Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tư duy nghệ thuật và quan niệm thơ Nguyễn Trọng Tạo. Chương 2: Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Trọng Tạo Chương 3: Ngôn ngữ và biểu tượng trong thơ Nguyễn Trọng Tạo 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TƢ DUY THƠ VÀ QUAN NIỆM THƠ CỦA NGUYỄN TRỌNG TẠO. Một số vấn đề lí luận về tƣ duy thơ 1. Khái niệm tư duy Tư duy không chỉ là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học cơ bản mà còn là đối tượng nghiên cứu của lĩnh vực nghệ thuật.
Tâm lí học nghiên cứu diễn biến của quá trình tư duy, mối quan hệ qua lại của tư duy với các phương diện khác nhau của nhận thức. Xã hội học nghiên cứu tư duy ở sự phát triển của nhận thức trong các chế độ xã hội khác nhau. Sinh lý học nghiên cứu ở cơ chế thần kinh cao cấp với tư cách là nền tảng vật chất của quá trình tư duy của con người…Như vậy tư duy à toàn bộ hoạt động tâm lý của con người, chỉ con người mới có. Tư duy nảy sinh từ sự sống và gắn liền với hoạt động của các tế bào não, M.Iudin định nghĩa về tư duy trong cuốn Từ điển triết học như sau: “ Tư duy là hoạt động nhận thức lý tính của con người.
Khí quan của tư duy chính là bộ óc người với một hệ thống tinh vi, gần 16 tỉ tế bào thần kinh”. Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, là sự phản ánh những thuộc tính chung và bản chất, tìm ra những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự việc, hiện tượng mà ta chưa từng biết. Như vậy, nghĩa là tư duy khác với ý thức, bởi lẽ ý thức là sự phản ánh hiện thực của hoạt động tâm lý. Tư duy cũng khác với lý trí, vì lý trí là cái logic có tính nguyên tắc của nhận thức, trong khi đó tư tưởng lại vừa là kết quả, vừa là xuất phát điểm của tư duy.
Điều này giống với quá trình nhận thức, khi sự nhận thức chưa có, thì cần phải tư duy, khi nhận thức đã có thì tư duy kết thúc. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngôn ngữ không chỉ là công cụ của tư duy, là cái vỏ vật chất của tư tưởng, mà quan trọng hơn cả ngôn ngữ chính là phương tiện để diễn đạt tư duy. “Không có ngôn ngữ thì tư duy chỉ là những dự báo mơ hồ, những phản ứng có tính chất bản năng trước hiện thực. Không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là những tiếng kêu bập bẹ của trẻ sơ sinh mà thôi.
Tư duy làm cho ngôn ngữ phát triển phong phú, tinh xảo. Ngôn ngữ tạo điều kiện cho tư duy đi sâu vào bản chất của hiện thực [ 23,tr19 ]. Và như vậy ngôn ngữ thơ cũng chính là phương tiện để biểu đạt tư duy thơ. Khái niệm tư duy nghệ thuật 1.
Tư duy nghệ thuật Trong “ từ điển thuật ngữ văn học” có nhận định: Tư duy nghệ thuật là dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật. Bản chất của nó do phương thức thực tiễn tinh thần của hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng quy định. Sự chuyên môn hóa lối tư duy này tạo thành đặc trưng nghệ thuật và tiềm năng nhận thức. Tư duy nghệ thuật là một phương thức hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hóa hóa hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mỹ.
Phương tiện của tư duy là ngôn ngữ. Cơ sở của tư duy là tình cảm. dấu hiệu bản chất của tư duy nghệ thuật là: ngoài tính giả định, ước lệ, nó hướng tới nắm bắt những sự thật đời sống cụ thể, cảm tính mang nội dung khả nhiên (cái có thể), có thể cảm nhận, theo xác suất khả năng và tất yếu. Như vậy điều quan trọng nhất của tư duy nghệ thuật chính là sáng tạo, rồi biểu đạt nó qua các biểu tượng nghệ thuật.
Mỗi người nghệ sĩ đều có cách lựa chon biểu tượng khác nhau để bộc lộ tư duy và cách nhìn thế giới của mình. Mỗi nhà văn, nhà thơ lại nhìn thế giới theo những cách riêng biệt, có cá tính tạo nên phong cách nghệ thuật độc đáo. Nhưng không phải cứ làm thơ, viết văn là được gọi là người nghệ sĩ, là được độc giả nhớ đến tên tuổi. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cái khác nghiệt của văn chương là ở chỗ hướng đến cái tôi, cái cá nhân, cái duy nhất, vì vậy phải thực sự say mê, tìm tòi và sáng tạo thì cái độc đáo của người nghệ sĩ mới bộc lộ, tạo ra sự độc tôn như nhất.
Nghệ thuật chân chính là nghệ thuật không dung nạp sự sao chép, khiên cưỡng, làm theo vài kiểu mẫu mà người khác đưa cho. Nghệ thuật phải là sự tìm tòi sáng tạo khơi nhũng nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”. Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích khái quát những vấn đề về tư duy nghệ thuật, nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành nhận định: “ Tư duy nghệ thuật là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan. Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối sâu sắc của thế giới quan và nhận sinh quan của người sáng tác”[ 26,tr54 ].
