Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN GÂY ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI NGƯỜI KHÁC ĐỂ TRỤC LỢI 1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN GÂY ẢNH HƢỞNG ĐỐI VỚI NGƢỜI KHÁC ĐỂ TRỤC LỢI 1. Giai đoạn trong thời kỳ phong kiến (trước năm 1945) Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hƣởng đối với ngƣời khác để trục lợi trong giai đoạn này chƣa đƣợc quy định cụ thể mà thể hiện trong các quy định liên quan đến các tội về tham nhũng. Các tội phạm về tham nhũng trong giai đoạn này phát triển mạnh và mang tính phổ biến.
Chính quyền Nhà nƣớc phong kiến Việt Nam đã đề ra nhiều biện pháp để chống lại tội phạm này, nhiều văn bản pháp luật quan trọng đƣợc ban hành nhƣ: Bộ luật hình thƣ (Nhà Lý), Bộ luật Gia Long (Nhà Nguyễn), Bộ Quốc triều thông lễ (Nhà Trần), Bộ quốc triều hình luật (Nhà Lê). Trong tất cả các văn bản pháp luật nêu trên đã ghi nhận hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội của những ngƣời có chức vụ, quyền hạn trong xã hội. Theo sử sách ghi lại thì tính trừng trị đối với các tội phạm về tham nhũng cũng nhƣ tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hƣởng đối với ngƣời khác để trục lợi trong thời Nhà Lý còn quá nhẹ. Pháp luật Nhà Lý chủ yếu bảo vệ quyền lợi Nhà nƣớc Trung ƣơng tập quyền và của tầng lớp quý tộc, củng cố đẳng cấp, bảo vệ chế độ tƣ hữu, do đó Nhà Lý quy định các biện pháp trừng trị rất nhẹ, hầu hết các tội phạm này đều có thể đƣợc chuộc bằng tiền.
Đáng ghi nhận và nổi bật là các quy định về đấu tranh với các tội phạm về tham nhũng, bảo vệ quyền tƣ hữu trong Bộ Quốc triều hình luật (Nhà Lê). Nghiên cứu toàn bộ Bộ luật chỉ ra trong số 722 điều với 13 chƣơng chia làm 6 quyển, các tội phạm về tham nhũng đƣợc chia làm ba nhóm [39, tr. 30]: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhóm thứ nhất, các tội phạm liên quan đến nhận hối lộ để chiếm đoạt tiền, tài sản của nhân dân. Ví dụ: nhận hối lộ trong việc tuyển Đinh, Tráng vào trong Quân đội (Điều 170) … Nhóm thứ hai, các tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản là ruộng đất, thuế khóa hoặc chiếm đoạt tài sản của nhân dân.
Ví dụ: Điều 206 quy định: “Những quan thu thuế không theo ngạch đã thu lại dấu bớt số thuế cũng coi như tội dấu đồ vật công, nếu thu thêm thuế để làm của riêng thì tội cũng thế v. Nhóm thứ ba, là lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt dân đinh hoặc sử dụng sức lao động của dân đinh làm việc cho mình trái pháp luật. Ví dụ: Điều 166 quy định: “Các quan Quản giám tự tiện đem dân đinh nói dối là quân lính hay quan khách để dấu giếm làm việc riêng trong nhà thì phải biếm hai tư và bãi chức" v.v… Đối chiếu các quy định này trong nhóm các tội phạm về tham nhũng thì tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hƣởng đối với ngƣời khác để trục lợi có nhiều dấu hiệu giống với nhóm thứ hai về các tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản là ruộng đất, thuế khóa hoặc chiếm đoạt tài sản của nhân dân và nhóm thứ ba về các tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt dân đinh hoặc sử dụng sức lao động của dân đinh làm việc cho mình trái pháp luật. Vì suy cho cùng đều có hành vi “lợi dụng chức vụ, quyền hạn” để nhằm mục đích cuối cùng là “chiếm đoạt tài sản”.
Nhƣ vậy, nhìn chung các quy đinh về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hƣởng đối với ngƣời khác để trục lợi chƣa đƣợc quy định cụ thể trong Bộ Quốc triều hình luật của Nhà Lê. Nhƣng những quy định có nhiều dấu hiệu đặc trƣng của tội này đã có vai trò quan trọng trong việc phòng, chống các tội phạm về tham nhũng ở xã hội đƣơng đại và là cơ sở cho việc xây dựng các văn bản pháp luật nói chung và các văn bản PLHS nói riêng về phòng, chống các tội phạm về tham nhũng sau này. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bộ Quốc triều hình luật gồm 13 chƣơng chia làm 6 quyển, trong đó có 78 điều luật có quy định các hành vi liên quan đến tham nhũng nhƣ: Tội đem bán các vật dụng trong cung cấm (Điều 203); Tội chiếm ruộng đất công quá hạn (Điều 140); Quan lại tự tiện lấy của công làm của riêng (Điều 639) v.v… Về hình phạt, Bộ Quốc triều hình luật đã đặt ra hình phạt khá nghiêm khắc đối với các tội về tham nhũng. Điều 38 quy định về “quan lại ăn hối lộ” ghi rằng: Quan Ty làm pháp luật mà ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan tiền thì xử tội biếm hay bãi chức, từ 10 đến 19 quan thì xử tội đồ hay tội lƣu, từ 20 quan trở lên thì xử tội chém … Những Công thần, Quý thần đƣợc dự vào hàng bát nghị mà ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan thì xử phạt tiền 50 quan, từ 10 đến 19 quan thì xử phạt tiền từ 60 đến 100 quan, từ 20 quan trở lên thì bị xử đồ, những tiền ăn hối lộ bị phạt gấp đôi và đƣợc nộp vào kho [68].
