Mở đầu mỗi triều đại có một đoạn tóm tắt bằng chữ Hán viết thu nhỏ lại. Cuối sách chép ngọc phả Thiền sư Nguyễn Minh Không và các bài phú Hồng nhan bạc mệnh, Hàn vương tôn. Nam Thiên quốc ngữ thực lục, AB. Sách không có quyển thượng, gồm 58 tờ, chữ xấu trên giấy khổ 26 x 18 cm.
Hình thức và nội dung giống như bản AB.315 vừa kể trên. Nhưng phải nói rằng bản này và bản AB.315 chép sót rất nhiều, ngay từ Lí Thái Tổ đến Lí Thần Tông đã bỏ đi một đoạn dài 294 câu. Chúng tôi nghĩ các bản này có thể là do trường Viễn đông Bác cổ thuê chép về sau. Như vậy, cho đến nay, chúng ta có tất cả 6 dị bản TNNL.
Hầu hết các văn bản này đều không ghi niên đại, tác giả, tên người sao chép hoặc nơi tàng trữ. Điều này đã gây không ít khó khăn, phức tạp trong quá trình nghiên cứu tác phẩm. Tuy nhiên, trong điều kiện chúng ta chưa tìm thấy một văn bản nào có niên đại gần với thời điểm ra đời của tác phẩm thì tất cả đó vẫn là nguồn tài liệu quý giá để nghiên cứu, tìm hiểu TNNL. Nếu căn cứ vào hình thức văn bản và các đặc điểm về ngôn ngữ văn tự, các nhà nghiên cứu cho rằng bản có kí hiệu AB.478 là cổ nhất và cũng là bản có nội dung đầy đủ hơn cả.
Còn các bản khác tuy được sao chép về sau nhưng cũng chỉ là những tài liệu tham khảo đáng quý. Qua việc tìm hiểu về ngôn ngữ, văn tự, Nguyễn Thị Lâm cho rằng văn bản AB.478 đã được sao chép từ một văn bản khá cổ và người sao chép đã tỏ ra trung thành với văn bản được sao chép. Tuy nhiên, văn bản này cũng cần làm sáng tỏ một vài vấn đề. Phần đầu là bản Mục lục dài 15 trang có tiêu đề: “Việt Nam sử kí niên mục lục” và cuối sách có bài tựa “Đại Việt sử kí tiệp lục tổng tự”, đều không nằm trong TNNL.
Đó là những phần trong những cuốn sách sử đời trước. Việc chép chung những tác phẩm khác nhau vào cùng một cuốn sách chép tay không phải là một điều hiếm thấy trong kho sách Hán Nôm cũ. Như vậy, ở đây chỉ có phần nội dung viết bằng chữ Nôm là thực sự của TNNL. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sau khi xác định được văn bản chữ Nôm đáng tin cậy, các nhà nghiên cứu đã tiến hành phiên âm TNNL.
Cách đây hơn năm mươi năm, đông đảo người đọc biết đến tập diễn ca lịch sử này qua bản phiên âm, chú thích và giới thiệu của các Giáo sư Đinh Gia Khánh và Nguyễn Lương Ngọc do Nhà xuất bản Văn hóa ấn hành vào năm 1958 thành hai tập: tập một từ thời Hồng Bàng đến đời Ngô và tập thứ hai từ đời Đinh đến đời Trịnh. Với công trình này, TNNL lần đầu tiên được nghiên cứu, giới thiệu khá công phu. Hai Giáo sư dựa vào ba dị bản chữ Nôm mang kí hiệu AB.478 được coi là bản nền. Với phương pháp làm việc khoa học, hai ông đã đối chiếu các dị bản để xác định lại nhiều câu, chữ, làm cho nó hợp lí, rõ nghĩa hơn, đã đính chính được những sai lầm về thời điểm trong nguyên tác…Đặc biệt, hai ông đã xuất phát từ những yếu tố trong văn bản để đi tới những nhận xét và kết luận về tác giả và tác phẩm một cách có sức thuyết phục.