Tư duy nghệ thuật khác với tư duy khoa học ở chỗ tư tưởng, tình cảm không chỉ là năng lượng của tư duy mà còn là đối tượng nhận thức của tư duy. “Hình tượng nghệ thuật được coi là hình tượng của cảm xúc, nghĩa là năng lượng tình cảm còn lại trong hình tượng như là một yếu tố nội dung, một bộ phận hợp thành”. Nếu như truyện, ký, kịch, tiểu thuyết là những bức tranh rộng lớn phản ánh hiện thực cuộc sống một cách khách quan, tư tưởng của người sáng tạo được gửi qua những phát ngôn của nhân vật chính, tạo nên cốt truyện chặt chẽ thể hiện quan niệm, cách nhìn cuộc sống sinh động như nó vốn hiện hữu. Với ưu điểm phản ánh ở phạm vi rộng lớn nên bước vào thế giới của các tác phẩm tự sự nói chung, người đọc dễ dàng cắt nghĩa, lý giải và định nghĩa hoàn chỉnh về tư tưởng, ngụ ý mà tác giả thông qua câu chuyện của mình gửi tới đọc giả.
Ở tác phẩm tự sự, tác giả xây dựng bức tranh về cuộc sống, trong đó các nhận vật có đường đi và số phận của chúng. Bằng những độc thoại, đối thoại tác giả kịch thể hiện tính cách và hành động của con người qua những mâu thuẫn xung đột. Ở tác phẩm trữ tình có khác, thế giới quan của con 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người, cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu. Qua đây ta nhận ra, thơ trực tiếp gắn với thế giới tâm hồn của con người, mà tâm hồn con người lại mang những cung bậc cảm xúc vô cùng phúc tạp, lại mờ ảo như sương khói, nên thơ có thể dễ dàng cảm nhận bằng trực giác, nhưng rất khó đúc kết, không thể khái quát thành một định nghĩa hoàn chỉnh.
Tư duy thơ là phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật, nhưng nó mang trong mình khả năng biểu hiện phong phú nhờ kho biểu tượng của thơ phong phú và đa dạng. Biểu tượng mà nhà thơ sử dụng có khi gần gũi, có khi trừu tượng vời vợi cách xa, có khi chi là những sự vật vô cùng nhỏ bé không có giá trị trong cuộc sống nhưng mang sức khái quát cao. Tùy vào cảm xúc và dụng ý, trí tưởng tượng, chiều sâu suy luận mà thi sĩ chọn cho mình những biểu tượng khác nhau. Thơ là sự bộc lộ trực tiếp tâm tư, là tiếng nói thiết tha của tâm hồn, là tiếng gọi nồng nhiệt của trái tim.
Đặc trưng chủ yếu của thơ là cảm xúc, là tình cảm, do đó thơ hướng đến chức năng biểu hiện. Ở thơ, ta bắt gặp những thăng trầm của cảm xúc, đó có thể là nỗi niềm riêng tư trong hạnh phúc lứa đôi, về tình yêu đôi lứa, về nỗi đau chia ly, về khát vọng sống….Đó cũng là những suy tư về nhân tình thế thái, về số phận của con người, thăng trầm của xã hội, ở đó có tình yêu quê hương, đất nước, có niềm tự hào dân tộc…. Thơ sẽ tồn tại mãi khi con người còn có nhu cầu bộc cảm xúc vui buồn của mình, vì vậy thơ có đóng góp lớn và tạo ra tiếng nói rất riêng không thể thiếu của nền văn học dân tộc. Từ những đặc trưng của thơ, mà thi sĩ có khả năng liên tưởng phong phú mà đa dạng, nhờ đó mà tư duy thơ có khả năng hướng nội, hướng ngoại.
Tùy từng thời đểm, phong cách riêng mà thi sĩ chọn cho mình những cách tư duy phù hợp. Tư duy hướng nội thường phổ biến trong thơ trung đại và thơ 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lãng mạn, nơi cái tôi thi sĩ lên ngôi. Ở đó tác giả thường tự nghĩ về mình, tự quan sát và biểu hiện cái tôi nội tại của mình. Tư duy hướng ngoại phổ biến ở giai đoạn văn học cách mạng, thi sĩ say mê thể hiện cái ta trong mối quan hệ giữa cái tôi cá nhân và cái ta chung của cộng đồng.
Đối tượng mà tư duy hướng ngoại phản ánh là cuộc sống xã hội được trình bày dưới ánh sáng của một quan niệm thẩm mỹ. Mặt khác, phương tiện biểu đạt của tư duy nghệ thuật nói chung là ngôn ngữ, nhưng ngôn ngữ của thơ nói riêng là lớp ngôn từ rung lên từ nhịp đập của trái tim, do vậy rất ngắn gọn, cô đọng và súc tích. Ngôn ngữ thơ có thể cùng lúc biểu hiện được nhiều tâm trạng, nhiều dạng cảm xúc, nhiều nội dung cụ thể, trực tiếp. Ngôn ngữ của thơ là ngôn ngữ của thị giác, thính giác, cảm giác, ở đó hội tự đầy đủ ba yếu tố: thơ, nhạc và họa.
Tính nhạc xuất hiện trong nhịp điệu câu thơ, lời thơ, ngân nga trong trái tim độc giả dù lời thơ đã dứt. Bắt nhịp vời nền thơ ca dân tộc, thơ Nguyễn Trọng Tạo là sự kết hợp hài hòa tư duy hướng nội và tư duy hướng ngoại, tạo nên dấu ấn riêng, mang đậm nét cá tính.