Tổng quan luận án
Quyền được bảo vệ về sức khỏe là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tế và được cụ thể hóa tại Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Bộ luật hình sự năm 2015 đều dành riêng một chương quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, trong đó nhóm tội xâm phạm sức khỏe giữ vị trí quan trọng.
Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm giai đoạn 2007 - 2016 cho thấy diễn biến của nhóm tội này, đặc biệt là tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, diễn ra phức tạp và có xu hướng gia tăng tính chất nguy hiểm. Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, trung bình mỗi năm giai đoạn 2007 - 2016, Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý và xét xử trên 6.000 vụ án với gần 10.000 bị cáo liên quan đến các tội xâm phạm sức khỏe con người. Riêng năm 2016, tổng số bị cáo được thụ lý giải quyết là 6.947 bị cáo, trong đó tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác chiếm 6.098 vụ. Nhiều vụ án nghiêm trọng xảy ra tại Thành phố Hồ Chí Minh (chùa Quang Bửu năm 2016), Hà Nội (phường Dương Nội, phường Hàng Bông năm 2017) và tỉnh Vĩnh Phúc năm 2017.
Về mặt lý luận, khoa học luật hình sự Việt Nam đã có những công trình tiếp cận các tội danh xâm phạm sức khỏe dưới dạng chương mục giáo trình, bài báo khoa học hoặc nghiên cứu tội phạm học đối với một tội danh riêng lẻ. Tuy nhiên, trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, có hệ thống và toàn diện dưới góc độ một luận án tiến sĩ luật học về lý luận và thực tiễn xét xử nhóm tội này. Đồng thời, Bộ luật hình sự năm 2015 dù đã bổ sung nhiều quy định mới nhưng vẫn còn những điểm vướng mắc về mặt kỹ thuật lập pháp và nhận thức áp dụng cần được tiếp tục làm rõ.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ toàn diện, hệ thống các vấn đề lý luận; tổng kết, đánh giá thực tiễn áp dụng quy định của luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân các cấp; từ đó xác định yêu cầu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định và giải quyết 7 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước có liên quan đến nội dung luận án, qua đó đánh giá, xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu;
- Phân tích quyền được bảo vệ sức khỏe của con người theo pháp luật quốc tế, làm rõ ý nghĩa, cơ sở của việc quy định các tội xâm phạm sức khỏe của người khác trong luật hình sự Việt Nam, trên cơ sở đó xây dựng khái niệm, chỉ ra những đặc điểm chính và phân loại về các tội phạm này;
- Hệ thống hóa lịch sử phát triển của luật hình sự Việt Nam quy định về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác từ thời kỳ phong kiến đến nay và đưa ra nhận xét;
- Nghiên cứu, so sánh quy định về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác trong Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới để đưa ra đánh giá;
- Phân tích quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2009 về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác qua những dấu hiệu pháp lý hình sự và hình phạt để đưa ra nhận xét, đánh giá;
- Đánh giá thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân các cấp đối với các tội xâm phạm sức khỏe của người khác giai đoạn 10 năm (2007 - 2016), chỉ ra những thiếu sót, hạn chế và nguyên nhân;
- Đề xuất yêu cầu, giải pháp tiếp tục hoàn thiện quy định về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác trong Bộ luật hình sự năm 2015 trên phương diện lập pháp và đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trên phương diện thực tiễn.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác theo luật hình sự Việt Nam; quy định của luật hình sự nước ta và một số nước; thực trạng quy định của Bộ luật hình sự hiện hành và thực tiễn xét xử đối với nhóm tội phạm này.
Phạm vi nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Về nội dung: Các tội danh quy định tại các Điều 104, 105, 106, 107, 108, 109 và 110 thuộc Chương XII Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), tương ứng với các Điều từ 134 đến 140 thuộc Chương XIV Bộ luật hình sự năm 2015.
- Về không gian: Nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc và khảo sát số liệu thực tế tại 04 địa phương đại diện gồm thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Đắk Lắk.