Bởi vậy, cuốn sách này đã có những đóng góp đáng kể trong việc tìm hiểu, nghiên cứu TNNL. Cách đây hơn chục năm, một bản phiên âm TNNL nữa được xuất hiện, với tác giả là Nguyễn Thị Lâm. Trong “Thiên Nam ngữ lục” (khảo cứu, phiên âm, chú giải) của Nhà xuất bản Văn học năm 2001, bà đã giới thiệu thêm ba dị bản khác và tiến hành khảo dị trên cả sáu dị bản này. Sau khi khảo sát kĩ thực trạng của chúng, nhất là của bản nền AB.478, bà đã hiệu chỉnh trên 400 trường hợp phiên âm và ngót 50 trường hợp chú thích, bổ sung gần 130 trường hợp chú thích mới, lập thêm các bảng sách dẫn tên người, tên đất xuất hiện trong văn bản.
Đây là bản phiên âm đã kế thừa được những thành tựu của bản phiên âm năm 1958. Hơn nữa, nhiều kết quả nghiên cứu mới trong các ngành văn học, sử học và nhất là những thành tựu trong nghiên cứu chữ Nôm trong những thập kỉ gần đây đã cho phép tác giả giải quyết thấu đáo, thỏa đáng hơn một số điểm còn tồn nghi trong văn bản trước đó về các mặt phiên âm, khảo dị cũng như chú thích. Vì lẽ đó, chúng tôi chọn bản phiên âm Quốc ngữ của tác giả Nguyễn Thị Lâm làm tư liệu nghiên cứu chủ yếu. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong bản phiên âm “Thiên Nam ngữ lục” của Nguyễm Thị Lâm, tác giả đã phiên âm, chú giải 8136 câu thơ lục bát chữ Nôm và hơn ba chục bài thơ chữ Hán, Nôm đã được dịch nghĩa.
Nội dung của TNNL diễn ca lịch sử Việt Nam từ đời Hồng Bàng đến hết đời Hậu Trần, qua các thời kì: Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương, Lí Ông Trọng, An Dương Vương, Triệu Đà, Phụ chép Thứ sử nhà Hán (Tích Quang, Nhâm Diên, Tô Định), Hai Bà Trưng, Lại phụ chép các Thái thú nhà Hán, Truyện Sĩ Vương, Triệu Ẩu, Kỉ Tiền Lí Nam Đế, Triệu Việt Vương, Kỉ Hậu Lí Nam Đế, Cao Vương (Cao Biền), Mai Hắc Đế, Kỉ họ Phùng, Kỉ họ Khúc, Kỉ nhà Ngô, Kỉ nhà Đinh, Kỉ nhà Lê (Tiền Lê), Kỉ triều Lí (Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Thần Tông, Anh Tông, Cao Tông, Chiêu Hoàng), Kỉ nhà Trần (Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông, Duệ Tông, Ninh Hoàng, Dụ Tông, Nghệ Tông, Giản đế, Sự tích họ Hồ, Thiếu đế), Hồ Quý Li – Hồ Hán Thương, Hậu Trần (Giản Định hoàng đế, Trùng Quang hoàng đế), Kỉ triều Lê. Như vậy, tác giả TNNL chủ yếu dựa vào bộ Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên để diễn ca lịch sử nước ta từ đời Hồng Bàng đến đời Hậu Trần. Tuy nhiên, không hiểu sao trong tác phẩm lại không có một dòng nào viết về Sơn Tinh, Thủy Tinh (đời Hồng Bàng), về sự nghiệp chống ngoại xâm của Lý Thường Kiệt. Có chỗ TNNL còn lầm lẫn thời điểm, ví như kể về Lý Ông Trọng trước An Dương Vương, kể về Mai Thúc Loan sau Cao Biền… 1.
Hoàn cảnh sáng tác và tác giả của Thiên Nam ngữ lục TNNL là một tác phẩm thơ Nôm dài nhất trong văn học trung đại Việt Nam nhưng cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm ra được câu trả lời chính xác cho năm ra đời, cũng như tác giả của nó. Thậm chí, ngay trong bản chữ Nôm tin cậy nhất AB.478, chúng ta cũng không thể tìm thấy niên đại, tác giả hay tên người sao chép…Chính điều này đã đặt ra nhiều giả thuyết cho khoảng thời gian ra đời của tác phẩm. Theo Giáo sư Nguyễn Lương Ngọc và Đinh Gia Khánh [86], TNNL được viết khoảng cuối thế kỉ XVII, trong thời kì Trịnh Căn ở ngôi chúa (1682 – 1709). 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giả thuyết này được chứng minh dựa vào nội dung những câu thơ trong tác phẩm.
