Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Từ ngữ nghề nghiệp - sản phẩm giao tiếp của những người làm nghề không chỉ mang giá trị về mặt ngôn ngữ học mà còn cả về lịch sử, văn hóa, xã hội. Do vậy, nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Trên thế giới, tiêu biểu là các nhà ngôn ngữ học Xô viết như: L.
Rozdextvenxki đã có những công trình nghiên cứu, bàn luận về từ ngữ nghề nghiệp. Khi bàn về thuật ngữ, danh pháp, hai tác giả L. Superanskaja đã đề cập đến từ ngữ nghề nghiệp, đặc biệt là vấn đề sự hình thành từ ngữ nghề nghiệp và định danh các đối tượng. Superanskaja cho rằng: Tên gọi kiểu này (tên gọi dài dòng được thừa nhận do yêu cầu tình hệ thống của việc miêu tả khoa học) vốn sinh ra từ trong phạm vi của sự biểu đạt trong khoa học, đã biến thành yếu tố của lời nói thông thường hoặc ngôn từ nghề nghiệp (Dẫn theo [57, tr.
Tuy nhiên, cả hai tác giả chưa bàn sâu về từ ngữ nghề nghiệp ở các phương diện cấu tạo, ngữ nghĩa, định danh mà chỉ đề cập một cách khái quát tên gọi của các đối tượng. Tuy không bàn sâu đến từ ngữ nghề nghiệp nhưng khi đề cập đến vấn đề “giáo dục ngôn ngữ nghề nghiệp”, tác giả IU. Rozdextvenxki cũng đã chỉ ra lớp từ ngữ “được cá nhân học theo loại hình công việc”. Ông cho rằng từ điển bách khoa là một trong những cơ sở của giáo dục ngôn ngữ nghề nghiệp cũng như “việc lựa chọn và giải thích vốn từ vựng nghề nghiệp” [54, tr.
Căn cứ vào bản chất, ý nghĩa của các đặc trưng ngôn ngữ và những điều kiện hoạt động của nó, nhà ngôn ngữ học Xô viết V. Bondaletop đã phân loại các biến thể xã hội của lời nói, trong đó có từ ngữ nghề nghiệp. 8 Theo ông, các biến thể xã hội của lời nói bao gồm: 1) Những tiếng nghề nghiệp thật sự (đúng hơn là những hệ thống từ vựng) như tiếng của người đánh cá, những người đi săn, thợ đồ gốm, công nhân làm gỗ, người làm len, thợ đóng dày và cả những người làm các ngành nghề khác; 2) Các biệt ngữ của một nhóm người như: biệt ngữ của học sinh, sinh viên, vận động viên thể dục thể thao, binh lính. chủ yếu là của thanh niên; 3) Những tiếng nghề nghiệp ước lệ (tiếng lóng, biệt ngữ) của những kẻ đồi trụy, thoát li sản xuất, thoát li giai cấp (Dẫn theo [57, tr.
Tuy nhiên, nghiên cứu của V. Bondaletop mới chỉ dừng lại ở mức khái quát những quan niệm, cũng như mới nêu ra những hiện tượng ngôn ngữ đơn lẻ của những người làm nghề. Tác giả chưa nghiên cứu cụ thể từ ngữ nghề nghiệp trên các bình diện cấu tạo, ngữ nghĩa định danh, nguồn gốc, văn hóa. Ở Việt Nam, từ ngữ nghề nghiệp bắt đầu được đề cập đến từ những năm 60, 70 của thế kỉ XX.
