Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN TÂM LÝ HỌC VỀ TRÍ SÁNG TẠO TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về trí sáng tạo Sáng tạo là một năng lực rất đặc trưng chỉ có ở loài người. Từ giữa thiên niên kỉ trước Công nguyên sáng tạo đã được chú ý tới, nhưng mãi đến Thời Phục hưng (thế kỉ XIV- XVI) sáng tạo mới nổi lên như là một vấn đề rất được quan tâm, và đặc biệt từ Thế kỉ Ánh sáng (thế kỉ XVIII) được tập trung nói đến nhiều, và được coi là một yếu tố không thể thiếu được trong tiến trình tiến hóa văn minh. Ngày nay, khi CNH, HĐH hay Hậu công nghiệp, cả thế giới cạnh tranh nhau về nhân lực, nhân tài, thì trí sáng tạo được nghiên cứu như là một dạng năng lực trí tuệ của con người [27, 63, tr.
Nghiên cứu nói chung về trí sáng tạo Sáng tạo là bản tính của con người và loài người. Nhưng lịch sử nghiên cứu lý thuyết Tâm lí học về sáng tạo (tâm lý học sáng tạo) mới được hơn một thế kỷ nay [79, 91], bắt đầu từ Francis Galton (1822 – 1911, Anh), và bước ngoặt lớn khẳng định vị trí của TLH sáng tạo từ nhà TLH Mỹ J. Năm 1950, trong bài phát biểu tại buổi lễ nhậm chức Chủ tịch Hội Tâm lý học Mỹ, J.Guilford đã giành nhiều thời gian để nói về vấn đề sáng tạo. Sau khi chỉ ra sự thờ ơ của các nhà tâm lý học trong việc nghiên cứu vấn đề sáng tạo lúc bấy giờ ông nhấn mạnh ý nghĩa của hoạt động sáng tạo và khuyến khích các nhà tâm lý học nghiên cứu về nó.
Với mô hình lý thuyết về cấu trúc trí tuệ 120 thành tố (1967) trong đó trí tuệ con người được phân định thành hai phần cơ bản là: trí thông minh (intellegence) hiểu theo nghĩa truyền thống và trí sáng tạo (creativity) của ông đã mở đường cho các nghiên cứu 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát huy trí sáng tạo của con người trong tâm lý học, giáo dục học của Mỹ [41, tr. Từ đây, trí sáng tạo đã được các nhà tâm lý học thừa nhận có vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người. Cũng từ đó việc nghiên cứu vấn đề sáng tạo phát triển rất nhanh cho đến nay, tâm lý học có nhiều quan điểm khác nhau, hướng nghiên cứu và cách tiếp cận nghiên cứu trí sáng tạo khác nhau. * Hướng tiếp cận nghiên cứu trí sáng tạo theo quá trình sáng tạo giải quyết vấn đề: Trong tác phẩm “Nghệ thuật tư duy” xuất bản năm 1926, G.Wallas trình bầy mô hình quá trình sáng tạo có 4 giai đoạn [Dẫn theo 79]: 1.
Chuẩn bị: bao gồm sự tri giác vấn đề và thu nhận thông tin thích hợp với vấn đề đặt ra và sự tập trung vào vấn đề đã chọn; 2. Ấp ủ: là thời gian chờ đợi, trong đó diễn ra sự tìm kiếm một cách có ý thức sự giải quyết vấn đề, là sự nhập tâm vào sâu trong tâm khảm (đến vô thức)về vấn đề cần giải quyết; 3. Bừng sáng (hay bừng hiểu): từ vô thức bật ra vào ý thức; cũng chính là sự xuất hiện đột ngột ý tưởng giải quyết vấn đề. Đánh giá và chi tiết hóa: xem lại có đúng không, biểu đạt, và vận dụng; tức là sự đánh giá và về giải pháp đã tìm ra.
