Luận án tiến sĩ nghiên cứu từ vựng tiếng việt trong thiên nam ngữ lục 60 22 01 01

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu từ vựng tiếng việt trong thiên nam ngữ lục 60 22 01 01, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa học cho vấn

Chuyên ngành

Lí luận ngôn ngữ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học

2013

209
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Ý nghĩa của luận án

1.3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Cái mới của luận án

1.7. Bố cục của luận án

2. NGUỒN NGỮ LIỆU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN

2.1. Một số vấn đề về văn bản Thiên Nam ngữ lục

2.2. Các văn bản Thiên Nam ngữ lục

3. TỪ TRONG TỪ VỰNG CỦA THIÊN NAM NGỮ LỤC

3.1. Diện mạo nguồn gốc của các từ trong Thiên Nam ngữ lục

3.2. Từ có nguồn gốc phi Hán trong Thiên Nam ngữ lục

3.3. Từ thuộc nguồn gốc Việt Mường, Môn Khmer

3.4. Từ thuộc nguồn gốc Tày Thái

3.5. Từ thuộc nguồn gốc Nam Đảo

3.6. Từ chưa rõ nguồn gốc

3.7. Từ có nguồn gốc Hán trong Thiên Nam ngữ lục

3.8. Các từ cổ Hán Việt

3.9. Các từ Hán Việt Việt hóa

3.10. Diện mạo ngữ pháp của các từ trong Thiên Nam ngữ lục

3.10.1. Danh từ trong Thiên Nam ngữ lục

3.10.2. Động từ trong Thiên Nam ngữ lục

3.10.3. Tính từ trong Thiên Nam ngữ lục

3.10.4. Đại từ trong Thiên Nam ngữ lục

3.10.5. Lượng từ trong Thiên Nam ngữ lục

3.10.6. Quán từ trong Thiên Nam ngữ lục

3.10.7. Trợ từ trong Thiên Nam ngữ lục

3.10.8. Liên từ trong Thiên Nam ngữ lục

3.10.9. Giới từ trong Thiên Nam ngữ lục

3.11. Diện mạo các trường từ vựng trong Thiên Nam ngữ lục

3.11.1. Những trường từ vựng cơ bản

3.11.2. Những trường từ vựng văn hóa

4. NGỮ TRONG TỪ VỰNG CỦA THIÊN NAM NGỮ LỤC

4.1. Ngữ và phân loại ngữ trong Thiên Nam ngữ lục

4.2. Ngữ định danh trong Thiên Nam ngữ lục

4.2.1. Ngữ định danh láy nghĩa

4.2.2. Ngữ định danh hợp nghĩa

4.2.3. Ngữ định danh hòa nghĩa

4.3. Ngữ láy trong Thiên Nam ngữ lục

4.3.1. Ngữ láy hoàn toàn

4.4. Thành ngữ trong Thiên Nam ngữ lục

4.4.1. Thành ngữ được sử dụng trực tiếp

4.4.2. Thành ngữ được sử dụng gián tiếp

4.5. Quán ngữ trong Thiên Nam ngữ lục

4.6. Dạng láy trong Thiên Nam ngữ lục

5. MỘT SỐ BIỂU HIỆN CỦA DIỄN BIẾN TỪ VỰNG TỪ THIÊN NAM NGỮ LỤC ĐẾN TIẾNG VIỆT HIỆN NAY

5.1. Những từ ngữ có sự biến đổi về cách dùng

5.2. Những từ ngữ có sự biến đổi về ngữ nghĩa và ngữ pháp

5.3. Những từ ngữ có sự biến đổi về ngữ nghĩa

5.4. Những từ ngữ có sự biến đổi về ngữ pháp

5.5. Những từ ngữ hiện nay không còn được sử dụng

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Tóm tắt

I. Cách giới thiệu tổng quan nghiên cứu từ vựng tiếng Việt trong Thiên Nam Ngữ Lục

Nghiên cứu từ vựng tiếng Việt cổ trong tác phẩm Thiên Nam Ngữ Lục (TNNL) là một hướng đi quan trọng để hiểu rõ hơn về lịch sử phát triển của tiếng Việt. TNNL, một tác phẩm thơ Nôm dài nhất thời trung đại với hơn 8.000 câu lục bát, phản ánh một diện mạo từ vựng phong phú và đa dạng của tiếng Việt cuối thế kỉ XVII. Việc khảo sát từ vựng trong TNNL không chỉ giúp tái hiện trạng thái ngôn ngữ của giai đoạn này mà còn góp phần làm sáng tỏ tiến trình phát triển lịch sử từ vựng tiếng Việt. Nguồn ngữ liệu TNNL được chọn lựa kỹ càng, dựa trên bản phiên âm của Nguyễn Thị Lâm, đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy cao cho nghiên cứu. Qua đó, luận án tiến hành phân xuất và thống kê hơn 5.000 đơn vị từ vựng, bao gồm từ và ngữ, làm cơ sở cho các phân tích sâu hơn về nguồn gốc, cấu trúc và biến đổi từ vựng trong tác phẩm.

