Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong Luật Hình sự Việt Nam. Chương 2: Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong Luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Luật Hình sự đối với tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại. Phần Kết luận 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.
Một số vấn đề lý luận về quản lý chất thải nguy hại 1. Khái niệm và đặc điểm về chất thải nguy hại Hoạt động sản xuất và tiêu dùng của con người luôn làm phát sinh ra các loại chất thải. Hiểu một cách đơn giản, chất thải là những chất không sử dụng được nữa, do con người thải bỏ ra trong hoạt động của mình. Theo định nghĩa tại Khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2014: “Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác” [48]; Khoản 13 Điều 3 Luật BVMT năm 2014 quy định: “Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác”[48].
Từ những quy định này, chúng ta có thể hiểu về chất thải như sau: i) Chất thải trước hết là dạng vật chất chất cụ thể, tồn tại ở các dạng: rắn, lỏng, khí. ii) Loại vật chất này được sinh ra từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt, hoặc các hoạt động khác do con người thực hiện. iii) Loại vật chất đó bị chủ sở hữu thải bỏ. Như vậy, vật chất đó có phải là chất thải hay không phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan của chủ sở hữu.
Tuy nhiên, phải loại trừ trường hợp do đặc thù trong hoạt động của mình, chủ sở hữu phải thải bỏ vật chất và hoạt động thải bỏ này mang tính chất bị động đối với chủ sở hữu cũng như đối với đối tượng khác. Một vật chất sẽ tồn tại dưới dạng chất thải từ khi chủ sở hữu hoặc người sử dụng hợp pháp thải ra cho đến khi nó được đưa vào sử dụng ở một chu trình sản xuất hoặc chu trình sử dụng khác [33, tr. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiện nay, dựa trên tính chất vật lý và hóa học của chất thải, các quy định pháp lý chuyên ngành về bảo vệ môi trường chia chất thải thành: Chất thải nguy hại và chất thải thông thường. Do tính chất nguy hại của chất thải nguy hại, các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường quy định việc quản lý chất thải nguy hại rất chặt chẽ.
Theo chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP): Chất thải nguy hại là các chất thải (không bao gồm các chất phóng xạ) có khả năng phản ứng hóa học hoặc có khả năng gây độc, gây cháy, ăn mòn, có khả năng gây nguy hại cho sức khỏe con người hay môi trường khi tồn tại riêng lẻ, hoặc khi tiếp xúc với các chất khác. Theo luật Bảo tồn và Phục hồi tài nguyên Mỹ (RCRA): Chất thải nguy hại là chất thải rắn hoặc tổ hợp các chất thải rắn do lượng hoặc nồng độ hay do đặc tính vật lý, hoá học hoặc truyền nhiễm mà chúng có thể: (1)Tạo ra hoặc góp phần đáng kể vào việc tăng khả năng tử vong hay là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nguy kịch không thể cứu chữa; (2) Tạo ra sự nguy hại đến sức khỏe con người hoặc môi trường trong khi xử lý, bảo quản, vận chuyển. Theo quy định của pháp luật BVMT Philippin: Chất thải nguy hại là các loại vật liệu có khả năng gây nguy hiểm cho con người, động vật, có khả năng gây độc, ngộ độc, ăn mòn, dị ứng, nhạy cảm cao, gây cháy nổ. Nhìn chung, định nghĩa chất thải nguy hại ở các nước tuy có khác nhau về cách diễn đạt, nhưng bản chất đều nhấn mạnh đến tính chất độc hại của loại chất thải này đến môi trường và sức khỏe con người.
Ở Việt Nam, khái niệm chất thải nguy hại lần đầu tiên được đề cập đến chính thức tại Quy chế quản lý chất thải nguy hại ban hành kèm theo Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 16 tháng 7 năm 1999, tại Khoản 2 Điều 3 của Quy chế quy định: “Chất thải nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác) hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại đến môi trường và sức khỏe con người” [51]. Định nghĩa này đã được sửa đổi và diễn đạt ngắn gọn và súc tích hơn tại Khoản 11 Điều 3 Luật BVMT năm 2005: “Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác”. Đến Luật BVMT năm 2014, khái niệm chất thải nguy hại cơ bản kế thừa và nhấn mạnh đặc tính “lây nhiễm” lên trước một số đặc tính khác. Khi đối chiếu khái niệm chất thải nguy hại ở 03 văn bản pháp luật trên, có thể dễ dàng nhận thấy về mặt hình thức thì khái niệm chất thải nguy hại trong Luật BVMT năm 2005 và Luật BVMT năm 2014 đã rút gọn đi rất nhiều về số lượng câu, chữ, cách diễn đạt cũng rõ ràng hơn và súc tích hơn.
