Tổng quan nghiên cứu

Thực tiễn an ninh trật tự tại tỉnh Hà Tĩnh với diện tích tự nhiên 5.990,31 km2 và quy mô dân số khoảng 1.290.000 người phân bố trên 13 đơn vị hành chính cấp huyện đang đối diện với nhiều thách thức phức tạp. Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường kéo theo nhiều mâu thuẫn xã hội gay gắt, đặc biệt là giai đoạn xảy ra sự cố môi trường biển năm 2016 khi chỉ trong 25 ngày (từ ngày 02/4/2016 đến ngày 26/4/2016) trên địa bàn đã bùng phát 25 vụ tụ tập, tuần hành đông người với quy mô từ 25 người đến 5.000 người mỗi vụ trên các tuyến giao thông huyết mạch như Quốc lộ 1A và trụ sở các cơ quan nhà nước.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là đánh giá toàn diện các quy định pháp luật hình sự về tội gây rối trật tự công cộng và thực tiễn giải quyết loại án này tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hà Tĩnh. Mục tiêu cụ thể là làm sáng tỏ bản chất pháp lý, phân hóa tội danh, khảo sát số liệu xét xử sơ thẩm trong thời gian 6 năm (từ năm 2010 đến năm 2015), từ đó tìm ra nguyên nhân của các vướng mắc trong định tội, định khung hình phạt.

Ý nghĩa của công trình nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác nhằm giảm thiểu 100% các sai sót nghiệp vụ trong khởi tố, truy tố và xét xử, đồng thời nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm trên địa bàn cơ sở.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết cấu thành tội phạm của khoa học luật hình sự Việt Nam kết hợp với lý thuyết kiểm soát xã hội đối với hành vi lệch chuẩn. Mô hình phân tích tập trung đối chiếu 4 yếu tố cấu thành cơ bản gồm khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm theo Điều 245 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Ba khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm: khái niệm trật tự công cộng, khái niệm hành vi gây rối trật tự công cộng và khái niệm hậu quả nghiêm trọng theo hướng dẫn tại Mục 5 Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP. Khung lý thuyết cũng đặt mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng và hình phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm ở cấu thành cơ bản trong sự so sánh với mức xử phạt vi phạm hành chính tối đa 5.000.000 đồng theo Nghị định số 167/2013/NĐ-CP để xác định ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được trích xuất trực tiếp từ hệ thống hồ sơ thụ lý, báo cáo tổng kết xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh và 13 Tòa án nhân dân cấp huyện trong suốt thời gian 6 năm (từ năm 2010 đến năm 2015).

Cỡ mẫu nghiên cứu được xác lập toàn diện với 100% các vụ án hình sự sơ thẩm về tội gây rối trật tự công cộng được đưa ra xét xử trong giai đoạn khảo sát, bảo đảm tính đại diện tuyệt đối cho tình hình tội phạm tại địa phương. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng nhằm loại bỏ hoàn toàn các sai số ngẫu nhiên khi phân tích cơ cấu tội phạm.

Nghiên cứu kết hợp phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp thống kê xã hội học và phương pháp so sánh luật học với Bộ luật Hình sự Liên bang Nga theo Điều 211, Bộ luật Hình sự Nhật Bản theo Điều 106 và 107, cùng Bộ luật Hình sự Trung Quốc từ Điều 289 đến Điều 293. Việc lựa chọn các phương pháp này giúp chỉ rõ những bất cập giữa quy định lý thuyết và thực tiễn thi hành án.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu thực tế tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2010 - 2015 đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, tội gây rối trật tự công cộng chiếm tỷ trọng cao, ước tính chiếm từ 35% đến 48% trong tổng số các vụ án thuộc nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng và trật tự công cộng được xét xử sơ thẩm tại địa bàn tỉnh.

Thứ hai, tính chất đồng phạm ngày càng phức tạp khi có hơn 65% số vụ án có từ 3 bị cáo trở lên cùng tham gia, trong đó nhiều vụ việc các đối tượng sử dụng hung khí thô sơ để đập phá tài sản hoặc phong tỏa các trục đường giao thông lớn.

Thứ ba, cơ cấu áp dụng hình phạt còn nhiều điểm bất hợp lý khi hình phạt tù giam chiếm khoảng 58%, hình phạt cải tạo không giam giữ và án treo chiếm khoảng 37%, trong khi hình phạt tiền chỉ chiếm dưới 5% do mức phạt từ 1.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng tại khoản 1 Điều 245 Bộ luật Hình sự năm 1999 là quá thấp so với tính chất nguy hiểm của hành vi.

Thứ tư, có tới hơn 40% vụ án có sự đan xen phức tạp giữa hành vi gây rối với các hành vi cấu thành tội cố ý gây thương tích theo Điều 104 hoặc tội chống người thi hành công vụ theo Điều 257 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của tình trạng trên xuất phát từ sự thiếu thống nhất trong việc giải thích các tình tiết định lượng. Tiêu chuẩn cản trở ách tắc giao thông dưới 2 giờ hoặc xác định thiệt hại phi vật chất theo Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP còn thiếu công cụ đo lường khách quan tại hiện trường, dẫn đến sự lúng túng cho các cơ quan tiến hành tố tụng tại địa phương.

Khi so sánh với thực tiễn xét xử tại các tỉnh như Đồng Tháp hay Cần Thơ, các vụ án tại Hà Tĩnh thường mang tính chất bộc phát đám đông cao hơn, chịu tác động mạnh từ các biến cố kinh tế xã hội và sự kích động qua mạng xã hội.

Dữ liệu xét xử 6 năm (2010 - 2015) được mô hình hóa trực quan thông qua Bảng 2.1 thống kê số lượng vụ án và bị cáo theo từng năm, kết hợp với Biểu đồ 2.1 thể hiện đường biến thiên tỷ lệ án gây rối trật tự công cộng so với tổng số án hình sự hai cấp. Việc trình bày bảng và biểu đồ giúp nhận diện rõ sự gia tăng đột biến của loại tội phạm này qua từng chu kỳ quản lý.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm gây rối trật tự công cộng, 4 giải pháp trọng tâm cần được triển khai đồng bộ:

Thứ nhất, hoàn thiện kỹ thuật lập pháp bằng cách tách các tình tiết định khung ghép tại điểm a và điểm c khoản 2 Điều 245 Bộ luật Hình sự thành các tình tiết độc lập riêng biệt; đồng thời nâng mức phạt tiền khởi điểm từ 2.000.000 đồng lên mức từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng trong giai đoạn 2018 - 2020 nhằm bảo đảm tính phân hóa với xử phạt vi phạm hành chính, do Quốc hội chủ trì thực hiện.

Thứ hai, ban hành văn bản liên tịch giữa Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an nhằm hướng dẫn chi tiết quy trình xác định thời gian cản trở giao thông và định lượng thiệt hại phi vật chất, mục tiêu đạt 100% sự chuẩn hóa trong áp dụng pháp luật trước năm 2020.

Thứ ba, nâng cao năng lực xét xử thông qua việc Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tổ chức định kỳ 2 khóa tập huấn nghiệp vụ chuyên sâu mỗi năm cho 100% Thẩm phán và Thư ký tòa án hai cấp về kỹ năng phân biệt tội danh.

Thứ tư, tăng cường cơ chế phối hợp giữa các lực lượng công an, chính quyền địa phương và các đoàn thể nhằm kiểm soát 100% các điểm nóng phức tạp trong vòng 30 phút kể từ khi phát sinh tụ tập, kết hợp tổ chức tối thiểu 13 đợt tuyên truyền pháp luật lưu động hàng năm tại 13 huyện, thị xã trên toàn tỉnh Hà Tĩnh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Thứ nhất, Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên tại tỉnh Hà Tĩnh và các địa phương khác có thể sử dụng hệ thống tiêu chí so sánh tội danh trong luận văn làm cẩm nang nghiệp vụ khi thụ lý các vụ án đông người, giúp loại bỏ 100% nguy cơ nhầm lẫn giữa tội gây rối trật tự công cộng với tội phá rối an ninh hoặc tội chống người thi hành công vụ.

Thứ hai, các cơ quan lập pháp và cơ quan nghiên cứu xây dựng chính sách pháp luật có thể khai thác các số liệu khảo sát thực tiễn 6 năm (2010 - 2015) để tiếp tục hoàn thiện các điều luật của Bộ luật Hình sự năm 2015 và các thông tư hướng dẫn thi hành.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành luật hình sự và tố tụng hình sự có thể tham khảo nguồn tài liệu phong phú với hơn 50 văn bản trích dẫn khoa học phục vụ nghiên cứu và giảng dạy.

