Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG 1. Khái niệm tội gây rối trật tự công cộng Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009), các nhà làm luật nước ta đã ghi nhận khái niệm tội phạm như sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng,sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [33, Điều 8]. Khái niệm tội phạm cụ thể - Tội gây rối trật tự công cộng, là sự cụ thể hóa khái niệm tội phạm (chung), hiện nay trong khoa học luật hình sự Việt Nam còn nhiều quan điểm khác nhau, mà dưới đây chúng ta sẽ lần lượt xem xét. Có tác giả cho rằng: "Tội gây rối trật tự công cộng xâm hại đến trật tự chung, vi phạm quy tắc, nếp sống văn minh cũng như cản trở hoạt động bình thường của những người khác nơi công cộng" [57, tr.
quan điểm này có ưu điểm là đã nêu bật được khách thể của tội phạm xâm phạm đến, nhưng vẫn chưa nêu cụ thể hành vi phạm tội và dấu hiệu chủ thể của tội phạm này. Quan điểm lại cho rằng: "Gây rối trật tự công cộng là hành vi làm náo loạn trật tự nơi công cộng" [29, tr. Quan điểm này mới chỉ nêu định nghĩa hành vi gây rối trật tự công cộng chứ chưa làm rõ khái niệm tội gây rối 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trật tự công cộng, hơn nữa, hành vi phạm tội khác tội phạm, vì khái niệm tội phạm đòi hỏi phải đầy đủ như khái niệm trong Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1999 hiện hành. Trên cơ sở quy định của Bộ luật Hình sự và những điểm hợp lý của các quan điểm trên, dưới góc độ khoa học luật hình sự, rút ra khái niệm tội gây rối trật tự công cộng như sau: Tội gây rối trật tự công cộng là hành vi hò hét, làm náo động, phá phách, hành hung người khác hoặc có hành vi khác làm rối loạn các hoạt động ở những nơi công cộng, gây thiệt hại cho trật tự an toàn công cộng do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện, gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Từ khái niệm nêu trên, có thể chỉ ra các đặc điểm cơ bản của tội gây rối trật tự công cộng như sau: Một là, tội gây rối trật tự công cộng nằm trong nhóm tội xâm phạm trật tự công cộng, do đó, xâm phạm đến trật tự công cộng. An toàn công cộng, trật tự công cộng là những lĩnh vực gắn bó mật thiết với nhau. Theo đó, các lĩnh vực an toàn công cộng, trật tự công cộng gắn liền với việc bảo đảm các lợi ích vật chất,tinh thần của toàn xã hội cũng như của mỗi người với tư cách là từng thành viên sống trong xã hội và là một trong những tiêu chí để đánh giá sự ổn định, phát triển và văn minh, dân chủ của một quốc gia. Do đó, để có an toàn, trật tự công cộng - một trạng thái xã hội lành mạnh, ổn định, có tổ chức, có kỷ luật đòi hỏi Nhà nước, các cơ quan, tổ chức và mỗi thành viên trong xã hội phải có trách nhiệm xây dựng, thực hiện và bảo vệ các quy tắc của trật tự sinh hoạt chung trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Đi ngược lại điều này là xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Hai là, tội gây rối trật tự công cộng là hành vi hò hét, làm náo động, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phá phách, hành hung người khác hoặc có hành vi khác làm rối loạn các hoạt động ở những nơi công cộng, gây thiệt hại cho trật tự an toàn công cộng, gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Ba là, tội gây rối trật tự công cộng do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi với hình thức cố ý trực tiếp. Người thực hiện tội gây rối trật tự công cộng không có mục đích chống chính quyền nhân dân mà mục đích là gây áp lực với chính quyền để thỏa mãn yêu cầu của mình.