Theo đó, nghiên cứu của E.Torrance (1962) [Theo Sternberg R.J, 1999a, 89] tiếp tục nhìn nhận sáng tạo như là một quá trình giải quyết vấn đề, mỗi quá trình giải quyết vấn đề đòi hỏi con người phải huy động vốn kinh nghiệm của mình, kết hợp chúng thành cấu trúc mới và với tư duy sáng tạo của mình thì vấn đề đặt ra được giải quyết. Nó được coi là một quá trình hoạt động bắt đầu từ sự chuẩn bị, đến ấp ủ, đến bừng sáng và được chứng thực khi kết thúc quá trình đó bằng một sản phẩm mới lạ độc đáo, được một nhóm người ở thời điểm diễn ra hoạt động sáng tạo đó thừa nhận là có ích. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các nghiên cứu của các nhà tâm lí học theo hướng tiếp cận này đều cho rằng, mỗi quá trình sáng tạo tương tự như một quá trình giải quyết vấn đề. Để giải quyết vấn đề, sáng tạo cái mới, người ta làm việc với những thông tin đang có và dò lại những kinh nghiệm trước đây của mình, tổ hợp chúng, di chuyển chúng vào các cấu trúc mới mà trong cấu hình mới của nó thì vấn đề đặt ra được giải quyết và nhu cầu nào đó của cá nhân được thoả mãn.
Sự song hành giữa tình huống giải quyết vấn đề và tư duy sáng tạo là ở chỗ, ở cả hai quá trình này cá nhân vừa hình thành vừa vận dụng một chiến lược mới hoặc biến đổi các kích thích không phù hợp và áp dụng nó. * Hướng tiếp cận nghiên cứu dưới góc độ sản phẩm sáng tạo: Các nhà tâm lí học tiếp cận theo cách này (J.Ghiselin, 1956…) đánh giá mức độ sáng tạo theo tính mới mẻ và mức độ phạm vi ứng dụng của sản phẩm, khi phạm vi ứng dụng của sản phẩm càng rộng thì mức độ sáng tạo của cá nhân đó mang tính sáng tạo càng cao. Sản phẩm sáng tạo là nơi thể hiện rõ nhất sự nhận thức của chủ thể sáng tạo về thế giới và bản thân cũng như quan hệ giữa anh ta với thế giới ấy, là sự chứa đựng cấu dạng mới nhất của thế giới kinh nghiệm được tạo nên bằng sự cấu trúc lại thế giới kinh nghiệm đã có trước đó của chính cá nhân tạo ra sản phẩm ấy. Các nghiên cứu theo hướng tiếp cận này cho thấy, tính mới và tính có giá trị của sản phẩm sáng tạo là tiêu chuẩn và thước đo về sáng tạo [75, 79].
* Hướng tiếp cận nghiên cứu trí sáng tạo như là một thành tố của trí tuệ trong cấu trúc của nhân cách: Khác với các cách tiếp cận trên, các nhà tâm lí học theo cách tiếp cận này (J.P Guilford 1967…) nhìn nhận sáng tạo là khả năng tìm ra những mối quan hệ mới giữa các kinh nghiệm vốn tồn tại đơn lẻ, rời rạc. Những quan hệ này với cách tư duy mới, cách nhìn mới, hoạt động mới sẽ tạo ra ý tưởng mới, hoạt động mới hay sản phẩm mới, độc 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đáo, phù hợp và có giá trị tối lợi. Tuỳ theo cái mới có liên quan đến thế giới kinh nghiệm của một cá nhân, một nền văn hoá hay xã hội toàn cầu, mà trí sáng tạo được coi là bình diện cá nhân, quốc gia (một nền kinh tế) hay có tính toàn cầu. Tuy nhiên, việc đánh giá mức độ trí sáng tạo cũng được thông qua các sản phẩm hoạt động cụ thể là dựa vào kết quả các test tư duy sáng tạo để đo lường về trí sáng tạo của con người [Dẫn theo 41].
