hỏi tuân thủ điều trị - MAQ thường được biết đến là thang tuân thủ điều trị Morisky -4 MMAS – 4 hoặc thang tuân thủ điều trị Morisky – 8 (MMAS – 8). MAQ 7 đánh giá thiếu sót trong dùng thuốc của bệnh nhân do hay quên, bất cẩn hoặc do ảnh hưởng của tác dụng phụ. Ưu điểm của MAQ là câu hỏi đơn giản, dễ chấm điểm, đánh giá được trên quần thể tại thời gian chăm sóc. Nhưng MAQ lại hạn chế trong việc đánh giá niềm tin của bệnh nhân vào thuốc điều trị.
Ban đầu MAQ được thiết kế cho bệnh nhân tăng huyết áp và sau đó được dùng để khảo sát trên bệnh nhân của tất cả các bệnh điều trị mãn tính khác có sử dụng thuốc điều trị lâu dài và bắt buộc tại nhà như tim mạch, tiểu đường. Bảng câu hỏi niềm tin về thuốc điều trị - BMQ của Robert Horne là công cụ để đánh giá thái độ, niềm tin của bệnh nhân với thuốc điều trị. BMQ có ưu điểm là đánh giá được niềm tin của bệnh nhân vào thuốc điều trị và khó khăn trong việc ghi nhớ thuốc. Nhược điểm của BMQ là câu hỏi phức tạp, không đánh giá được mức độ tuân thủ của bệnh nhân.
BMQ được áp dụng cho các bệnh mạn tính như tim mạch, đái tháo đường, trầm cảm, tâm thần phân liệt. Thang đánh giá niềm tin vào việc sử dụng thuốc hợp lý - SEAMS là bộ công cụ đánh giá mức độ tuân thủ điều trị dựa vào niềm tin của bệnh nhân vào thuốc điều trị. Ưu điểm của SEAMS là câu hỏi đơn giản và rất hữu ích trong quản lý phòng khám. SEAMS có hạn chế là khó chấm điểm.
Thang đánh giá này áp dụng cho các bệnh mạn tính như bệnh tim mạch, tăng huyết áp, ĐTĐ, tăng cholesterol máu. Thang đánh giá tuân thủ Hill – Bone là phương pháp giúp các chuyên gia chăm sóc sức khỏe xác định mức độ tuân thủ của bệnh nhân. Thang đánh giá này không chỉ xác định được mức độ không tuân thủ do hay quên và ảnh hưởng tác dụng phụ của thuốc mà còn xác định được niềm tin của bệnh nhân vào thuốc điều trị nhưng các câu hỏi phức tạp, khó chấm điểm. Tuy nhiên thang Hill – Bone chỉ áp dụng cho bệnh nhân tăng huyết áp.
Thang đánh giá tuân thủ - MARS là thang đánh giá tuân thủ áp dụng cho bệnh nhân tâm thần. MARS đánh giá mức độ tuân thủ do nguyên nhân hay quên, giá thuốc và ảnh hưởng của tác dụng phụ. MARS không đánh giá được niềm tin của bệnh nhân vào thuốc điều trị, khó áp dụng vì câu hỏi phức tạp nhưng dễ ghi điểm. 8 Mỗi thang đo có những ưu điểm và nhược điểm riêng, không có phương pháp nào là hoàn hảo nhất.
MAQ dễ thích nghi nhất tại điểm chăm sóc và trên các quần thể. MAQ là cách quản lý và chấm điểm nhanh nhất và đã được chứng nhận trong nhiều loại bệnh nhất. SEAMS, BMQ và Thang đo tuân thủ Hill-Bone cho phép đánh giá hiệu quả của bản thân và do đó có thể hữu ích trong các phòng khám quản lý thuốc. MARS dành riêng cho các nhóm bệnh tâm thần.
Trong số các thang đo đánh giá mức độ tuân thủ bằng hình thức tự báo cáo, thang đo Morisky Medication Adherence Scale MMAS - 8 là thang đo tự báo cáo chung, mô tả hành vi dùng thuốc của người bệnh. Đây là thang điểm được sử dụng phổ biến nhất trong 20 năm qua. Thang đo tuân thủ thuốc MMAS – 8 là một công cụ đánh giá được xác nhận được sử dụng để đo lường sự không tuân thủ điều trị trong một loạt các quần thể bệnh nhân. Thang MMAS – 8 cũng đánh giá mức độ tuân thủ của bệnh nhân dựa trên sự quên thuốc của bệnh nhân và ảnh hưởng của tác dụng phụ giống như MMAS – 4 nhưng đã được bổ sung thêm các câu hỏi đánh giá về thái độ, hành vi của tuân thủ điều trị.
Nó đã được chứng minh bằng nhiều nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu với hơn 110 phiên bản và hơn 80 bản dịch được chuẩn hóa theo từng vùng lãnh thổ, dùng để đánh giá sự tuân thủ điều trị qua phỏng vấn bệnh nhân, với độ nhạy là 0,81, độ đặc hiệu là 0,44 và độ tin cậy bên trong α = 0,61. Thang đo gồm 8 mục với 7 câu hỏi đầu tiên được trả lời theo câu hỏi Có/ Không, riêng câu 8 được tính theo thang đo 5 mức độ theo Likert. Ngoài ra thang MMAS – 8 có ưu điểm là câu hỏi dễ hiểu và được thiết kế để hạn chế sai số do thói quen trả lời “có” của bệnh nhân, dễ chấm điểm, độ tin cậy cao hơn so với MMAS - 4. Do đó, chúng tôi lựa chọn thang MMAS – 8 để đánh giá mức độ tuân thủ của bệnh nhân trong nghiên cứu này.
Bộ câu hỏi này thường có giá trị trong đánh giá sự tuân thủ điều trị ở bệnh nhân tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, suy tim, bệnh động mạch vành và 1 số bệnh mãn tính khác. Hành vi sức khỏe Tuân thủ điều trị là một hành vi sức khỏe, nó thể hiện sự quan tâm của NB đối với tình trạng bệnh lý của mình, từ đó giúp NB tạo ra, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho bản 9 thân mình. Hành vi sức khỏe bao gồm: hành vi tăng cường (có lợi cho sức khỏe, hành vi duy trì sức khỏe và hành vi có hại cho sức khỏe (20). + Yếu tố tiền đề (Predisposing factors): Kiến thức, niềm tin, thái độ, chuẩn mực (yếu tố văn hóa góp phần tạo nên chuẩn mực cá nhân từ đó quyết định cách ứng xử của cá nhân, cho họ những suy nghĩ, những cảm xúc đối với thế giới xung quanh + Yếu tố củng cố (Reinforcing factors): Người thân, đồng nghiệp, bạn bè, người có uy tín.