- Về thời gian: Khảo sát số liệu xét xử của Tòa án nhân dân các cấp trong giai đoạn 10 năm từ năm 2007 đến năm 2016.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật và phân loại hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan ở trong và ngoài nước theo hai góc độ tiếp cận chính: khoa học luật hình sự và tội phạm học.
| Hướng nghiên cứu |
Nhóm công trình |
Tác giả và công trình tiêu biểu |
Nội dung chính đã giải quyết |
| Khoa học Luật hình sự trong nước |
Sách chuyên khảo, sách tham khảo |
- GS. Nguyễn Ngọc Hòa (1997), Luật hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn. - TS. Nguyễn Ngọc Anh (2001), Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người. - Đinh Văn Quế (2012), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, Tập 2. - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (2007), Tuyển chọn các quyết định giám đốc thẩm (Tập 1). |
Phân tích xác định lỗi cố ý; phân tích dấu hiệu pháp lý hình sự, hình phạt; chỉ ra 8 dạng vi phạm tố tụng hình sự và 9 dạng vi phạm luật hình sự trong xét xử tội cố ý gây thương tích. |
|
Đề tài, đề án khoa học |
- TS. Từ Văn Nhũ (2002), TANDTC. - TS. Trần Văn Dũng (2014), Bộ Tư pháp. - TS. Nguyễn Văn Hiển (2015), Bộ Tư pháp. |
Đánh giá tổng thể việc áp dụng Phần các tội phạm BLHS 1999 phục vụ yêu cầu sửa đổi, bổ sung luật. |
|
Bài viết tạp chí khoa học |
- TS. Nguyễn Đức Mai (1998), Tạp chí TAND. - TS. Trần Văn Luyện (2001), Tạp chí Nhà nước và Pháp luật. - GS. Nguyễn Ngọc Hòa (2001), Tạp chí Luật học. - ThS. Nguyễn Mai Bộ (2001, 2012), Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí TAND. - TS. Đỗ Đức Hồng Hà (2003, 2007), Tạp chí TAND, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật. - TS. Phạm Mạnh Hùng (2005), Tạp chí Kiểm sát. - Phạm Văn Ngọc (2010), Tạp chí Kiểm sát. |
Phân biệt tội danh (giết người với cố ý gây thương tích dẫn đến chết người, chống người thi hành công vụ...); phân tích tội xâm phạm sức khỏe trong Bộ luật Gia Long. |
|
Giáo trình đại học |
- GS.TSKH. Lê Cảm (2001, 2007). - GS. Nguyễn Ngọc Hòa (2001). - GS. Võ Khánh Vinh (2001, 2005, 2010). - PGS.TS. Cao Thị Oanh (2010, 2012). - TS. Phạm Mạnh Hùng (2016). - TS. Phạm Văn Beo (2009). |
Xây dựng hệ thống khái niệm, dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm và khung hình phạt chuẩn mực cho các cơ sở đào tạo luật. |
| Tội phạm học trong nước |
Luận án tiến sĩ luật học |
- Nguyễn Hữu Cầu (2003), Học viện CSND. - Phạm Thị Mỹ Hương (2016), Học viện KHXH. - Nguyễn Ngọc Bình (2008), Viện Nhà nước và Pháp luật. - Lê Minh Long (2014), Học viện CSND. |
Nghiên cứu đặc điểm tội phạm học, nguyên nhân, điều kiện phạm tội và giải pháp phòng ngừa đối với tội cố ý gây thương tích hoặc nhóm tội phạm bạo lực tại các địa bàn cụ thể (như Thái Bình) hoặc hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát. |
|
Sách chuyên khảo, giáo trình |
- TS. Bùi Văn Thịnh (2007). - TS. Phạm Minh Chiêu (2012). - GS. Nguyễn Xuân Yêm (2001). |
Nhận diện tội phạm bạo lực, bạo lực gia đình và vai trò phòng ngừa của lực lượng Cảnh sát nhân dân. |
| Nghiên cứu ở ngoài nước |
Luận án tiến sĩ |
- Đặng Quang Phương (1990), bảo vệ tại Taskent (Liên Xô cũ). |
Nghiên cứu trách nhiệm về tội giết người theo luật hình sự Việt Nam 1985, có phân biệt với cố ý gây thương tích dẫn đến chết người. |
|
Sách chuyên khảo, tham khảo nước ngoài |