Thứ tư, cán bộ lãnh đạo Ủy ban nhân dân và lực lượng công an cấp xã, phường thuộc 13 đơn vị hành chính trên địa bàn tỉnh có thể áp dụng các giải pháp quản lý trật tự công cộng để xây dựng phương án giải tán đám đông và phòng ngừa tội phạm từ sớm.

Câu hỏi thường gặp

Căn cứ pháp lý nào phân biệt giữa xử phạt hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi gây rối trật tự công cộng? Hành vi gây rối chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 245 Bộ luật Hình sự năm 1999 khi gây hậu quả nghiêm trọng như thiệt hại tài sản từ 10.000.000 đồng trở lên, gây thương tật từ 31% trở lên, ách tắc giao thông dưới 2 giờ, hoặc người vi phạm đã bị xử phạt hành chính theo Nghị định số 167/2013/NĐ-CP hay đã bị kết án chưa xóa án tích.

Khi nào hành vi cản trở giao thông bị áp dụng khung hình phạt tăng nặng từ 2 năm đến 7 năm tù? Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 245 Bộ luật Hình sự năm 1999 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP, người phạm tội bị áp dụng khung hình phạt từ 2 năm đến 7 năm tù khi hành vi gây cản trở giao thông kéo dài từ 2 giờ trở lên hoặc làm ách tắc trên diện rộng tại các tuyến giao thông huyết mạch.

Tội gây rối trật tự công cộng khác tội phá rối an ninh ở điểm mấu chốt nào? Điểm khác biệt cốt lõi nằm ở mục đích phạm tội. Người phạm tội phá rối an ninh theo Điều 89 Bộ luật Hình sự năm 1999 thực hiện hành vi nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân, trong khi tội gây rối trật tự công cộng theo Điều 245 không có mục đích chống chính quyền mà chỉ nhằm gây áp lực để thỏa mãn các yêu cầu cục bộ.

Trường hợp người phạm tội vừa gây rối vừa làm hư hỏng tài sản thì bị xử lý ra sao? Nếu hành vi đập phá tài sản gây thiệt hại dưới mức cấu thành độc lập thì bị xử lý theo tình tiết định khung có hành vi phá phách tại điểm a khoản 2 Điều 245. Nếu tài sản bị thiệt hại từ 2.000.000 đồng trở lên theo Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về cả 2 tội danh độc lập.

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi mức hình phạt tiền đối với tội danh này như thế nào? Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã nâng mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trước đây lên mức từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng ở khoản 1, bảo đảm tính răn đe và phân định rõ ràng với mức xử phạt hành chính tối đa 5.000.000 đồng.

Kết luận

Công trình nghiên cứu mang lại những giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc thông qua 5 đóng góp cơ bản:

  • Hệ thống hóa toàn diện quá trình phát triển lý luận về tội gây rối trật tự công cộng trong lịch sử lập pháp Việt Nam từ sau năm 1945 đến nay.
  • Phân tích thực chứng 100% các bản án hình sự sơ thẩm trong 6 năm (2010 - 2015) tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hà Tĩnh, chỉ rõ các đặc trưng về tỷ lệ đồng phạm và phương thức thực hiện hành vi.
  • Phát hiện 4 nút thắt lớn trong kỹ thuật lập pháp và các tiêu chí định lượng hậu quả nghiêm trọng tại văn bản dưới luật.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm hoàn thiện chế tài hình phạt và quy trình phối hợp liên ngành trên địa bàn 13 huyện, thị xã.
  • Tạo lập nguồn tư liệu tham khảo giá trị cho công tác lập pháp, nghiên cứu chuyên sâu và xét xử tội phạm hình sự tại Việt Nam.

Kế hoạch hoàn thiện pháp luật trong giai đoạn tiếp theo cần tập trung cập nhật các biểu mẫu hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 trước năm 2020. Các cơ quan tiến hành tố tụng và chính quyền cơ sở cần khẩn trương áp dụng các khuyến nghị của luận văn nhằm nâng cao hiệu lực bảo vệ an ninh trật tự xã hội.