1.1. Tổng quan về văn bản Thiên Nam Ngữ Lục và giá trị ngôn ngữ học

Thiên Nam Ngữ Lục là tác phẩm diễn ca lịch sử Việt Nam bằng chữ Nôm, ra đời cuối thế kỉ XVII, phản ánh lịch sử từ thời Hồng Bàng đến thời Hậu Trần. Tác phẩm có giá trị lớn về mặt văn học và ngôn ngữ, thể hiện sự phát triển của văn học chữ Nôm và ngôn ngữ tiếng Việt trung đại. Văn bản có nhiều dị bản, trong đó bản AB.478 được coi là bản cổ nhất và đầy đủ nhất. Việc phiên âm và chú giải của Nguyễn Thị Lâm đã giúp làm sáng tỏ nhiều điểm khó trong văn bản, tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu từ vựng và ngữ nghĩa.

1.2. Ý nghĩa và mục đích nghiên cứu từ vựng trong Thiên Nam Ngữ Lục

Nghiên cứu từ vựng trong TNNL nhằm làm rõ cấu trúc từ vựng tiếng Việt thế kỉ XVII, bao gồm nguồn gốc, thành phần cấu tạo, ngữ nghĩa và phạm vi sử dụng. Mục đích là cung cấp một bức tranh chi tiết về trạng thái từ vựng trong giai đoạn này, góp phần hoàn thiện lịch sử từ vựng tiếng Việt. Nghiên cứu cũng giúp nhận diện những biến đổi từ vựng so với tiếng Việt hiện đại, từ đó hiểu rõ hơn quá trình phát triển và biến đổi của ngôn ngữ.

II. Phương pháp và thách thức trong nghiên cứu từ vựng tiếng Việt trong Thiên Nam Ngữ Lục

Nghiên cứu từ vựng trong TNNL sử dụng phương pháp miêu tả đồng đại, tập trung khảo sát trạng thái từ vựng tại một thời điểm lịch sử xác định. Việc phân xuất và xác định các đơn vị từ vựng trong văn bản cổ là một thách thức lớn do tính phức tạp của chữ Nôm và sự đa dạng của các dị bản. Luận án kết hợp phương pháp định lượng để thống kê tần suất sử dụng từ, đồng thời áp dụng các tiêu chuẩn ngôn ngữ học để phân biệt từ và ngữ, từ đó xây dựng cơ sở dữ liệu từ vựng chính xác và toàn diện.

2.1. Phương pháp miêu tả đồng đại và định lượng trong nghiên cứu từ vựng

Phương pháp miêu tả đồng đại cho phép khảo sát trạng thái từ vựng tại một thời điểm lịch sử cụ thể, giúp tái hiện bức tranh ngôn ngữ của thế kỉ XVII. Kết hợp với phương pháp định lượng, nghiên cứu thống kê tần suất xuất hiện của các đơn vị từ vựng, từ đó phân tích đặc điểm sử dụng và cấu trúc từ vựng trong TNNL một cách khách quan và chính xác.

2.2. Thách thức trong việc xác định đơn vị từ vựng và phân loại từ trong Thiên Nam Ngữ Lục

Việc xác định đơn vị từ vựng trong văn bản chữ Nôm gặp nhiều khó khăn do sự đa dạng về hình thức và nghĩa của từ, cũng như sự tồn tại của các cụm từ cố định như thành ngữ, quán ngữ. Luận án dựa trên quan niệm của Nguyễn Thiện Giáp về từ và ngữ, coi từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa trùng với âm tiết, ngữ là cụm từ cố định có nghĩa hoàn chỉnh. Việc phân loại này giúp phân biệt rõ ràng các đơn vị từ vựng, tạo điều kiện thuận lợi cho phân tích sâu hơn.

