Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI SẢN XUẤT, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, BUÔN BÁN HÀNG CẤM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Những khái niệm có liên quan 1. Khái niệm hàng cấm Trong kinh tế chính trị Marx-Lenin, hàng hóa đƣợc định nghĩa là “sản phẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán”. Hàng hóa có thể là hữu hình nhƣ sắt thép, quyển sách hay ở dạng vô hình nhƣ sức lao động.
Karl Marx định nghĩa hàng hóa trƣớc hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thỏa mãn nhu cầu con ngƣời nhờ vào các tính chất của nó. Từ khi đất nƣớc chúng ta Đổi Mới mở cửa giao lƣu, buôn bán và tiến hành công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trƣờng hàng hóa càng trở nên đa dang, phong phú hơn rất nhiều. Các loại hàng hóa trong kinh doanh xuất phát từ nhu cầu thực tế, sự phát triển kinh tế và sự vận động tự nhiên của quy luật thị trƣờng. Nắm bắt đƣợc những yếu tố “cung” – “cầu” đó mà rất nhiều loại hàng hóa mới đƣợc ra đời, để đáp ứng mọi nhu cầu của con ngƣời.Từ đó, việc quản lý hàng hòa trở nên phức tạp hơn cũng nhƣ khó khăn hơn bởi sự xuất hiện ngày càng nhiều những hàng hóa gây tác động tiêu cự, nguy hiểm tới tới con ngƣời, môi trƣờng và xã hội.
Trong thực tiễn hiện nay bên cạnh các hoạt động kinh doanh hợp pháp, các hoạt động kinh doanh bất hợp pháp vẫn diễn ra và ngày càng có chiều hƣớng gia tăng, do sức ép của nền kinh tế thị trƣờng cũng nhƣ sự yếu kém trong quản lý kinh tế của Nhà nƣớc. Từ sự phát triền mạnh mẽ của tự do thƣơng mại, tự do buôn bán mà Nhà nƣớc ta đã thống nhất quản lý một số hàng hóa có tính chất đặc biệt nhƣ vậy. Những hàng hóa đó có những đặc tính 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com riêng, có những dấu hiệu đặc biệt cần phải hạn chế sản xuất, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển và phải đƣợc quản lý bởi Nhà nƣớc. Pháp luật quy định những loại hàng hóa nào mà quá trình lƣu thông hoặc sử dụng có thể gây nguy hại an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, truyền thống văn hóa, môi trƣờng và sức khỏe nhân dân thì không đƣợc kinh doanh, chỉ có Nhà nƣớc mới độc quyền quản lý loại hàng hóa đó.
Hàng hóa này đƣợc liệt kê trong danh mục cấm cá nhân, tổ chức tự do buôn bán và đƣợc gọi ngắn gọn là “hàng cấm”. Tìm hiểu về hàng cấm trong một số văn bản có liên quan thì theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt có nhắc tới hàng cấm trong giải thích: “buôn lậu là buôn bán trốn thuế hoặc hàng cấm” [50], Từ điển Bách khoa CAND thì “hàng cấm” đƣợc hiểu là những loại hàng hóa mà Nhà nƣớc cấm buôn bán kinh doanh. Tuy nhiên về pháp luật hình sự thì căn cứ vào tình hình cụ thể mà Nhà nƣớc quyết định công bố danh mục hàng hóa cấm kinh doanh, buôn bán khác nhau mà chƣa đƣa ra khái niệm cụ thể hàng cấm. Cho đến năm 1985, Bộ luật Hình sự nƣớc ta lần đầu tiên đƣợc ban hành ngày 27/6/1985 đã pháp điển hóa các văn bản pháp luật để đáp ứng yêu cầu thực tiễn của cuộc đấu tranh chống tội phạm.
Sự ra đời của Bộ luật Hình sự là một bƣớc tiến quan trọng trong hoạt động lập pháp của Nhà nƣớc ta. Bộ luật Hình sự đã góp phần nhận diện đúng bản chất, phân định rõ ranh giới giữa tội buôn lậu, tội buôn bán, vẩn chuyển hàng cấm, tạo điều kiện phát hiện, phòng ngừa và đấu tranh đúng hƣớng, đúng đối tƣợng, có hiệu quả đối với tội phạm về hàng cấm. Sau đó BLHS năm 1999 có nhắc tới hàng cấm đầy đủ với tội phạm sản xuất, vận chuyển, tàng trữ buôn bán hàng cấm nhƣ sau: “Người nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh có số lượng lớn, thu lợi bất chính lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi” [33, Điều 155], cắt nghĩa quy đinh thì hàng cấm đƣợc tạm hiểu là 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh có số lượng lớn, thu lợi bất chính lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính”. Nghị định 185/2013/NĐCP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong hoạt động thƣơng mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng, có nêu: "Hàng cấm gồm hàng hóa cấm kinh doanh; hàng hóa cấm lưu hành, sử dụng; hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng ở Việt Nam" [13].