Khi nói về Trịnh Căn, tác giả TNNL không gọi bằng miếu hiệu như Trịnh Tạc mà gọi bằng chức vị khi còn sống: “Nay Đức Thống đại khí cương…”. “Thống đại” là chữ viết tắt của chức “Đại nguyên soái Thống quốc chính” mà Trịnh Căn được phong vào năm 1685. Lại căn cứ vào phần cuối tác phẩm có nhắc đến Trung hưng truyện, có lẽ là sách Đại Việt Lê triều đế vương trung hưng công nghiệp liệt truyện của Hồ Sĩ Dương. Sách này viết xong vào năm 1676.
Ngay năm ấy, Trịnh Tạc sai họ Hồ viết sử kí sau đời Lê Thần Tông tức từ đời Lê Huyền Tông trở đi. Nhưng đến năm 1681, Hồ Sĩ Dương mất, để công việc còn bỏ dở cho Lê Hy và Nguyễn Quý Đức. Hai người đã hoàn thành bộ sử đó vào năm Chính Hòa 18 (1697) đời Lê Hy Tông tức là sách Đại Việt sử kí tục biên, một cuốn sách có giá trị hơn sách Trung hưng mà không được tác giả nhắc đến. Từ đó, hai nhà nghiên cứu đã đi đến nhận định rằng TNNL xuất hiện trong khoảng từ năm 1685 đến trước năm 1697 là năm mà sách Đại Việt sử kí tục biên hoàn thành, và muộn nhất thì cũng chỉ kéo dài trong khoảng mấy năm đầu của thế kỉ XVIII.
Ý kiến này đã được nhiều người trong giới nghiên cứu tán thành. Chúng ta cũng có thể dựa thêm vào những sự kiện lịch sử Việt Nam để củng cố thêm giả thuyết trên. Ai cũng biết trong thế kỉ XVIII, trong lịch sử Việt Nam đã diễn ra rất nhiều sự kiện trọng đại: phong trào nông dân nổ ra liên tiếp với các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Nguyễn Danh Phương, Nguyễn Hữu Cầu…Rồi cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn và cuộc khởi nghĩa Tây Sơn vĩ đại, cuộc đại thắng hai mươi vạn quân Thanh do người anh hùng áo vải Quang Trung lãnh đạo…Tất cả những sự kiện ấy đều không thấy nhắc đến trong TNNL. Một người yêu lịch sử và văn học dân tộc đến mức bỏ công phu diễn ca thành một tác phẩm dài hơn 8000 câu thì không thể không ghi chép, phản ánh các sự kiện nói trên đã xảy ra trong lịch sử.
Do đó, TNNL phải là một tác phẩm viết ra vào cuối thế kỉ XVII là thời kì mà chế độ Lê – Trịnh sau những năm loạn lạc, chiến tranh đã đi vào một thời kì tạm ổn định. Ở phần cuối tác phẩm, ta thấy tác giả TNNL, hết sức ca tụng công đức họ Trịnh: 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. “Trung hưng ra sức tôn phù, 7970. Lê triều đem lại cựu đô Long Thành” Thêm nữa, đời Lê vẫn hay dùng hai chữ “Thiên Nam” để chỉ nước ta như tên các bộ sách Thiên Nam dư hạ tập viết vào thời Hồng Đức, Thiên Nam lộ đồ, Thiên Nam minh giám soạn vào thời Lê trung hưng…Vua Lê Thánh Tông cũng có tên hiệu là “Thiên Nam động chủ”… Bên cạnh đó, TNNL có câu: “Quốc triều Thái Tổ lên ngôi, Trong Trung hưng truyện đã bày trước sau”, chỉ có người thời Lê thì mới nói “Quốc triều Thái Tổ” và mới nhắc đến chuyện “Trung hưng”.
Để củng cố thêm giả thuyết trên, Nguyễn Thị Lâm đã đi sâu vào tìm hiểu về tên đất, tên gọi các chức quan trong TNNL.