Từ đầu Thế kỷ XVII đến Thế kỷ XVIII, triều Lê mất dần vai trò lịch sử của mình, đất nƣớc bƣớc vào thời kỳ hỗn loạn, các tập đoàn phong kiến tranh giành quyền lực lẫn nhau. Xung đột khốc liệt Trịnh – Nguyễn đã đƣa đến cuộc khởi nghĩa Tây Sơn do Nguyễn Huệ lãnh đạo đã thống nhất đất nƣớc, lập lên Triều đại Tây Sơn. Bộ Quốc triều hình luật vẫn đƣợc sử dụng trong thời kỳ này nhƣ một Bộ luật chính thống. Về mặt nội dung, ngoài việc bổ sung một số quy định trong lĩnh vực kinh tế - tài chính, các nội dung khác và phần hình luật vẫn giữ nguyên, các hành vi lợi dụng (lạm dụng) chức vụ, quyền hạn để phạm tội vẫn bị xử lý theo các điều luật tƣơng ứng trong Bộ Quốc triều hình luật.
Sau đó, Bộ luật Gia Long của Nhà Nguyễn cũng quy định tội phạm về tham nhũng tƣơng tự nhƣ hệ thống các nguyên tắc trừng trị cơ bản nhƣ Bộ Quốc triều hình luật của Nhà Lê. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhƣ vậy, trong xã hội phong kiến Việt Nam, tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hƣởng đối với ngƣời khác để trục lợi chƣa đƣợc quy định cụ thể, rõ ràng. Tuy nhiên những quy định của một số nhóm tội liên quan đến các tội phạm về tham nhũng phần nào cũng đã thể hiện đƣợc tinh thần theo Điều 283 BLHS hiện hành. Việc đấu tranh phòng, chống các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội là một yêu cầu để bảo vệ chế độ và bộ máy Nhà nƣớc phong kiến đƣơng thời.
Tuy nhiên, nhìn dƣới góc độ phát triển chung của pháp luật thì các quy định về nhóm các tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản trong thời kỳ này còn có những hạn chế nhất định, bởi ở thời kỳ này, pháp luật chủ yếu bảo vệ chế độ đặc quyền, đặc lợi của giai cấp địa chủ phong kiến – giai cấp thống trị xã hội. Giai đoạn từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 Ngay sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mặc dù Nhà nƣớc dân chủ nhân dân mới ra đời, phải giải quyết rất nhiều công việc về đối nội cũng nhƣ đối ngoại của đất nƣớc, chống thù trong, giặc ngoài, nhƣng nhận thức rõ muốn xây dựng đƣợc chính quyền trong sạch, vững mạnh và củng cố nền độc lập vừa giành đƣợc, thì phải chú trọng việc bảo vệ tài sản XHCN, phòng ngừa trộm cắp, cƣớp đoạt tài sản của nhân dân. Vì vậy, Đảng và Nhà nƣớc ta đã ban hành rất nhiều văn bản để bảo vệ tài sản Nhà nƣớc và tài sản của nhân dân, bảo vệ hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức, ngăn ngừa những vi phạm pháp luật của những cán bộ, Đảng viên, những ngƣời là “công bộc, đầy tớ của nhân dân”. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hƣởng đối với ngƣời khác để trục lợi trong giai đoạn này vẫn chƣa đƣợc quy định một cách cụ thể.
Tuy nhiên, có thể kể đến một số các văn bản điển hình và quan trọng có quy định liên quan đến tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hƣởng đối với ngƣời khác để trục lợi nhƣ sau: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Sắc lệnh số 223/SL, ngày 27/11/1946 về trừng trị các tội hối lộ, phù lạm, biển thủ công quỹ. Theo đó, chủ thể của các tội phạm này không những là công chức và “còn gồm nhân viên Chính phủ, trong Ủy ban hành chính các cấp, các cơ quan do nhân dân bầu lên, trong bộ đội và tất cả những ngƣời phụ trách một công vụ”. Ngoài tội hối lộ, Sắc lệnh còn quy định việc trừng trị những ngƣời có hành vi “phù lạm, biển thủ công quỹ”. Thực chất đây là những biểu hiện cụ thể của tội tham ô.
Các hình phạt đƣợc áp dụng rất nghiêm khắc, thể hiện sự đấu tranh không khoan nhƣợng của nhà nƣớc ta với tội phạm này. - Sắc lệnh số 200/SL, ngày 07/8/1946 về trƣng tập công chức có quy định tội đào nhiệm. Sắc lệnh ban hành có mục đích nhằm nâng cao kỷ luật công chức và bảo đảm cho các cơ quan Nhà nƣớc trong điều kiện khó khăn đƣợc hoạt động bình thƣờng. - Sắc lệnh 267/SL, ngày 15/6/1946 quy định trừng trị những âm mƣu và hoạt động phá hoại tài sản của Nhà nƣớc, của hợp tác xã và của nhân dân làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch của Nhà nƣớc.
Sắc lệnh này ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chính sách, kế hoạch Nhà nƣớc, tạo khả năng pháp lý cho việc xử lý các hoạt động phạm tội, xâm phạm lợi ích của Nhà nƣớc hoặc của công dân, nâng cao trách nhiệm và kỷ luật công chức. - Pháp lệnh Trừng trị các tội phạm xâm phạm tài sản XHCN và Pháp lệnh Trừng trị các tội phạm xâm phạm tài sản riêng của công dân đƣợc ban hành ngày 21/10/1970. Hai Pháp lệnh này đƣợc ban hành nhằm bảo vệ cơ sở vật chất XHCN và tạo cơ sở pháp lý cho công tác phòng, chống tội phạm.