- Stephen A. Diamond, Kit Kinports, Thomas H. Morawetz (1994, Hoa Kỳ). - AP Simester, GR Sulliran (2003, Anh). - Joycelyn M. Pollock (2012, Hoa Kỳ). - Michèle-Laure Rassat (2014, Pháp). - Mike Brogden, Preeti Nijhar (2000, Hoa Kỳ/Anh). - Shane Jimerson và cộng sự (2012). - Lynne Harne, Jill Radford (2008, Anh). - N. Frank (Hoa Kỳ). - Jean-Paul Doucet (1994, Pháp). - Matthew Lippman (Hoa Kỳ). - Giáo trình LHS Liên bang Nga (1996), Baxilieva (2007). |
Phân tích cấu trúc tội phạm bạo lực, tấn công và hành hung (assault and battery), trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm sự toàn vẹn thân thể, bảo vệ các nhóm đối tượng dễ tổn thương (người già, phụ nữ, trẻ em). |
|
Báo cáo, chuyên đề nước ngoài |
- Law Commission (2008, Anh). - Paul A. Bourne, Collin Pinnock, Damion K. Blake (Jamaica). - David M. Paciocco (Canada). - Holly Johnson, Natalia Ollus, Sami Nevala (2008). - Eric Hickey (2003). - Scott Mire, Cliff Roberson (2011). - Heather Douglas (2008). |
Báo cáo cải cách pháp luật về tội giết người và ngộ sát; nghiên cứu tương quan bạo lực xã hội, tội phạm do suy giảm khả năng điều khiển giao thông, phản ứng tư pháp đối với bạo lực gia đình và nữ quyền. |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:
Các công trình nghiên cứu hiện có chủ yếu tập trung vào từng tội phạm đơn lẻ (đặc biệt là tội cố ý gây thương tích) hoặc nghiên cứu biện pháp phòng ngừa tội phạm học tại một địa bàn hạn hẹp, hoặc chỉ phân tích thuần túy lý luận trong giáo trình. Chưa có một công trình nào ở cấp độ luận án tiến sĩ nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về cả nhóm các tội xâm phạm sức khỏe của người khác theo luật hình sự Việt Nam, kết hợp phân tích chuyên sâu về cơ sở lý luận quốc tế, tiến trình lập pháp lịch sử, luật học so sánh với đánh giá thực trạng xét xử 10 năm trên phạm vi toàn quốc để đưa ra hệ thống giải pháp lập pháp và thực tiễn cho Bộ luật hình sự năm 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận và các khung pháp lý sau:
- Quyền con người và quyền được bảo vệ sức khỏe theo pháp luật quốc tế: Hiến chương Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1946; Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền năm 1948 của Liên Hợp Quốc (Điều 3, Điều 25); Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966 (Điều 7, Điều 11); Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 (Điều 9).
- Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ tính mạng, sức khỏe con người và chăm sóc sức khỏe nhân dân.
- Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách hình sự, cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; quy định tại Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013.
- Hệ thống lý luận khoa học luật hình sự về tội phạm, bốn yếu tố cấu thành tội phạm (khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan), trách nhiệm hình sự và hình phạt.
Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ đề ra, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp so sánh, tổng hợp tài liệu: Thu thập, hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước, văn bản pháp luật quốc tế và luật hình sự của một số quốc gia (Chương 1, Chương 2).
- Phương pháp phân tích và nghiên cứu lý luận: Làm sáng tỏ bản chất pháp lý, các đặc trưng cấu thành và cơ sở quy định trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội xâm phạm sức khỏe (Chương 2, Chương 3).