Tuy nhiên những quy định kia cũng chƣa đi vào chi tiết và vẫn còn chung chung thiếu cụ thể. Theo những gì đã tìm hiểu và phân tích, tổng hợp lại bản thân nhận thức hàng cấm cần đƣợc hiểu nhƣ sau: Hàng cấm là những hàng hóa Nhà nước thống nhất quản lý, không ai được phép sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán. Khái niệm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm là hành vi làm ra, cất giữ, chuyển dịch, mua bán hàng hoá mà Nhà nƣớc cấm kinh doanh. Sản xuất hàng cấm là hành vi làm ra hàng hóa Nhà nƣớc cấm kinh doanh với nhiều hình thức khác nhau bao gồm: việc làm mới hoàn toàn; lắp ráp từ những bộ phận của hàng hóa theo tính năng tác dụng của hàng hóa đó, chế tạo, nhân giống, sao chép… Ngƣời sản xuất có thể tham gia vào cả quá trình làm ra hàng cấm hoặc chỉ tham gia vào một công đoạn của quá trình làm ra hàng cấm.
Tàng trữ hàng cấm là hành vi cất giữ hàng cấm ở bất kỳ chỗ nào một cách trái phép. Nơi tàng trữ có thể là nơi ở, nơi làm việc, mang theo trong ngƣời, trong hành lý hoặc cách giấu bất kỳ một vị trí nào khác mà ngƣời tàng trữ đã chọn, không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất ra hàng cấm khác hoặc vận chuyển từ này đến nơi khác. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có ý nghĩa đối với việc truy cứu trách nhiệm pháp lý. Nếu tàng trữ hàng cấm cho ngƣời mà khác biết rõ ngƣời này buôn bán hàng cấm thì hành vi cất giữ hàng cấm không phải là hành vi tàng trữ mà là hành vi giúp sức ngƣời buôn bán hàng cấm và bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôn bán hàng cấm với vai trò đồng phạm.
Tuy nhiên, hành vi buôn bán, vận chuyển đã đƣợc quy định trong cùng một điều luật nên việc xác định chính xác hành vi tàng trữ, hành vi vận chuyển hay hành vi buôn bán chỉ có ý nghĩa trong việc định tội theo hành vi (một hoặc một số hành vi hay định tội theo hành vi đầy đủ), nếu cùng một loại hàng cấm. Khi xác định hành vi tàng trữ hàng cấm, cần phân biệt với hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có. Nếu tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có là hàng cấm, ngƣời đó chứa chấp thì hành vi chứa chấp sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ hàng cấm hoặc hành vi tiêu thụ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôn bán hàng cấm. Vận chuyển hàng cấm là hành vi đƣa hàng cấm từ nơi này đến nơi khác một cách trái phép.
Hình thức vận chuyển có thể là trực tiếp mang hoặc gửi hàng cấm từ địa điểm này đến địa điểm khác bằng bất cứ đƣờng nào (đƣờng bộ, đƣờng thủy, đƣờng sắt, đƣờng hàng không, đƣờng bƣu điện) bằng bất kỳ phƣơng thức nào (trừ hình thức chiếm đoạt), nhƣng đều không nhằm mục đích buôn bán, tàng trữ. Tuy nhiên nếu vận chuyển hàng cấm qua biên giới thì thuộc trƣờng hợp quy định tại Điều 154 Bộ luật Hình sự 1999. Nếu vận chuyển hàng cấm hộ cho ngƣời khác mà biết rõ mục đích buôn bán hàng cấm của ngƣời mà mình nhận vận chuyển hộ thì ngƣời có hành vi vận chuyển sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôn bán hàng cấm với vai trò giúp sức. Buôn bán hàng cấm là hành vi mua đi bán lại hàng cấm dƣới bất kỳ hình thức nào nhƣ mua bán thông thƣờng, đổi, thanh toán công nợ bằng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hàng cấm để kiếm lời.
Không đòi hỏi phải có đầy đủ cả hai hành vi mua và bán hàng cấm mà chỉ cần có một trong hai hành vi đó ngƣời thực hiện hành vi mua, bán cũng phải bị truy cứu trách nhiệm pháp lý về tội buôn bán hàng cấm. Nhƣ vậy sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm là một trong những hoạt động kinh doanh bất hợp pháp và là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, đặc biệt xâm hại đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, ảnh hướng tới sự ổn định và phát triển của nền kinh tế quốc dân. Nguyên nhân cũng do việc sản xuất, buôn bán hàng cấm mang lại nguồn lợi kinh tế rất lớn nên nhiều ngƣời, nhiều cá nhân, tổ chức hám lợi mà bất chấp những quy định của pháp luật để thực hiện. Đó đều là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội không chỉ vi phạm luật xử lý vi phạm hành chính mà còn bị coi là tội phạm và buộc phải xử lý, áp dụng chế tài hình sự.
Tuy nhiên, pháp luật hình sự Việt Nam chỉ xem hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm là tội phạm khi hành vi đó ở mức độ nguy hiểm đáng kể cho xã hội, cụ thể nhƣ: phải thực hiện hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm với số lƣợng lớn, thu lợi bất chính lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính, hoặc bị kết án về một số hành vi xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự nhƣ trong phần nghiên cứu dƣới đây. Khái niệm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm Bƣớc vào những năm đầu thế kỷ 21, nƣớc ta đang ngày càng tiến sâu hơn vào quá trình hội nhập toàn diện với quốc tế và khu vực. Trƣớc những tác động và yêu cầu của quá trình hội nhập, đất nƣớc ta đã có những thay đổi lớn về mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó sự thay đổi trong kinh tế là lớn nhất và quan trọng nhất. Để quản lý “nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghĩa” theo đúng chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc.