Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI 1. CHẤT THẢI NGUY HẠI VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI 1. Khái niệm chất thải nguy hại Có thể nói rằng, vấn đề BVMT chậm được quan tâm hơn một số lĩnh vực khác, bởi lẽ phải đến năm 1993 chúng ta mới lần đầu tiên ban hành Luật BVMT. Tuy nhiên, trước tình hình môi trường bị phá hoại ngày một nghiêm trọng, vấn đề BVMT trở thành vấn đề nóng nên Đảng và Nhà nước ta đã có những cải cách rất mạnh mẽ trong lĩnh vực pháp luật về BVMT.
Trong số những lĩnh vực được cải cách mạnh mẽ đó thì những sửa đổi, bổ sung về CTNH và QLCTNH là một trong những minh chứng rõ nét. Cụ thể, khi ban hành Luật BVMT 1993, các nhà làm luật mới chỉ nhắc đến chất thải một cách chung chung: "2- Chất thải là chất được loại ra trong sinh hoạt, trong quá trình sản xuất hoặc trong các hoạt động khác. Chất thải có thể ở dạng rắn, khí, lỏng hoặc các dạng khác" [45]. Tuy nhiên, khái niệm cụ thể về CTNH vẫn chưa được quy định cụ thể trong luật, trong giai đoạn này, khái niệm CTNH mới chỉ được nghiên cứu dưới góc độ của khoa học về BVMT.
Điều này có nhược điểm làm giảm hiệu quả nhất định trong quá trình tăng cường pháp luật trong QLCTNH. Sau một giai đoạn dài từ khi ban hành Luật BVMT năm 1993, phải đến năm 1999 thì chúng ta mới có quy định cụ thể về khái niệm CTNH và khái niệm này được quy định cụ thể tại Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg về ban hành quy chế QLCTNH. Xét về khoa học, quá trình hoạt động sản xuất và tiêu dùng của con người luôn làm phát sinh ra các loại chất thải. Hiểu một cách đơn giản, chất thải là những chất không sử dụng được nữa, do con người thải bỏ ra trong 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoạt động của mình.
Theo quy định tại khoản 10 Điều 3 Luật BVMT Việt Nam 2005 thì "Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác" [49]. Từ khái niệm trên, ta có thể hiểu về chất thải một cách cụ thể như sau: i) Chất thải tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể như: rắn, lỏng, khí… Những yếu tố phi vật chất không được coi là chất thải. ii) Vật chất đó bị chủ sở hữu thải bỏ. Như vậy, vật chất đó có phải là chất thải hay không phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan của chủ sở hữu.
Tuy nhiên, phải loại trừ trường hợp do đặc thù trong hoạt động của mình, chủ sở hữu phải thải bỏ vật chất và hoạt động thải bỏ này mang tính chất bị động đối với chủ sở hữu cũng như đối với đối tượng khác. Một vật chất sẽ tồn tại dưới dạng chất thải từ khi chủ sở hữu hoặc người sử dụng hợp pháp thải ra cho đến khi nó được đưa vào sử dụng ở một chu trình sản xuất hoặc chu trình sử dụng khác. iii) Vật chất này được sản sinh ra từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt, hoặc các hoạt động khác của con người như: Hoạt động du lịch, khoa học…[40, tr. Nếu căn cứ vào mức độ độc hại của chất thải, có thể phân loại chất thải thành CTNH và chất thải thông thường.
Cả hai loại này đều mang những đặc điểm chung của chất thải. Tuy nhiên, xét về khả năng gây hại trực tiếp hoặc gián tiếp cho môi trường và con người thì CTNH được coi là có mức độ độc hại cao hơn hẳn so với chất thải thông thường. Với sự phát triển của tư duy pháp lý trong thời kỳ mới, cộng thêm sự thay đổi về nhận thức trong vấn đề BVMT, đến năm 1999, với những thành tựu phát triển công nghiệp và sự tác động của nó đến môi trường, đòi hỏi phải kiểm soát nghiêm ngặt về CTNH. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg, để đặt ra Quy chế QLCTNH, trong đó quy định cụ thể về CTNH tại khoản 2 Điều 3: 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chất thải nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác) hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại đến môi trường và sức khỏe con người [10].
Đến năm 2005, định nghĩa này đã được sửa đổi và hoàn thiện hơn với cách diễn đạt rất ngắn gọn và súc tích tại khoản 11 Điều 3 Luật BVMT 2005. Theo đó, CTNH là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác [49]. Do tình hình thực tiễn có nhiều thay đổi và một số hạn chế của Luật BVMT năm 2005 mà Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 đã thông qua ngày 23/6/2014 ban hành Luật BVMT năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015, luật này quy định: CTNH là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác [54]. Như vậy, khái niệm này cấp độ về sự lây nhiễm và ăn mòn đã được điều chỉnh tăng, cụ thể: từ mức độ "dễ lây nhiễm" chuyển sang "lây nhiễm"; từ mức độ "dễ ăn mòn" chuyển sang "gây ăn mòn".