III. Phân tích nguồn gốc và cấu trúc từ vựng trong Thiên Nam Ngữ Lục theo phương pháp từ nguyên học

Từ vựng trong TNNL có nguồn gốc đa dạng, bao gồm từ bản địa Việt Mường, Môn Khmer, Tày Thái, Nam Đảo và từ gốc Hán. Nghiên cứu phân tích nguồn gốc từ vựng giúp hiểu rõ quá trình tiếp xúc và ảnh hưởng giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ khác, đồng thời làm sáng tỏ các đặc điểm ngữ nghĩa và phong cách của từng nhóm từ. Cấu trúc từ vựng được khảo sát trên các bình diện hình thái, ngữ pháp và ngữ nghĩa, phản ánh sự đa dạng và phong phú của kho từ vựng tiếng Việt trung đại.

3.1. Phân tích từ có nguồn gốc phi Hán trong Thiên Nam Ngữ Lục

Từ phi Hán trong TNNL chủ yếu thuộc nguồn gốc Việt Mường, Môn Khmer, Tày Thái và Nam Đảo. Việc xác định nguồn gốc dựa trên so sánh với các ngôn ngữ dân tộc cùng họ, đồng thời tham khảo các công trình nghiên cứu trước. Ví dụ, từ “non” (núi) có nguồn gốc Môn Khmer, tương đương với từ "fnoum" trong tiếng Khmer. Các từ này thường mang tính bản địa, phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của người Việt thời trung đại.

3.2. Đặc điểm từ có nguồn gốc Hán và ảnh hưởng trong Thiên Nam Ngữ Lục

Từ gốc Hán chiếm một phần lớn trong từ vựng TNNL, thể hiện sự tiếp thu sâu sắc của tiếng Việt với văn hóa Hán. Các từ Hán Việt trong tác phẩm thường mang tính học thuật, trang trọng, đồng thời có những biến đổi về ngữ nghĩa và ngữ pháp so với nguyên gốc. Sự tồn tại của các từ Hán trong TNNL cho thấy ngôn ngữ văn học Nôm đang trong quá trình đồng hóa và tiếp thu yếu tố Hán học, góp phần làm giàu vốn từ vựng và phong cách ngôn ngữ.

IV. Hướng dẫn phân loại và nhận diện đơn vị từ vựng trong Thiên Nam Ngữ Lục theo quan niệm ngôn ngữ học hiện đại

Việc phân loại và nhận diện đơn vị từ vựng trong TNNL dựa trên các quan niệm ngôn ngữ học hiện đại, đặc biệt là quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp. Từ được xác định là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, trùng với âm tiết, còn ngữ là các cụm từ cố định có nghĩa hoàn chỉnh. Phân loại này giúp phân biệt rõ ràng giữa từ đơn, từ ghép, từ láy và các thành ngữ, quán ngữ trong tác phẩm. Việc nhận diện chính xác các đơn vị từ vựng là tiền đề quan trọng cho các phân tích sâu về cấu trúc, ngữ nghĩa và biến đổi từ vựng trong TNNL.

4.1. Các quan niệm về từ và hình vị trong tiếng Việt cổ và trung đại

Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về từ và hình vị trong tiếng Việt, từ việc coi hình vị trùng với âm tiết đến việc phân biệt hình vị và từ. Trong tiếng Việt đơn lập, từ và hình vị thường trùng nhau, nhưng việc xác định ranh giới từ trong các cụm từ cố định vẫn còn nhiều tranh luận. Luận án chọn quan điểm coi từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, trùng với âm tiết, phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ tiếng Việt và thuận tiện cho nghiên cứu từ vựng trong TNNL.

4.2. Tiêu chuẩn nhận diện từ và ngữ trong Thiên Nam Ngữ Lục

Tiêu chuẩn nhận diện từ bao gồm tính độc lập về nghĩa và ngữ pháp, khả năng hoạt động độc lập trong câu. Ngữ là các tổ hợp từ có nghĩa hoàn chỉnh, mang tính cố định như thành ngữ, quán ngữ. Việc áp dụng tiêu chuẩn này giúp phân biệt rõ ràng các đơn vị từ vựng trong TNNL, đồng thời hỗ trợ việc thống kê và phân tích định lượng các loại từ, từ đó làm rõ cơ cấu từ vựng của tiếng Việt thế kỉ XVII.

V. Phương pháp phân xuất và kết quả định lượng từ vựng trong Thiên Nam Ngữ Lục

Phân xuất các đơn vị từ vựng trong TNNL là công việc tỉ mỉ, dựa trên việc xác định ranh giới từ và ngữ trong từng câu thơ. Luận án sử dụng bản phiên âm của Nguyễn Thị Lâm làm ngữ liệu chính, kết hợp tra cứu từ điển Việt – Bồ Đào Nha – La tinh thế kỉ XVII để minh xác nghĩa và nguồn gốc từ. Kết quả thống kê cho thấy TNNL có 5.034 đơn vị từ vựng, gồm 2.723 từ đơn và 2.311 ngữ đa tiết. Tỉ lệ từ đơn và từ đa tiết phản ánh xu hướng phát triển từ vựng tiếng Việt trung đại, với sự gia tăng dần của các từ đa tiết so với các giai đoạn trước.

5.1. Quy trình phân xuất đơn vị từ vựng trong văn bản Thiên Nam Ngữ Lục

Quy trình phân xuất bắt đầu bằng việc xác định từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa và hoạt động độc lập, tiếp theo là nhận diện các ngữ cố định có nghĩa hoàn chỉnh. Việc phân xuất kết hợp với tra cứu từ điển cổ giúp xác định chính xác các đơn vị từ vựng, loại bỏ các dị bản và tên riêng không thuộc phạm vi nghiên cứu. Quá trình này đảm bảo tính chính xác và toàn diện của dữ liệu từ vựng thu thập được.

5.2. Kết quả thống kê định lượng từ đơn và từ đa tiết trong Thiên Nam Ngữ Lục

Kết quả thống kê cho thấy trong TNNL, từ đơn chiếm 54,1% và từ đa tiết chiếm 45,9% tổng số đơn vị từ vựng. So sánh với các văn bản Nôm khác như Quốc âm thi tập hay Truyện Kiều, tỉ lệ này phản ánh xu hướng chuyển dịch từ ưu thế của từ đơn sang từ đa tiết trong lịch sử từ vựng tiếng Việt. Điều này minh chứng cho sự phát triển và biến đổi liên tục của từ vựng qua các giai đoạn lịch sử.

VI. Kết luận và triển vọng nghiên cứu từ vựng tiếng Việt trong Thiên Nam Ngữ Lục

Nghiên cứu từ vựng trong Thiên Nam Ngữ Lục đã cung cấp một bức tranh chi tiết và toàn diện về trạng thái từ vựng tiếng Việt cuối thế kỉ XVII. Qua việc phân tích nguồn gốc, cấu trúc và biến đổi từ vựng, luận án góp phần làm sáng tỏ tiến trình phát triển lịch sử từ vựng tiếng Việt, đồng thời khẳng định giá trị của TNNL như một nguồn tư liệu quý giá cho nghiên cứu ngôn ngữ học và văn học cổ. Triển vọng nghiên cứu trong tương lai bao gồm mở rộng khảo sát các văn bản Nôm khác, ứng dụng công nghệ số trong phân tích từ vựng và kết hợp nghiên cứu liên ngành để hiểu sâu hơn về sự phát triển ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.

6.1. Tổng kết những đóng góp của nghiên cứu từ vựng trong Thiên Nam Ngữ Lục

Nghiên cứu đã làm rõ cơ cấu từ vựng trong TNNL, xác định được hơn 5.000 đơn vị từ vựng với sự phân bố rõ ràng giữa từ đơn và từ đa tiết. Phân tích nguồn gốc từ vựng giúp nhận diện các lớp từ bản địa và từ vay mượn, đồng thời làm sáng tỏ các biến đổi ngữ nghĩa và ngữ pháp. Công trình góp phần bổ sung tư liệu quan trọng cho lịch sử từ vựng tiếng Việt và nâng cao hiểu biết về ngôn ngữ trung đại.

6.2. Hướng phát triển nghiên cứu từ vựng tiếng Việt qua các văn bản cổ khác

Triển vọng nghiên cứu bao gồm việc mở rộng khảo sát sang các văn bản chữ Nôm khác có giá trị lịch sử và ngôn ngữ, ứng dụng công nghệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên để phân tích dữ liệu lớn, và kết hợp nghiên cứu liên ngành với lịch sử, văn học và dân tộc học. Những hướng đi này sẽ giúp làm sáng tỏ hơn nữa quá trình phát triển của tiếng Việt và đóng góp vào việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản ngôn ngữ văn hóa dân tộc.

02/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu mỗi triều đại có một đoạn tóm tắt bằng chữ Hán viết thu nhỏ lại. Cuối sách chép ngọc phả Thiền sư Nguyễn Minh Không và các bài phú Hồng nhan bạc mệnh, Hàn vương tôn. Nam Thiên quốc ngữ thực lục, AB. Sách không có quyển thượng, gồm 58 tờ, chữ xấu trên giấy khổ 26 x 18 cm.

Hình thức và nội dung giống như bản AB.315 vừa kể trên. Nhưng phải nói rằng bản này và bản AB.315 chép sót rất nhiều, ngay từ Lí Thái Tổ đến Lí Thần Tông đã bỏ đi một đoạn dài 294 câu. Chúng tôi nghĩ các bản này có thể là do trường Viễn đông Bác cổ thuê chép về sau. Như vậy, cho đến nay, chúng ta có tất cả 6 dị bản TNNL.

Hầu hết các văn bản này đều không ghi niên đại, tác giả, tên người sao chép hoặc nơi tàng trữ. Điều này đã gây không ít khó khăn, phức tạp trong quá trình nghiên cứu tác phẩm. Tuy nhiên, trong điều kiện chúng ta chưa tìm thấy một văn bản nào có niên đại gần với thời điểm ra đời của tác phẩm thì tất cả đó vẫn là nguồn tài liệu quý giá để nghiên cứu, tìm hiểu TNNL. Nếu căn cứ vào hình thức văn bản và các đặc điểm về ngôn ngữ văn tự, các nhà nghiên cứu cho rằng bản có kí hiệu AB.478 là cổ nhất và cũng là bản có nội dung đầy đủ hơn cả.

Còn các bản khác tuy được sao chép về sau nhưng cũng chỉ là những tài liệu tham khảo đáng quý. Qua việc tìm hiểu về ngôn ngữ, văn tự, Nguyễn Thị Lâm cho rằng văn bản AB.478 đã được sao chép từ một văn bản khá cổ và người sao chép đã tỏ ra trung thành với văn bản được sao chép. Tuy nhiên, văn bản này cũng cần làm sáng tỏ một vài vấn đề. Phần đầu là bản Mục lục dài 15 trang có tiêu đề: “Việt Nam sử kí niên mục lục” và cuối sách có bài tựa “Đại Việt sử kí tiệp lục tổng tự”, đều không nằm trong TNNL.

Đó là những phần trong những cuốn sách sử đời trước. Việc chép chung những tác phẩm khác nhau vào cùng một cuốn sách chép tay không phải là một điều hiếm thấy trong kho sách Hán Nôm cũ. Như vậy, ở đây chỉ có phần nội dung viết bằng chữ Nôm là thực sự của TNNL. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sau khi xác định được văn bản chữ Nôm đáng tin cậy, các nhà nghiên cứu đã tiến hành phiên âm TNNL.

Cách đây hơn năm mươi năm, đông đảo người đọc biết đến tập diễn ca lịch sử này qua bản phiên âm, chú thích và giới thiệu của các Giáo sư Đinh Gia Khánh và Nguyễn Lương Ngọc do Nhà xuất bản Văn hóa ấn hành vào năm 1958 thành hai tập: tập một từ thời Hồng Bàng đến đời Ngô và tập thứ hai từ đời Đinh đến đời Trịnh. Với công trình này, TNNL lần đầu tiên được nghiên cứu, giới thiệu khá công phu. Hai Giáo sư dựa vào ba dị bản chữ Nôm mang kí hiệu AB.478 được coi là bản nền. Với phương pháp làm việc khoa học, hai ông đã đối chiếu các dị bản để xác định lại nhiều câu, chữ, làm cho nó hợp lí, rõ nghĩa hơn, đã đính chính được những sai lầm về thời điểm trong nguyên tác…Đặc biệt, hai ông đã xuất phát từ những yếu tố trong văn bản để đi tới những nhận xét và kết luận về tác giả và tác phẩm một cách có sức thuyết phục.

