Luận văn thạc sĩ về tội chứa mại dâm từ thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh

Luận văn thạc sĩ phân tích tội chứa mại dâm từ thực tiễn tại TP.HCM, đánh giá tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa hiệu quả.

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

91
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tội chứa mại dâm và pháp luật hình sự

Tội chứa mại dâm là một trong những tội phạm nghiêm trọng liên quan đến tệ nạn mại dâm, được quy định trong Bộ luật Hình sự Việt Nam. Tội này bao gồm các hành vi sử dụng, thuê, mượn, cho mượn địa điểm hoặc phương tiện để thực hiện hoạt động mua bán dâm. Pháp luật hình sự đã có những quy định cụ thể để xử lý loại tội phạm này, nhằm bảo vệ trật tự công cộng và đạo đức xã hội. Tại TP.HCM, tình hình tội phạm này diễn biến phức tạp, đòi hỏi sự nghiên cứu và áp dụng pháp luật một cách chính xác.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của tội chứa mại dâm

Tội chứa mại dâm được định nghĩa là hành vi cung cấp địa điểm hoặc phương tiện để thực hiện hoạt động mua bán dâm. Đây là một dạng tội phạm xã hội có tính chất nguy hiểm, ảnh hưởng đến trật tự công cộng và đạo đức xã hội. Theo Bộ luật Hình sự 2015, tội này được quy định tại Điều 327, với các hình phạt nghiêm khắc tùy theo mức độ vi phạm. TP.HCM là một trong những địa bàn có tình hình tội phạm này diễn biến phức tạp, đòi hỏi sự nghiên cứu và áp dụng pháp luật một cách chính xác.

1.2. Lịch sử phát triển pháp luật về tội chứa mại dâm

Pháp luật về tội chứa mại dâm đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ Pháp lệnh Phòng chống mại dâm năm 2003 đến Bộ luật Hình sự 2015. Các quy định này ngày càng được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đặc biệt là trong bối cảnh tệ nạn mại dâm tại TP.HCM diễn biến phức tạp. Việc nâng cấp từ Pháp lệnh lên Luật đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác phòng chống và xử lý tội phạm này.

II. Thực tiễn áp dụng pháp luật tại TP

TP.HCM là một trong những địa bàn có tình hình tội chứa mại dâm diễn biến phức tạp. Theo thống kê, từ năm 2014 đến 2019, Tòa án nhân dân các cấp tại TP.HCM đã xét xử 77 vụ án liên quan đến tội này, với 113 bị cáo. Các vụ án này thường liên quan đến các cơ sở kinh doanh dịch vụ như khách sạn, nhà nghỉ, và karaoke. Việc áp dụng pháp luật hình sự trong các vụ án này đã góp phần kiềm chế tình trạng tệ nạn mại dâm trên địa bàn.

2.1. Tình hình tội chứa mại dâm tại TP.HCM

TP.HCM là địa bàn có tình hình tội chứa mại dâm diễn biến phức tạp, với nhiều vụ án liên quan đến các cơ sở kinh doanh dịch vụ. Theo thống kê, từ năm 2014 đến 2019, Tòa án nhân dân các cấp tại TP.HCM đã xét xử 77 vụ án, với 113 bị cáo. Các vụ án này thường liên quan đến các cơ sở kinh doanh dịch vụ như khách sạn, nhà nghỉ, và karaoke. Việc áp dụng pháp luật hình sự trong các vụ án này đã góp phần kiềm chế tình trạng tệ nạn mại dâm trên địa bàn.

2.2. Những khó khăn trong công tác điều tra và xét xử

Công tác điều tra và xét xử các vụ án tội chứa mại dâm tại TP.HCM gặp nhiều khó khăn, do tính chất phức tạp và sự biến động của các đối tượng tham gia. Việc thu thập chứng cứ và xác định tội danh đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng. Bên cạnh đó, việc áp dụng pháp luật hình sự cũng cần được thực hiện một cách chính xác để đảm bảo công bằng và hiệu quả.

III. Giải pháp phòng chống tội chứa mại dâm

Để nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tội chứa mại dâm, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng. Các giải pháp bao gồm hoàn thiện pháp luật hình sự, tăng cường công tác giáo dục pháp luật, và nâng cao nhận thức của người dân về hậu quả của tệ nạn mại dâm. Đặc biệt, tại TP.HCM, cần có các biện pháp cụ thể để kiểm soát các cơ sở kinh doanh dịch vụ, nhằm ngăn chặn tình trạng tội phạm mại dâm.

3.1. Hoàn thiện pháp luật hình sự

Việc hoàn thiện pháp luật hình sự về tội chứa mại dâm là cần thiết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Các quy định cần được cụ thể hóa, đặc biệt là trong việc xác định tội danh và hình phạt. Bên cạnh đó, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng để đảm bảo việc áp dụng pháp luật một cách chính xác và hiệu quả.