Tội gây rối trật tự công cộng xâm phạm trực tiếp đến những quy tắc, luật lệ, điều lệ, nội quy.về trật tự công cộng, vi phạm nếp sống văn minh, quy tắc cuộc sống, gây ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của mọi người ở nơi công cộng. Ngoài ra, tội gây rối trật tự công cộng còn gây khó khăn, trở ngại cho hoạt động của những người trong cơ quan nhà nước và xã hội làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự công cộng. Tội gây rối trật tự công cộng thể hiện bằng hành vi gây rối trật tự công cộng được mô tả trong điều luật là hành vi của một người có lời nói, cử chỉ tiếp xúc với người khác ở nơi công cộng với thái độ tỏ ra coi thường trật tự xã hội chung, gây mất trật tự hoặc là những hành vi càn quấy, hành hung người khác nhưng chưa gây thương tích, gây lộn xộn, náo loạn ở nơi công cộng như: rạp hát, vườn hoa, nhà ga, bến tàu, công viên, quảng trường; v. Nơi công cộng là những chỗ tập trung đông người như rạp hát, rạp chiếu bóng, nhà văn hóa, câu lạc bộ, nơi biểu diễn nghệ thuật, nơi tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, trụ sở cơ quan, xí nghiệp, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, hợp tác xã, khu dân cư, trường học, bệnh viện, nhà ga, bến tàu, bến xe, trên các phương tiện giao thông, trên đường phố, ở khu vực cửa khẩu, cảng hoặc ở nơi công cộng khác có những quy tắc thành văn hoặc bất thành văn mà buộc mọi 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người có mặt phải có văn hóa ứng xử và chấp hành, tôn trọng người khác.
Người phạm tội thực hiện hành vi gây rối bằng nhiều phương thức khác nhau như: Tập trung đông người ở nơi công cộng gây náo động làm mất trật tự công cộng; đuổi đánh nhau, hò hét gây náo động ở nơi công cộng; đập phá các công trình ở nơi công cộng, đập phá các tài sản trong các quán ăn, quán giải khát có đông người.v… Hậu quả của hành vi gây rối trật tự công cộng là thiệt hại vật chất và phi vật chất được xác định là nghiêm trọng cho xã hội. Hậu quả vừa là dấu hiệu bắt buộc, vừa không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, là dấu hiệu bắt buộc nếu người phạm tội chưa bị xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng hoặc chưa bị kết án về tội này hoặc tuy đã bị kết án về tội này nhưng đã được xoá án tích. Không phải là dấu hiệu bắt buộc nếu người phạm tội đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm. Ngoài hành vi, hậu quả do hành vi vi phạm gây ra, nhà làm luật không quy định dấu hiệu khách quan khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này.
Chủ thể của tội phạm là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Chủ thể của tội phạm nói chung và chủ thể của tội gây rối trật tự công cộng nói riêng là con người cụ thể, đang sống - thể nhân. Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, Bộ luật Hình sự 1999 quy định: "1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; 2.
Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng" [33, Điều 12]. Trên cơ sở quy định tại Điều 245 và Điều 12 Bộ luật Hình sự cho thấy, tội gây rối trật tự công cộng - khoản 1 là tội phạm ít nghiêm trọng, khoản 2 là tội phạm nghiêm trọng, do đó, chủ thể của tội phạm này là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự. Tội phạm này được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cụ thể là: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi gây rối trật tự công cộng của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi gây rối trật tự công cộng của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với một số tội phạm khác Căn cứ vào dấu hiệu pháp lý của tội gây rối trật tự công cộng có thể phân biệt được tội phạm này với các tội phạm khác; cụ thể như sau: 1. Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội phá rối an ninh Trường hợp một người có hành vi gây rối trật tự công cộng, xâm phạm các quy định của Nhà nước về trật tự xã hội, an toàn xã hội, hoạt động bình thường, ổn định của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, nhưng có mục đích chống chính quyền nhân dân, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phá rối an ninh (Điều 89 Bộ luật Hình sự). Tội phá rối an ninh 1.