Chương 1 LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH TỘI DANH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1. Khái niệm, đặc điểm, căn cứ và ý nghĩa của định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 1. Khái niệm, đặc điểm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 1. Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Khái niệm pháp lý về tội phạm được nhà làm luật ghi nhận trong Điều 8, BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là BLHS năm 2015).
Trong BLHS năm 2015, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc chương XVI nhóm các tội xâm phạm sở hữu, “là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân” [17, tr4]; Trên cơ sở tiếp thu quan điểm của một số tác giả về khái niệm lừa đảo chiếm đoạt tài sản như: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối” [27, tr. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó [10, tr. Tác giả đưa ra khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối, do người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác. Đặc điểm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 8 luan an Đặc điểm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thể hiện thông qua 04 yếu tố cấu thành tội phạm sau đây: - Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt.
Do vậy, tội này có đặc điểm chung của các tội phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nhằm là xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác đó là ba quyền năng là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản. Tài sản là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt tài sản phải còn nằm trong sự quản lý của chủ sở hữu, phải có chủ sở hữu cụ thể với các quyết định có tính chất pháp lý thể hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản, tài sản này phải được Nhà nước cho lưu hành và có thể chuyển dịch được giữa các chủ sở hữu và cùng được thực hiện bằng hành động. - Khác với tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt khác thì đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối. Đó là việc người phạm tôi cố ý chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản đang thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác thành tài sản của mình bằng việc đưa ra các thủ đoạn gian dối như: đưa ra thông tin giả, không đúng với sự thật hoặc thực hiện các hành vi cụ thể, làm cho người bị lừa dối tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội.
Việc đưa ra thông tin giả có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động, bằng hình ảnh…hoặc kết hợp bằng nhiều cách thức khác nhau. - Thủ đoạn gian dối của người phạm tội phải có trước hành vi chiếm đoạt và là nguyên nhân trực tiếp khiến người bị hại tin là thật mà giao tài sản cho người phạm tội, nếu thủ đoạn gian dối có sau khi người phạm tội nhận được tài sản thì không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy trường hợp cụ thể, thủ đoạn gian dối đó có thể là hành vi che giấu tội phạm hoặc là hành vi phạm tội khác như lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. 9 luan an - Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian đối của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước thiệt hại về tài sản do hành vi của mình gây ra cho người khác và mong muốn hậu quả đó xảy ra. Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản, bao giờ cũng có trước khi thực hiện thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản - Thực tiễn xét xử còn nhiều trường hợp cũng có hành vi là thủ đoạn gian dối, cũng có hành vi chiếm đoạt, nhưng vì hành này đã được Bộ luật hình sự quy định thành tội phạm độc lập thì cũng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà bị truy cứu về tội phạm tương ứng khác như: Hành vi làm vé bóng đá giả đem bán lấy tiền là hành vi phạm tội làm vé giả quy định tại Điều 202 BLHS năm 2015; hành vi gian dối trong việc cân, đong, đo, đếm, tính gian, đánh tráo loại hàng.
để gây thiệt hại cho khách hàng là hành vi phạm tội lừa dối khách hàng quy định tại Điều 198 BLHS năm 2015; v. - Thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc người phạm tội đã chiếm giữ được tài sản (từ 2.000 đồng trở lên, hoặc dưới 2.000 đồng nhưng kèm theo một trong các dấu hiệu quy định tại điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 174 BLHS): Chủ thể đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; chủ thể đã bị kết án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của BLHS năm 2015, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ. Khái niệm định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Định tội danh là hoạt động phức tạp, là vấn đề cơ bản và quan trọng nhất được tiến hành ở tất cả các giai đoạn tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố 10 luan an cho đến giai đoạn xét xử. Đây là một thuật ngữ được nghiên cứu dưới góc độ khoa học pháp lý với nhiều quan điểm khác nhau được đưa ra: Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng PLHS, cũng như pháp luật TTHS và được tiến hành bằng cách, trên cơ sở các chứng cứ các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để đối chiếu, so sánh và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng do luật hình sự quy định [7; tr 33].
Dương Tuyết Miên có quan điểm: Định tội danh là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một người có phạm tội không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều luật nào của BLHS hay nói cách khác đấy là quá trình xác định tên gọi cho hành vi nguy hiểm đã thực hiện [14; tr 9]. Về cơ bản các quan điểm trên đều có những nhân tố hợp lý. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, để xây dựng khái niệm định tội danh một cách toàn diện cần phản ánh được bốn yếu tố quan trọng của hoạt động định tội danh là yếu tố chủ thể, yếu tố nhận thức (đánh giá, phân tích hành vi phạm tội); yếu tố về so sánh, đối chiếu kết quả nhận thức đó với quy định của pháp luật hình sự; và đưa ra được kết luận về hành vi được thực hiện. Tiếp thu các quan điểm khoa học trên, tác giả có quan điểm như sau: Định tội danh là một hoạt động nhận thức lý luận, hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, cũng như pháp luật tố tụng hình sự, do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành bằng cách phân tích, so sánh, kiểm tra, đối chiếu các tình tiết thực tế của hành vi nguy hiểm được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng do luật hình sự quy định, từ đó xác định và đưa ra kết luận hành vi đó có phải là tội phạm hay không, nếu là 11 luan an tội phạm thì tội phạm đó là gì và được quy định trong điểm, khoản, điều nào của Bộ luật Hình sự.
Tác giả đưa ra khái niệm định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một hoạt động nhận thức lý luận, hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, cũng như pháp luật tố tụng hình sự, do các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành bằng cách phân tích, so sánh, kiểm tra, đối chiếu các tình tiết thực tế của hành vi nguy hiểm được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định Điều 174 BLHS năm 2015, từ đó xác định và đưa ra kết luận hành vi đó có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không, nếu có thì được quy định tại điểm, khoản nào của Điều 174 BLHS năm 2015. Đặc điểm của định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Từ định nghĩa trên, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành có thể rút ra các đặc điểm của định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: Thứ nhất, định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một hoạt động nhận thức lý luận. Trong đó, chủ thể tiến hành các hoạt động có tính logic như tiến hành phân tích, so sánh, kiểm tra, đối chiếu, các tình tiết thực tế của hành vi nguy hiểm được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tại Điều 174 BLHS để tìm ra điểm tương đồng, trên cơ sở đó kết luận hành vi có phải tội phạm hay không, là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay tội phạm khác. Thứ hai, định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một hình thức hoạt động thực tiễn pháp lý.