- Phương pháp thống kê, khảo sát án điển hình và điều tra xã hội học:
- Xử lý số liệu thống kê xét xử 10 năm (2007 - 2016) của Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân các địa phương.
- Thu thập và phân tích trực tiếp 244 bản án hình sự sơ thẩm và 315 bản án hình sự phúc thẩm về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác.
- Khảo sát thực tế thông qua 202 phiếu điều tra xã hội học đối với cán bộ, Thẩm phán công tác tại Tòa án nhân dân hai cấp ở 04 địa phương (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Đắk Lắk) (Chương 3).
- Phương pháp tổng hợp, đề xuất giải pháp: Luận chứng các yêu cầu và giải pháp lập pháp đối với Bộ luật hình sự năm 2015 cùng các biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng thực tiễn (Chương 4).
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Hoàn thiện luận án thông qua các buổi sinh hoạt khoa học, hội thảo chuyên môn cấp bộ môn và ý kiến của các nhà khoa học luật hình sự.
Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm: Các số liệu thống kê tư pháp chính thức của Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2007 - 2016; 559 bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm; 202 phiếu khảo sát chuyên gia; hệ thống văn bản pháp luật hình sự Việt Nam (Bộ luật hình sự năm 1985, 1999, 2015, sửa đổi năm 2017) và văn bản pháp luật quốc tế liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 hệ thống hóa và đánh giá toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo hai hướng tiếp cận chính: khoa học luật hình sự và tội phạm học.
Về mặt lý luận, các công trình trong nước đã bước đầu định hình khái niệm, dấu hiệu cấu thành tội phạm và hình phạt của nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe. Về mặt tội phạm học, các nghiên cứu đã tập trung làm rõ nguyên nhân, điều kiện và biện pháp phòng ngừa tội cố ý gây thương tích hoặc tội phạm bạo lực tại một số địa phương cụ thể. Ở ngoài nước, các nghiên cứu tập trung vào tội phạm bạo lực, bạo lực gia đình, các dạng tấn công thân thể và bảo vệ quyền phụ nữ.
Từ việc phân tích tổng quan, chương này xác định 5 vấn đề cốt lõi mà luận án cần tiếp tục giải quyết:
- Luận giải cơ sở lý luận, ý nghĩa bảo vệ quyền sức khỏe theo chuẩn mực quốc tế và xây dựng khái niệm khoa học về các tội xâm phạm sức khỏe trong luật hình sự Việt Nam;
- Phân tích, đánh giá các dấu hiệu pháp lý và hình phạt của nhóm tội này theo Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi năm 2009);
- Đánh giá thực tiễn xét xử giai đoạn 10 năm (2007 - 2016) trên toàn quốc và tại 04 địa bàn trọng điểm, chỉ ra những vướng mắc và sai lầm phổ biến;
- Luận chứng giải pháp tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự năm 2015;
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nâng cao hiệu quả áp dụng thực tiễn.
Chương 2: Những vấn đề chung về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác trong luật hình sự
Chương 2 tập trung xây dựng nền tảng lý luận và lịch sử - so sánh về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác:
- Cơ sở lý luận và chuẩn mực quốc tế: Khẳng định sức khỏe là quyền con người thiêng liêng được bảo hộ bởi Hiến chương WHO 1946, Tuyên ngôn Nhân quyền 1948 và các Công ước quốc tế năm 1966 của Liên Hợp Quốc. Luận án phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Nhà nước Việt Nam về bảo vệ sức khỏe nhân dân, cụ thể hóa tại Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013.
- Khái niệm và đặc điểm: Xây dựng định nghĩa khoa học về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác; phân tích khách thể trực tiếp (quyền được bảo vệ về sức khỏe, sự toàn vẹn thân thể), mặt khách quan (hành vi hành động hoặc không hành động gây tổn hại sức khỏe), chủ thể (người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định) và mặt chủ quan (lỗi cố ý hoặc vô ý). Phân loại nhóm tội này theo hình thức lỗi và tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi.
- Lược sử lập pháp hình sự Việt Nam: Khảo cứu quy định từ thời kỳ phong kiến (Quốc triều hình luật thời Hậu Lê, Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn) đến các văn bản sau năm 1945, Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự năm 1999, chỉ ra tính kế thừa và sự phát triển của chính sách hình sự qua từng giai đoạn.
- Luật học so sánh: Phân tích quy định của Bộ luật hình sự một số quốc gia (Cộng hòa Pháp, Liên bang Nga, Anh, Hoa Kỳ...) về các tội xâm phạm thân thể, sức khỏe, rút ra những giá trị hợp lý có thể vận dụng vào điều kiện Việt Nam.
Chương 3: Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác và thực tiễn áp dụng
Chương 3 đi sâu phân tích cấu thành tội phạm và thực tiễn xét xử 7 tội danh thuộc Chương XII Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi năm 2009):
- Phân tích pháp lý: Phân tích cụ thể dấu hiệu định tội, định khung hình phạt đối với các tội danh: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 105); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 106); Tội từ chối chữa bệnh hoặc trốn tránh trách nhiệm chữa bệnh (Điều 107); Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 108); Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 109); Tội hành hạ người khác (Điều 110).
- Thực tiễn xét xử (2007 - 2016): Đánh giá số liệu xét xử của Tòa án nhân dân các cấp trên cả nước. Kết quả cho thấy tội cố ý gây thương tích (Điều 104) chiếm tỷ lệ áp đảo tuyệt đối trong toàn bộ nhóm tội phạm xâm phạm sức khỏe (thường chiếm trên 90% số vụ và số bị cáo hàng năm).
- Nhận diện 9 dạng sai lầm, vi phạm trong thực tiễn áp dụng:
- Sai lầm trong việc xác định tội danh (nhầm lẫn giữa giết người chưa đạt và cố ý gây thương tích, giữa tội cố ý gây thương tích với tội chống người thi hành công vụ...);
- Áp dụng không chính xác tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ định khung hình phạt;
- Áp dụng sai tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự chung;
- Quyết định hình phạt chưa tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi;
- Vi phạm về hiệu lực áp dụng pháp luật hình sự;
- Tuyên không phạm tội thiếu căn cứ pháp luật;
- Xác định sai tư cách bị cáo không phạm tội;
- Áp dụng sai chính sách xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội;
- Áp dụng không đúng quy định về quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của luật (Điều 47 BLHS năm 1999).
- Phân tích nguyên nhân: Chỉ ra các nguyên nhân xuất phát từ sự thiếu cụ thể của quy phạm pháp luật, việc chậm ban hành văn bản hướng dẫn và hạn chế về trình độ, nhận thức, kỹ năng nghiệp vụ của một bộ phận cán bộ tiến hành tố tụng.
Chương 4: Yêu cầu và những giải pháp tiếp tục hoàn thiện quy định về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác trong Bộ luật hình sự năm 2015 và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng
Chương 4 đề xuất định hướng và các nhóm giải pháp nhằm giải quyết những tồn tại lý luận và thực tiễn:
- Yêu cầu hoàn thiện: Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền con người theo Hiến pháp năm 2013, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và Chiến lược cải cách tư pháp.
- Đánh giá điểm mới của Bộ luật hình sự năm 2015 (các Điều 134 - 140):
- Thay thế cụm từ "tỷ lệ thương tật" bằng cụm từ "tỷ lệ tổn thương cơ thể" để phù hợp với khoa học pháp y;
- Bổ sung tình tiết định khung tăng nặng "Dùng a-xít sunfuric ($H_2SO_4$) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác";
- Cụ thể hóa các tình tiết định tính thành các tiêu chí định lượng rõ ràng;
- Bổ sung quy định xử lý hành vi chuẩn bị phạm tội đối với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134).
- Kiến nghị tiếp tục hoàn thiện lập pháp: Giải quyết triệt để sự chồng lấn giữa cấu thành tội cố ý gây thương tích với tội chống người thi hành công vụ; làm rõ tiêu chí xác định "trạng thái tinh thần bị kích động mạnh"; rà soát và hoàn thiện quy định về trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội.
- Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng:
- Tòa án nhân dân tối cao sớm ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất các điều khoản từ Điều 134 đến Điều 140 Bộ luật hình sự năm 2015;
- Nâng cao chất lượng công tác điều tra, thu thập chứng cứ và hoạt động giám định pháp y thương tích;
- Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và cán bộ tư pháp;
- Tăng cường phối hợp liên ngành giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong việc giải quyết các vụ án xâm phạm sức khỏe.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Phân tích cơ sở lý luận về quyền được bảo vệ sức khỏe của con người dưới giác độ pháp luật quốc tế và pháp luật hình sự Việt Nam.
- Xây dựng hệ thống khái niệm khoa học, luận giải đầy đủ các đặc điểm pháp lý hình sự và phân loại chi tiết các tội xâm phạm sức khỏe của người khác.
- Hệ thống hóa toàn diện tiến trình phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử và tổng hợp kinh nghiệm lập pháp quốc tế có giá trị tham khảo.
Đóng góp về mặt thực tiễn và lập pháp
- Đưa ra bức tranh toàn cảnh về thực tiễn xét xử các tội xâm phạm sức khỏe của Tòa án nhân dân các cấp trong giai đoạn 10 năm (2007 - 2016) trên phạm vi toàn quốc và 04 địa phương trọng điểm (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Đắk Lắk).
- Nhận diện và phân loại có hệ thống 9 dạng sai lầm, vi phạm phổ biến trong việc định tội danh, áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và quyết định hình phạt của Tòa án.
- Luận giải các điểm mới của Bộ luật hình sự năm 2015 và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện kỹ thuật lập pháp đối với các điều khoản từ Điều 134 đến Điều 140.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp thực tiễn có tính khả thi nhằm bảo đảm áp dụng đúng pháp luật, phòng ngừa oan sai và nâng cao hiệu quả xét xử nhóm tội này.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Số liệu thực tiễn và các bản án được khảo sát tập trung chủ yếu trong giai đoạn 10 năm (2007 - 2016) thi hành Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi năm 2009). Các đánh giá về Bộ luật hình sự năm 2015 được thực hiện trên cơ sở phân tích văn bản lập pháp tại thời điểm mới ban hành, chưa có điều kiện khảo sát thực tiễn áp dụng qua một giai đoạn xét xử dài của Bộ luật mới. Dữ liệu khảo sát sâu tập trung vào 04 tỉnh, thành phố đại diện.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, tổng kết thực tiễn áp dụng các quy định từ Điều 134 đến Điều 140 Bộ luật hình sự năm 2015 sau khi có hiệu lực thi hành; nghiên cứu sâu hơn về quy chuẩn giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và việc xử lý các phương thức phạm tội mới phát sinh trong thực tế.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan tiến hành tố tụng: Cung cấp cơ sở khoa học cho việc rà soát, sửa đổi quy định pháp luật hình sự; hỗ trợ Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trong việc ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất các tội xâm phạm sức khỏe.
- Đối với cán bộ tư pháp thực tiễn: Là tài liệu tham khảo cho Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Luật sư nhằm nhận diện đúng cấu thành tội phạm, tránh 9 dạng sai lầm phổ biến khi định tội danh và lượng hình.
- Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu: Phục vụ hoạt động giảng dạy, học tập của giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự tại các cơ sở đào tạo luật.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án nghiên cứu những tội danh cụ thể nào trong luật hình sự Việt Nam?
Luận án tập trung nghiên cứu 7 tội danh xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của con người quy định tại các Điều từ 104 đến 110 thuộc Chương XII Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi năm 2009), tương ứng với các Điều từ 134 đến 140 thuộc Chương XIV Bộ luật hình sự năm 2015, bao gồm:
- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh;
- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;
- Tội từ chối chữa bệnh hoặc trốn tránh trách nhiệm chữa bệnh;
- Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
- Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính;
- Tội hành hạ người khác.
2. Tình hình xét xử các tội xâm phạm sức khỏe giai đoạn 2007 - 2016 có đặc điểm gì nổi bật?
Theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao được luận án trích xuất, trung bình mỗi năm giai đoạn 2007 - 2016 có trên 6.000 vụ án và gần 10.000 bị cáo bị xét xử về các tội xâm phạm sức khỏe. Trong đó, Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104 BLHS 1999) luôn chiếm tỷ lệ cao nhất và áp đảo toàn bộ nhóm tội (ví dụ: năm 2016, trong tổng số 6.947 bị cáo của cả nhóm tội được thụ lý giải quyết, riêng tội này đã chiếm 6.098 vụ án).
3. Thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân các cấp bộc lộ những dạng sai lầm, vi phạm phổ biến nào?
Luận án tổng kết 9 dạng sai lầm, vi phạm chính trong thực tiễn áp dụng luật hình sự đối với nhóm tội này:
- Định sai tội danh;
- Áp dụng sai tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ định khung hình phạt;
- Áp dụng sai tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự;
- Quyết định hình phạt chưa chính xác, thiếu tương xứng;
- Vi phạm quy định về hiệu lực áp dụng pháp luật;
- Tuyên không phạm tội không đúng căn cứ;
- Bị cáo thực tế không phạm tội;
- Áp dụng sai quy định đối với người chưa thành niên;
- Áp dụng không đúng quy định về chuyển khung hình phạt nhẹ hơn theo Điều 47 BLHS năm 1999.
4. Bộ luật hình sự năm 2015 có những điểm mới căn bản nào đối với nhóm tội này được luận án phân tích?
Bộ luật hình sự năm 2015 (các Điều 134 - 140) đã sửa đổi, bổ sung các điểm mới chính:
- Thay cụm từ "tỷ lệ thương tật" bằng "tỷ lệ tổn thương cơ thể";
- Bổ sung tình tiết định khung tăng nặng: "Dùng a-xít sunfuric ($H_2SO_4$) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác";
- Chuyển hóa các dấu hiệu định tính thành các tiêu chí định lượng cụ thể;
- Sửa đổi khung hình phạt chính và hình phạt bổ sung;
- Bổ sung quy định xử lý hành vi chuẩn bị phạm tội đối với tội cố ý gây thương tích.
5. Luận án đã sử dụng những nguồn dữ liệu thực tế nào để phục vụ đánh giá?
Luận án sử dụng dữ liệu thống kê tư pháp 10 năm (2007 - 2016) của Tòa án nhân dân tối cao; phân tích hồ sơ 244 bản án hình sự sơ thẩm và 315 bản án hình sự phúc thẩm; cùng kết quả xử lý 202 phiếu khảo sát chuyên gia là cán bộ, Thẩm phán công tác tại Tòa án nhân dân hai cấp thuộc 04 địa phương: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Đắk Lắk.
Kết luận
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Duy Hữu là công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác theo luật hình sự Việt Nam. Luận án đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận quốc tế, tiến trình lịch sử và kinh nghiệm luật pháp nước ngoài, đồng thời phản ánh khách quan bức tranh thực tiễn xét xử giai đoạn 2007 - 2016 của Tòa án nhân dân các cấp. Qua việc nhận diện 9 dạng sai lầm phổ biến trong xét xử, công trình đã đề xuất các giải pháp lập pháp đối với Bộ luật hình sự năm 2015 và các biện pháp nghiệp vụ thực tiễn có giá trị ứng dụng cao. Kết quả nghiên cứu đóng góp nguồn tư liệu khoa học thiết thực phục vụ công tác lập pháp, hoạt động tư pháp và đào tạo luật học chuyên ngành hình sự tại Việt Nam.