Tuy nhiên, điều đó vẫn không làm giảm hay sai lệch phần nội dung mà khái niệm muốn đề cập đến: “Chất thải nguy hại là một loại chất thải, có các đặc tính lý, hóa hoặc sinh học có thể gây nguy hại trực tiếp hay gián tiếp khi tương tác với các chất khác”. Có nhiều tiêu chí để phân loại chất thải nguy hại như: Phân loại theo nguồn thải đặc thù, phi đặc thù; phân loại theo chất thải công nghiệp; phân loại theo loại nguy hại; theo nhóm hóa học; theo thành phần hóa học ban đầu; theo tình trạng vật lý…[28, tr. Theo Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 26 tháng 12 năm 2006 về việc ban hành danh mục chất thải nguy hại, chất thải nguy hại được phân loại theo các nhóm nguồn hoặc dòng thải chính như: Chất thải từ ngành thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, dầu khí và than; chất thải từ ngành sản xuất hóa chất vô cơ, hữu cơ; chất thải từ ngành luyện kim; chất thải từ ngành sản xuất vật liệu xây dựng và thủy tinh; chất thải từ ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản; chất 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thải từ ngành y tế và thú y; chất thải từ các cơ sở tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải, xử lý nước cấp sinh hoạt và công nghiệp… Như vậy, qua các khái niệm về chất thải nguy hại ta có thể rút ra đặc điểm của chất thải nguy hại như sau: Một là, chất thải nguy hại trước hết có đầy đủ đặc điểm của chất thải được quy định trong pháp luật của mỗi quốc gia, tức là các loại hình vật chất cụ thể được thải ra qua quá trình sinh hoạt, sản xuất. Dưới một số khía cạnh khác nhau thì chất thải có thể chỉ là vật chất bỏ đi không có giá trị sử dụng hoặc tái sử dụng.
Tuy nhiên, hầu hết hiện nay các chất thải phát sinh từ các quá trình tiêu dùng hay sản xuất đều có thể tái sử dụng, tái chế được. Do đó, chất thải của quy trình sản xuất này có thể là nguồn nguyên liệu đầu vào của quá trình sản xuất khác. Ví dụ, sản phẩm là xỉ than thải ra sau quá trình sử dụng của nhà máy nhiệt điện có thể trở thành nguồn nguyên liệu trong ngành xây dựng như sản xuất gạch xi măng, rải đường. Hai là, chất thải nguy hại ngoài đặc điểm chung như các loại chất thải khác chúng có đặc điểm riêng là có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác) hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại đến môi trường và sức khỏe con người.
Như vậy bản thân tính nguy hại thể hiện ở chỗ chúng gây nguy hại trực tiếp cho môi trường hay sức khỏe của con người. Ví dụ như sản phẩm bùn đỏ sau quá trình sản xuất aluminum từ quặng bô xít có khả năng gây nguy hại rất lớn cho môi trường. Chính vì đặc điểm này mà quy chế về quản lý chất thải nguy hại tương đối khác biệt so với các loại chất thải thông thường khác. Bất kì quốc gia nào cũng có những quy định hết sức chặt chẽ nhằm bảo đảm quản lý được nguồn chất thải này.
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ba là, chất thải nguy hại được quản lý theo một quy chế riêng được quy định rất chặt chẽ trong các văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật BVMT và BLHS. Đây là đặc điểm tương đối khác biệt so với các loại chất thải thông thường khác. Bởi lẽ chất thải nguy hại có tính nguy hại cho con người và môi trường cao hơn so với các loại chất thải khác. Quy chế quản lý chất thải nguy hại là cơ sở pháp lý, là kim chỉ nam cho hoạt động quản lý đối với chất thải nguy hại của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm hạn chế một cách tối đa sự tác động xấu tới sức khỏe con người và môi trường của chất thải nguy hại.
Bốn là, chất thải nguy hại cũng giống như các loại hình chất thải khác, đòi hỏi chủ thể phát tán chất thải hoặc chủ thể quản lý phải có những nghĩa vụ nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn. Tuy nhiên, khác với các loại chất thải thông thường khác, chất thải nguy hại có tính nguy hiểm cao hơn nên các văn bản quy phạm pháp luật quy định chặt chẽ hơn nghĩa vụ của các chủ thể trong quản lý chất thải nguy hại, nếu để xảy ra những hậu quả nhất định thì sẽ phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước. Trong đó có hình thức trách nhiệm cao nhất là trách nhiệm hình sự.