Hơn nữa, danh mục CTNH cũng được cập nhật bổ sung kịp thời. Điều này cho thấy, việc BVMT đã trở lên cấp bách hơn bao giờ hết. Quy định của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại Đồng thời với việc xác định CTNH, vấn đề QLCTNH cũng được đặt ra và được cải cách quyết liệt. Năm 1999, vấn đề QLCTNH đã được Nhà nước rất quan tâm, cụ thể là vào ngày 16/07/1999, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg về ban hành Quy chế QLCTNH (sau đây gọi là Quy chế QLCTNH), đây được coi là văn bản pháp luật đầu tiên của Nhà nước ta về QLCTNH.
Theo khoản 3 Điều 3 Quy chế QLCTNH thì: "Quản lý chất thải nguy hại là các hoạt động kiểm soát chất thải nguy hại 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong suốt quá trình từ phát sinh đến thu gom, vận chuyển, quá cảnh, lưu giữ, xử lý và tiêu hủy chất thải nguy hại" [10]. Với quy định này, vấn đề phòng ngừa, giảm thiểu tác hại của CTNH chưa được đặt ra, đây cũng là thiếu sót chính trong Quy chế QLCTNH. Sau một thời gian thực hiện, Quy chế QLCTNH đã bộc lộ những khiếm khuyết nhất định, làm cho công tác QLCTNH không đạt hiệu quả như mong muốn. Đến năm 2006, các khiếm khuyết này đã được khắc phục bằng các quy định trong Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26/12/2006 của Bộ Tài nguyên và môi trường về hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số QLCTNH (gọi tắt là Thông tư số 12/2006/TT- BTNMT).1, Thông tư 12/2006/TT-BTNMT quy định: QLCTNH gồm các hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý (kể cả tái chế, thu hồi), tiêu hủy CTNH [1].
Sau 5 năm thực hiện theo Thông tư 12/2006/TT-BTNMT, các quy định về QLCTNH tiếp tục bộc lộ những bất cập cần phải khắc phục để hoàn thiện hơn cơ chế QLCTNH trong tình hình mới. Trước yêu cầu đó, ngày 14/4/2011, Bộ Tài nguyên môi trường đã ban hành Thông tư số 12/2011/TT- BTNMT quy định về QLCTNH (gọi tắt là Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT). Trong Thông tư 12/2011/TT-BTNMT thì khái niệm QLCTNH được quy định tại khoản 1 Điều 3 của Thông tư này như sau: QLCTNH là các hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lưu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý CTNH [4]. Sau một thời gian thực hiện, Thông tư 12/2011/TT-BTNMT cũng đã bộc lộ một số khiếm khuyết nhất định, dẫn đến công tác QLCTNH chưa đạt hiệu quả như mong muốn.
Mặt khác, Thông tư này được ban hành dựa trên cơ sở Luật bảo vệ môi trường năm 2005 đã hết hiệu lực. Để tăng cường công tác quản lý nhà nước về chất thải nguy hại và hoàn thiện quy định về vấn đề này phù hợp với Luật bảo vệ môi trường mới, Chính phủ đã ban hành Nghị định 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 về quản lý chất thải và phế liệu (gọi tắt là Nghị định số 38/2015/NĐ-CP) và Bộ Tài nguyên môi trường ban hành Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 về quản lý chất thải nguy hại (gọi tắt là Thông tư 36/2015/TT-BTNMT) thay thế Thông tư số 12/2011/TT- BTNMT. Theo đó, quản lý chất thải nguy hại được pháp luật về môi trường điều chỉnh với tư cách là một bộ phận nằm trong hệ thống quản lý chất thải và phế liệu nói chung. Theo Điều 1 của Nghị định 38/2015/NĐ-CP thì: "Nghị định này quy định về: Quản lý chất thải bao gồm chất thải nguy hại, chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp thông thường, sản phẩm thải lỏng, nước thải, khí thải công nghiệp và các chất thải đặc thù khác; bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu" [14].
Như vậy, vấn đề quản lý chất thải nguy hại được điều chỉnh một cách tổng thể trong văn bản về quản lý chất thải, phế liệu nói chung. Điều này nhằm phù hợp với thực tế là chất thải nguy hại chỉ là một dạng chất thải có tính nguy hiểm cao hơn so với các chất thải thông thường khác. Theo Luật bảo vệ môi trường năm 2014 thì khái niệm quản lý chất thải được quy định như sau: "Quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải" [54]. Quản lý chất thải nguy hại với tư cách là một bộ phận nằm trong hệ thống quản lý chất thải và phế liệu nói chung, cho nên khái niệm quản lý chất thải nguy hại được hiểu như sau: "Quản lý chất thải nguy hại là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải nguy hại".
Như vậy, khái niệm QLCTNH lần đầu tiên được quy định tại Quy chế QLCTNH, sau đó khái niệm này đã quy định tại Khoản 15 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2015.