Nhìn chung, lịch sử nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp trong Việt ngữ học, có thể khái quát thành các xu hướng nghiên cứu chính như sau: a. Xu hướng thứ nhất là nhóm những công trình (chủ yếu là các giáo trình về dẫn luận ngôn ngữ và từ vựng - ngữ nghĩa), khi giới thiệu từ nghề nghiệp đã nêu khái niệm, đặc điểm của từ ngữ nghề nghiệp và đề xuất các tiêu chí phân biệt nó với lớp từ toàn dân cũng như các lớp từ khác có liên quan. Kết quả nghiên cứu của nhóm các công trình nghiên cứu theo xu hướng này được công bố trong các giáo trình tiếng Việt tiêu biểu: Nguyễn Văn Tu [102], Nguyễn Thiện Giáp [35], Đỗ Hữu Châu [20], Hoàng Thị Châu [19], Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến [26]. Đặc điểm chung của các công trình trên là các nhà nghiên cứu xem từ ngữ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị công cụ, sản phẩm lao động, quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong xã hội.
Nó là những từ ngữ hạn chế về phạm vi sử dụng, nếu không phải người trong nghề sẽ khó hiểu, thậm chí không thể hiểu được. Vì mang tính chất là giáo trình nên các tác giả mới chỉ 9 dừng lại ở mức độ khái quát, chưa đi sâu tìm hiểu một cách đầy đủ mối quan hệ giữa từ ngữ nghề nghiệp với từ địa phương, thuật ngữ, tiếng lóng. Các nhà nghiên cứu cũng chưa có điều kiện nghiên cứu sâu từ ngữ nghề nghiệp ở các phương diện cấu tạo, đặc điểm về định danh, ngữ nghĩa từ bình diện ngôn ngữ và văn hóa. Từ góc độ lí luận, người nghiên cứu nhiều nhất về phương ngữ xã hội, trong đó có vấn đề từ ngữ nghề nghiệp là tác giả Nguyễn Văn Khang.
Trong hai công trình Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn đề cơ bản [55] và Ngôn ngữ học xã hội [59], tác giả đã nghiên cứu về lí thuyết ngôn ngữ học xã hội và ngôn ngữ học xã hội Việt Nam. Các công trình này đã đề cập một cách toàn diện các lĩnh vực, các phương diện của lí luận ngôn ngữ học xã hội và những vấn đề cụ thể của ngôn ngữ học xã hội Việt Nam. Vấn đề về phương ngữ xã hội đã được tác giả bàn đến ở chương 5 [55] và chương 8 [59] khá kĩ lưỡng. Theo chúng tôi, đây là hai công trình đầu tiên bàn về mối quan hệ giữa phương ngữ địa lí và phương ngữ xã hội.
Trong các công trình này, Nguyễn Văn Khang có đề cập đến từ ngữ nghề nghiệp. Tuy nhiên, vì là chuyên khảo nghiên cứu các vấn đề cơ bản của ngôn ngữ học xã hội nên từ ngữ nghề nghiệp chỉ được tác giả giới thiệu vài nét khái quát. Xu hướng nghiên cứu thứ hai là nhóm những công trình đi vào nghiên cứu từ ngữ một số nghề truyền thống nhất định. Ngoài một số bài viết được công bố trên các tạp chí chuyên ngành cũng như các hội thảo khoa học về từ ngữ nghề nghiệp, đi theo hướng nghiên cứu này còn có một số khóa luận, luận văn thạc sĩ.
Có thể điểm một số công trình như: Phạm Hùng Việt: Về từ chỉ nghề gốm [109]; Võ Chí Quế: Tên gọi các bộ phận của cái cày qua một số thổ ngữ ở Thanh Hóa [80]; Triều Nguyên: Tên gọi các bộ phận của cái cày qua một số thổ ngữ ở Thừa Thiên Huế [73]; Phan Thị Tố Huyền: Đặc điểm tên gọi các nông cụ qua các thổ ngữ Quảng Bình [53]; Lương Vĩnh An: Vốn từ chỉ nghề cá ở tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng [3]; Đoàn Nô: Ngư cụ thủ công chủ yếu và nghề cá ở Kiên Giang [76];. 10 Các công trình nghiên cứu theo hướng này, bước đầu đã nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp trên các phương diện cấu tạo, định danh và chỉ ra những yếu tố đặc trưng, đồng thời nhìn nhận từ ngữ nghề nghiệp trong mối quan hệ với văn hóa chung của cộng đồng dân tộc. Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu đó chỉ ở phạm vi hẹp, chủ yếu là làng nghề truyền thống của một địa phương nhỏ. Hơn nữa, do tính chất của công trình, các tác giả chưa có điều kiện đi sâu phân tích về vấn đề cấu tạo cũng như định danh ngữ nghĩa, chưa nghiên cứu sâu từ ngữ nghề nghiệp từ góc độ ngôn ngữ - văn hóa một cách quy mô và có hệ thống.