Bởi vậy, cuốn sách này đã có những đóng góp đáng kể trong việc tìm hiểu, nghiên cứu TNNL. Cách đây hơn chục năm, một bản phiên âm TNNL nữa được xuất hiện, với tác giả là Nguyễn Thị Lâm. Trong “Thiên Nam ngữ lục” (khảo cứu, phiên âm, chú giải) của Nhà xuất bản Văn học năm 2001, bà đã giới thiệu thêm ba dị bản khác và tiến hành khảo dị trên cả sáu dị bản này. Sau khi khảo sát kĩ thực trạng của chúng, nhất là của bản nền AB.478, bà đã hiệu chỉnh trên 400 trường hợp phiên âm và ngót 50 trường hợp chú thích, bổ sung gần 130 trường hợp chú thích mới, lập thêm các bảng sách dẫn tên người, tên đất xuất hiện trong văn bản.

Đây là bản phiên âm đã kế thừa được những thành tựu của bản phiên âm năm 1958. Hơn nữa, nhiều kết quả nghiên cứu mới trong các ngành văn học, sử học và nhất là những thành tựu trong nghiên cứu chữ Nôm trong những thập kỉ gần đây đã cho phép tác giả giải quyết thấu đáo, thỏa đáng hơn một số điểm còn tồn nghi trong văn bản trước đó về các mặt phiên âm, khảo dị cũng như chú thích. Vì lẽ đó, chúng tôi chọn bản phiên âm Quốc ngữ của tác giả Nguyễn Thị Lâm làm tư liệu nghiên cứu chủ yếu. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong bản phiên âm “Thiên Nam ngữ lục” của Nguyễm Thị Lâm, tác giả đã phiên âm, chú giải 8136 câu thơ lục bát chữ Nôm và hơn ba chục bài thơ chữ Hán, Nôm đã được dịch nghĩa.

Nội dung của TNNL diễn ca lịch sử Việt Nam từ đời Hồng Bàng đến hết đời Hậu Trần, qua các thời kì: Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương, Lí Ông Trọng, An Dương Vương, Triệu Đà, Phụ chép Thứ sử nhà Hán (Tích Quang, Nhâm Diên, Tô Định), Hai Bà Trưng, Lại phụ chép các Thái thú nhà Hán, Truyện Sĩ Vương, Triệu Ẩu, Kỉ Tiền Lí Nam Đế, Triệu Việt Vương, Kỉ Hậu Lí Nam Đế, Cao Vương (Cao Biền), Mai Hắc Đế, Kỉ họ Phùng, Kỉ họ Khúc, Kỉ nhà Ngô, Kỉ nhà Đinh, Kỉ nhà Lê (Tiền Lê), Kỉ triều Lí (Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Thần Tông, Anh Tông, Cao Tông, Chiêu Hoàng), Kỉ nhà Trần (Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông, Duệ Tông, Ninh Hoàng, Dụ Tông, Nghệ Tông, Giản đế, Sự tích họ Hồ, Thiếu đế), Hồ Quý Li – Hồ Hán Thương, Hậu Trần (Giản Định hoàng đế, Trùng Quang hoàng đế), Kỉ triều Lê. Như vậy, tác giả TNNL chủ yếu dựa vào bộ Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên để diễn ca lịch sử nước ta từ đời Hồng Bàng đến đời Hậu Trần. Tuy nhiên, không hiểu sao trong tác phẩm lại không có một dòng nào viết về Sơn Tinh, Thủy Tinh (đời Hồng Bàng), về sự nghiệp chống ngoại xâm của Lý Thường Kiệt. Có chỗ TNNL còn lầm lẫn thời điểm, ví như kể về Lý Ông Trọng trước An Dương Vương, kể về Mai Thúc Loan sau Cao Biền… 1.

Hoàn cảnh sáng tác và tác giả của Thiên Nam ngữ lục TNNL là một tác phẩm thơ Nôm dài nhất trong văn học trung đại Việt Nam nhưng cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm ra được câu trả lời chính xác cho năm ra đời, cũng như tác giả của nó. Thậm chí, ngay trong bản chữ Nôm tin cậy nhất AB.478, chúng ta cũng không thể tìm thấy niên đại, tác giả hay tên người sao chép…Chính điều này đã đặt ra nhiều giả thuyết cho khoảng thời gian ra đời của tác phẩm. Theo Giáo sư Nguyễn Lương Ngọc và Đinh Gia Khánh [86], TNNL được viết khoảng cuối thế kỉ XVII, trong thời kì Trịnh Căn ở ngôi chúa (1682 – 1709). 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giả thuyết này được chứng minh dựa vào nội dung những câu thơ trong tác phẩm.