3.2. Tăng cường giáo dục pháp luật và nâng cao nhận thức

Công tác giáo dục pháp luật và nâng cao nhận thức của người dân về hậu quả của tệ nạn mại dâm là một trong những giải pháp quan trọng. Tại TP.HCM, cần có các chương trình tuyên truyền, giáo dục pháp luật để người dân hiểu rõ về tác hại của tội chứa mại dâm và các biện pháp phòng chống. Điều này sẽ góp phần giảm thiểu tình trạng tội phạm mại dâm trên địa bàn.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ tội chứa mại dâm từ thực tiễn tại thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VÀ PHÁP LUẬT CỤ THỂ VỀ TỘI CHỨA MẠI DÂM 1. Những vấn đề lý luận chung về tội chứa mại dâm 1. Khái niệm tội chứa mại dâm Như chúng ta đã biết tội phạm là hiện tượng tiêu cực nhất trong xã hội đi ngược lại lợi ích chính đáng của con người, của xã hội và mang tính chống đối nhà nước. Tuỳ thuộc vào chế độ chính trị, nền kinh tế - văn hoá của mỗi nước, các quốc gia sẽ quy định cụ thể những hành vi nào là tội phạm những hành vi nào không phải là tội phạm.

Khái niệm tội phạm xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật, cũng như khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng. Để bảo vệ quyền và lợi ích của giai cấp thống trị, Nhà nước đã quy định hành vi nào là tội phạm và áp dụng trách nhiệm hình sự hoặc (và) hình phạt đối với người nào thực hiện hành vi đó. Do đó, tội phạm lại mang bản chất là một hiện tượng pháp lý [57]. Trước khi tìm hiểu khái niệm về tội chứa mại dâm trong luật hình sự Việt Nam, chúng ta đi tìm hiểu khái niệm tội phạm trong luật hình sự Việt Nam.

Tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 2015 đưa ra khái niệm về tội phạm như sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự [39, tr. Việc xác định các loại tội phạm trong luật hình sự Việt Nam là cơ sở để quy định về hình phạt, song việc quy định hình phạt xét cho cùng cũng là một phần của 13 việc xác định tội phạm. Khái niệm về tội phạm là cơ sở để xây dựng các cấu thành tội phạm cụ thể với ý nghĩa là mô hình pháp lý của từng loại tội phạm và qua đó cũng là cơ sở để quy định hình phạt tương tương ứng. Tội phạm về mại dâm nói chung là hiện tượng tiêu cực, ảnh hưởng nhiều mặt đời sống xã hội, xâm hại đến trật tự công cộng, xâm phạm đạo đức xã hội, sức khoẻ con người, là nguyên nhân gây nên các loại bệnh xã hội nguy hiểm đặc biệt là bệnh HIV/AIDS ảnh hưởng đến giống nòi, gây thiệt hại cho nền kinh tế và cũng là nguyên nhân gây nên một số tội phạm khác.

Các nhà khoa học, các tác giả ở Việt Nam có cái nhìn tương đối giống nhau về tội phạm mại dâm, cụ thể như sau: Tội phạm mại dâm là những hành vi nguy hiểm cho xã hội về mua bán tình dục, được quy định trong Bộ luật hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý xâm phạm đến trật tự công cộng, đạo đức xã hội, nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa, đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, của tác giả Trần Hải Âu: [1, tr. Tội phạm mại dâm bao gồm các hành vi về hoạt động mua bán tình dục được quy định và điều chỉnh bằng pháp luật hình sự, tội phạm mại dâm bao gồm các hành vi sau: Chứa mại dâm là hành vi sử dụng, thuê, mượn, cho mượn địa điểm, phương tiện để mua bán dâm; môi giới mại dâm là hoạt động dụ dỗ, dẫn dắt làm trung gian để các đối tượng gặp nhau thực hiện việc mua bán dâm; Mua dâm người chưa thành niên: là hành vi thỏa thuận trả tiền hoặc vật chất khác để được giao cấu với người chưa thành niên; mua bán phụ nữ, trẻ em vì mục đích mại dâm: là hành vi chuyển giao phụ nữ, trẻ em để thực hiện hành vi mại dâm nhằm thu lợi nhuận. Của tác giả Nguyễn Xuân Yêm [51, tr. Tội phạm mại dâm là những hành vi nguy hiểm cho xã hội liên quan đến mua bán tình dục, được quy định trong Bộ luật hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý xâm hại đến trật tự công cộng, đạo đức xã hội, nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa, đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người, ảnh hưởng đến an ninh xã hội, của PGS.TS Nguyễn Huy Thuật [41, tr.

Tội phạm mại dâm là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong 14 Bộ luật Hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý xâm phạm tới trật tự công cộng, an toàn công cộng, đến nếp sống văn minh, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự, của tác giả Nguyễn Hoàng Minh: [34, tr. Cùng quan điểm với các tác giả khi nói về tội phạm mại dâm, chúng tôi xác định tội chứa mại dâm nằm trong các tội phạm về mại dâm, chúng ta nghiên cứu sâu hơn về tội này ở các phần sau. Bộ luật Hình sự năm 1985, thì tội phạm về mại dâm được quy định tại Điều 202 gồm ghép hai tội “Chứa mãi dâm” và “Môi giới mãi dâm”. Đến năm 1997 sửa đổi Bộ luật hình sự lần thứ tư đã bổ sung thêm tội “Mua dâm người chưa thành niên” là Điều 202a.