Trong số các nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp, đề tài khoa học cấp viện của Viện Ngôn ngữ học Từ ngữ nghề nghiệp gốm sứ Bát Tràng [57] do tác giả Nguyễn Văn Khang làm chủ nhiệm đề tài là đáng chú ý. Nhóm tác giả đã có những nghiên cứu khá toàn diện về tiếng nghề nghiệp, khu biệt với những loại từ cùng thuộc phương ngữ xã hội, chỉ ra mô hình cấu tạo, trường từ vựng - ngữ nghĩa, nguồn gốc các đơn vị định danh và thống kê được 861 đơn vị từ ngữ nghề gốm Bát Tràng. Tuy nhiên, công trình lại chưa đi sâu nghiên cứu ở phương diện định danh - một nhân tố quan trọng cho thấy những nét văn hóa làng nghề được phản ánh vào ngôn ngữ. Từ ngữ nghề nghiệp một số nghề vùng phương ngữ Thanh - Nghệ Tĩnh, khoảng 15 năm lại nay được nhiều người quan tâm nghiên cứu ở những mức độ khác nhau.
Những công trình tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này có thể kể đến là: Nguyễn Viết Nhị [75], Phan Thị Mai Hoa [49], Bùi Thị Lệ Thu [92], Nguyễn Đăng Ngọc [70], Trần Thị Ngọc Hoa [50], Hoàng Trọng Canh [10], [16], Nguyễn Văn Dũng [30],. Trong số các công trình kể trên, đáng chú ý hơn cả là hai công trình khoa học cấp bộ và cấp nhà nước do tác giả Hoàng Trọng Canh làm chủ nhiệm đề tài: Từ ngữ nghề nghiệp trong phương ngữ Nghệ Tĩnh (Bước đầu khảo sát các lớp từ nghề cá, nước mắm, muối) [10], Nghiên cứu từ ngữ - văn hóa nghề biển Thanh - Nghệ Tĩnh [16] và luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Dũng: Từ ngữ nghề nghiệp nghề biển ở 11 Thanh Hóa (từ bình diện ngôn ngữ - văn hóa) [30]. Nhìn chung, cả ba công trình nêu trên đã đề cập một cách hệ thống, chi tiết từ ngữ nghề biển Thanh - Nghệ Tĩnh. Trên cơ sở một khối lượng lớn các từ ngữ nghề biển thống kê được ở Thanh - Nghệ Tĩnh, các tác giả đã đối sánh từ ngữ nghề biển ở đây với từ toàn dân; đồng thời phân tích các đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa, sự phản ánh thực tại của các từ ngữ; chỉ ra nét đặc trưng của các lớp từ ngữ chỉ nghề nghiệp nghề biển ở địa phương Thanh - Nghệ Tĩnh.
Không chỉ các nhà ngôn ngữ học mà các nhà sử học, văn hóa học cũng quan tâm nghiên cứu về từ nghề nghiệp. Nhà sử học Nguyễn Hữu Hiếu trong công trình Nghề cá Đồng Tháp Mười năm xưa [46] đã khái quát lịch sử các giai đoạn phát triển cũng như chính sách đối với ngư dân nghề cá ở Đồng Tháp Mười qua các thời kì và thống kê được một số ngư cụ, hoạt động đánh bắt cá ở đây (33 ngư cụ và hoạt động đánh bắt cá). Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày một số nét về đời sống tâm linh của cư dân theo nghề cá.