Khi nói về Trịnh Căn, tác giả TNNL không gọi bằng miếu hiệu như Trịnh Tạc mà gọi bằng chức vị khi còn sống: “Nay Đức Thống đại khí cương…”. “Thống đại” là chữ viết tắt của chức “Đại nguyên soái Thống quốc chính” mà Trịnh Căn được phong vào năm 1685. Lại căn cứ vào phần cuối tác phẩm có nhắc đến Trung hưng truyện, có lẽ là sách Đại Việt Lê triều đế vương trung hưng công nghiệp liệt truyện của Hồ Sĩ Dương. Sách này viết xong vào năm 1676.

Ngay năm ấy, Trịnh Tạc sai họ Hồ viết sử kí sau đời Lê Thần Tông tức từ đời Lê Huyền Tông trở đi. Nhưng đến năm 1681, Hồ Sĩ Dương mất, để công việc còn bỏ dở cho Lê Hy và Nguyễn Quý Đức. Hai người đã hoàn thành bộ sử đó vào năm Chính Hòa 18 (1697) đời Lê Hy Tông tức là sách Đại Việt sử kí tục biên, một cuốn sách có giá trị hơn sách Trung hưng mà không được tác giả nhắc đến. Từ đó, hai nhà nghiên cứu đã đi đến nhận định rằng TNNL xuất hiện trong khoảng từ năm 1685 đến trước năm 1697 là năm mà sách Đại Việt sử kí tục biên hoàn thành, và muộn nhất thì cũng chỉ kéo dài trong khoảng mấy năm đầu của thế kỉ XVIII.

Ý kiến này đã được nhiều người trong giới nghiên cứu tán thành. Chúng ta cũng có thể dựa thêm vào những sự kiện lịch sử Việt Nam để củng cố thêm giả thuyết trên. Ai cũng biết trong thế kỉ XVIII, trong lịch sử Việt Nam đã diễn ra rất nhiều sự kiện trọng đại: phong trào nông dân nổ ra liên tiếp với các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Nguyễn Danh Phương, Nguyễn Hữu Cầu…Rồi cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn và cuộc khởi nghĩa Tây Sơn vĩ đại, cuộc đại thắng hai mươi vạn quân Thanh do người anh hùng áo vải Quang Trung lãnh đạo…Tất cả những sự kiện ấy đều không thấy nhắc đến trong TNNL. Một người yêu lịch sử và văn học dân tộc đến mức bỏ công phu diễn ca thành một tác phẩm dài hơn 8000 câu thì không thể không ghi chép, phản ánh các sự kiện nói trên đã xảy ra trong lịch sử.

Do đó, TNNL phải là một tác phẩm viết ra vào cuối thế kỉ XVII là thời kì mà chế độ Lê – Trịnh sau những năm loạn lạc, chiến tranh đã đi vào một thời kì tạm ổn định. Ở phần cuối tác phẩm, ta thấy tác giả TNNL, hết sức ca tụng công đức họ Trịnh: 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. “Trung hưng ra sức tôn phù, 7970. Lê triều đem lại cựu đô Long Thành” Thêm nữa, đời Lê vẫn hay dùng hai chữ “Thiên Nam” để chỉ nước ta như tên các bộ sách Thiên Nam dư hạ tập viết vào thời Hồng Đức, Thiên Nam lộ đồ, Thiên Nam minh giám soạn vào thời Lê trung hưng…Vua Lê Thánh Tông cũng có tên hiệu là “Thiên Nam động chủ”… Bên cạnh đó, TNNL có câu: “Quốc triều Thái Tổ lên ngôi, Trong Trung hưng truyện đã bày trước sau”, chỉ có người thời Lê thì mới nói “Quốc triều Thái Tổ” và mới nhắc đến chuyện “Trung hưng”.

Để củng cố thêm giả thuyết trên, Nguyễn Thị Lâm đã đi sâu vào tìm hiểu về tên đất, tên gọi các chức quan trong TNNL.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