Quá trình áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1985, thì việc quy định hai tội chứa mãi dâm và môi giới mãi dâm trong cùng một điều luật đã gây không ít khó khăn trong việc phân hoá trách nhiệm hình sự của người phạm tội, nhất là trong công tác điều tra, truy tố và xét xử. Do yêu cầu của việc cá thể hoá trách nhiệm hình sự nên Bộ luật Hình sự năm 1999 đã tách điều luật này thành hai điều luật riêng biệt, thành Điều 254 quy định tội “Chứa mại dâm” và Điều 255 quy định tội “Môi giới mại dâm”, đồng thời chuyển đổi Điều 202a về tôi “Mua dâm người chưa thành niên” thành Điều 256. Về Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định về “Tội chứa mại dâm” tại Điều 327. Đồng thời Bộ luật Hình sự năm 1999 đã sửa đổi thuật ngữ “mãi dâm” lại thành “mại dâm” Nội dung của Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện hành cũng không đưa ra khái niệm cụ thể như thế nào là hành vi chứa mại dâm, như vậy khái niệm về hành vi chứa mại dâm vẫn được hiểu tại khoản 4 Điều 3 Pháp lệnh phòng chống mại dâm ngày 17 tháng 3 năm 2003 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định “Chứa mại dâm là hành vi sử dụng, cho thuê, cho mượn địa điểm, phương tiện để thực hiện việc mua dâm, bán dâm” [53].

Trong khoa học luật hình sự Việt Nam có những quan điểm đưa ra các khái niệm về hành vi chứa mại dâm ở phạm vi khác nhau như: Chứa mại dâm là hành vi cho thuê, cho mượn địa điểm để làm nơi tụ tập những người mua, bán dâm [31, 15 tr.562]; chứa mại dâm là hành vi tạo điều kiện vật chất hoặc tinh thần cho hoạt động mại dâm được thực hiện [57, tr.515-519]; chứa mại dâm là hành vi cho thuê, cho mượn địa điểm, bố trí địa điểm, bố trí gái mại dâm, tạo điều kiện cho người mua, bán dâm, hoặc quan hệ tình dục khác hoạt động [5, tr. Trên cở sở các văn bản pháp luật và văn bản dưới luật thì hành vi cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc tạo các điều kiện vật chất khác cho hoạt động mại dâm, cũng là chứa mại dâm; Do vậy, tội chứa mại dâm là hành vi tạo điều kiện vật chất hoặc tinh thần cho hoạt động mại dâm; do người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên cố ý thực hiện; xâm phạm đến trật tư công cộng [20, tr. Tuy nhiên Bộ luật Hình sự năm 2015 tại Điều 12 không quy định người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “chứa mại dâm” theo Điều 327 như vậy là có lợi cho người phạm tội. Trên cơ sở các điểm trên, thì hành vi chứa mại dâm là hành vi tạo điều kiện cho hoạt động mại dâm thực hiện có tính vụ lợi, còn những hành vi không có tính chất thương mại thì không coi đó là hành vi chứa mại dâm.

Do đó, từ khái niệm tội phạm được quy định tại Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015, các quy định của Bộ luật Hình sự, Pháp lệnh phòng, chống mại dâm năm 2003, các quan điểm về khái niệm tội chứa mại dâm, chúng ta có thể đưa ra khái niệm đang nghiên cứu như sau: Tội chứa mại dâm là hành vi sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn địa điểm, phương tiện để người khác thực hiện việc mua dâm, bán dâm hoặc quan hệ tình dục khác. Như vậy, về hành vi khách quan người phạm tội thực hiện duy nhất một hành vi, đó là hành vi chứa chấp mại dâm với nhiều thủ đoạn khác nhau, nên hành vi phạm tội chứa mại dâm trọng một số trường hợp cần chú ý như: - Chứa mại dâm là chứa việc mua dâm, bán dâm, tức là phải có cả người mua lẫn người bán và hai người phải thực hiện việc giao cấu, hoặc quan hệ tình dục khác bởi lẽ bán dâm là hành vi giao cấu, hoặc quan hệ tình dục khác của một người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác, còn mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác 16 trả cho người bán dâm để được giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu tội chứa mại dâm tại TP.HCM" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình mại dâm tại thành phố lớn nhất Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các khía cạnh pháp lý liên quan đến tội chứa mại dâm mà còn chỉ ra những nguyên nhân xã hội và kinh tế dẫn đến tình trạng này. Một trong những điểm nổi bật của tài liệu là việc đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu tội phạm và hỗ trợ những người hoạt động mại dâm hòa nhập vào cộng đồng.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ ussh mô hình hỗ trợ giảm hại và hòa nhập cộng đồng cho người hoạt động mại dâm tại tỉnh Quảng Ninh. Tài liệu này cung cấp thêm thông tin về các mô hình hỗ trợ và cách thức giúp đỡ những người trong ngành mại dâm, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.