Nghiên cứu trí sáng tạo của học sinh, sinh viên Nghiên cứu của J.Jackson khi sử dụng test DPT của J.P Guilford để tìm hiểu về mối quan hệ giữa sáng tạo và trí thông minh của học sinh cho thấy, những nhóm học sinh THPT gần giống nhau về hoàn cảnh xã hội, có trí thông minh cao cũng có thể có trí sáng tạo cao, nhưng ngược lại học sinh có trí sáng tạo cao chưa hẳn là những học sinh có trí thông minh cao, bởi vì nó phụ thuộc vào môi trường giáo dục gia đình, khi mà gia đình của những học sinh có biểu hiện sáng tạo cao thường dân chủ, chấp nhận rủi ro và khoáng đạt hơn [41, tr. Nhóm nghiên cứu của Ki-Soon Han (Đại học tổng hợp Incheon Hàn Quốc) Chris Marvin (Đại học tổng hợp Nebraska-Lincoln Mỹ) Anne Walden (Hệ thống trường Lincoln- Mỹ) đó chỉ ra một cách khác để nhận diện khả năng sáng tạo của trẻ tiểu học là, tiếp cận quan sát thích hợp và xác thực đồng thời các ứng xử của trẻ để thấy được những suy nghĩ khác biệt của trẻ với các bạn khác. Đồng thời, nhóm cũng dùng test TTCT (TTCT Torrance Test of Creative Thinking) của Torrance trên mẫu nghiên cứu 45 trẻ cho thấy, có một mối liên hệ thấp (yếu) khi đo đồng thời giữa định chuẩn quan sát Nebraska (NSNO Nebraska Starry Night Observation) về tính chất sáng tạo và Test Torrance về trí sáng tạo [84]. Nghiên cứu của Matha Daugherty (Cao đẳng Georgia- Mỹ), C.Stephen White & Brenda H.
Manning (Đại học tổng hợp Georgia-Mỹ) kiểm tra mối 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan hệ giữa những suy nghĩ được thể hiện qua lới nói của trẻ và đánh giá trí sáng tạo của đứa trẻ đó; và nghiên cứu vai trò tác động của năng lực nói và mối quan hệ của nó với mức độ sáng tạo. Các nhà nghiên cứu đã khám phá ra mối quan hệ tích cực giữa mức độ sáng tạo, thực hành nói và đối phó/nhấn mạnh trong các tình huống giao tiếp. Hơn nữa, đối phó và nhấn mạnh trong lời nói thường liên quan đến mức độ sáng tạo cao [83]. Nghiên cứu của Eunice M.
Soriano de Alencar (Đại học tổng hợp Brazin) về đánh giá của SV đại học về mức độ sáng tạo của họ và mức độ sáng tạo của GV trong trường học cho thấy, SV tự đánh giá họ sáng tạo hơn so với GV đánh giá họ. Và hầu hết SV đánh giá sáng tạo của GV ở mức độ thấp. Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ đáng kể giữa những mức độ khác nhau của suy nghĩ sáng tạo và mức độ sáng tạo được đánh giá bởi SV. Kết quả gợi ý rằng GV đại học nghèo nàn phương tiện trong thiết kế một môi trường cho trí sáng tạo [90].
Các nghiên cứu trên đều hướng tới các đối tượng giáo dục là học sinh, SV. Các nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp trắc đạc xã hội để chỉ ra mức độ biểu hiện cũng như các yếu tố tác động tới mức độ biểu hiện trí sáng tạo, trong đó các nghiên cứu đều chỉ ra IQ không phải là yếu tố quyết định đến sự phát triển của CQ, mối quan hệ giữa CQ với môi trường gia đình và môi trường giáo dục là nhà trường. Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, đòi hỏi con người những năng lực mới của thế kỉ XXI, thì trí sáng tạo của con người được quan tâm nghiên cứu, giáo dục hình thành và phát triển hơn bao giờ hết [25, 64, tr.