MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chè (Camellia Sinensis (L) O Kuntze) là cây công nghiệp lâu năm có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng ẩm, cùng với sự phát triển của các ngành sản xuất khác, ngành chè thế giới có bƣớc phát triển rộng lớn hơn 60 quốc gia sản xuất chè, tập trung chủ yếu từ các nƣớc Châu Á và Châu Phi. Sản phẩm từ cây chè đang đƣợc sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới dƣới nhiều công dụng khác nhau nhƣng phổ biến nhất vẫn là đồ uống. Việt Nam có điều kiện tự nhiên phù hợp cho cây chè sinh trƣởng phát triển.
Sản xuất chè giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp, sản phẩm chè là mặt hàng xuất khẩu quan trọng. Sản xuất chè cho thu nhập chắc chắn, ổn định góp phần quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nông Nghiệp, nông thôn, đặc biệt là khu vực trung du miền núi phía Bắc Việt Nam. Do vậy, Việt Nam có chủ trƣơng phát triển chè theo hai hƣớng ổn định diện tích , thay thế giống chè cũ bằng các giống chè chọn lọc, trồng các nƣơng chè theo kỹ thuật thâm canh, gắn với công nghệ và kỹ thuật chế biến mới, tạo ra sản phẩm chè chất lƣợng cao, an toàn, đáp ứng yêu cầu thị trƣờng tiêu thụ. Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc, có điều kiện đất đai và thời tiết khá thích hợp cho việc phát triển cây chè.
Muốn nâng cao năng suất, chất lƣợng cây trồng thì đất cần bổ sung thƣờng xuyên đầy đủ các loại phân bón, chất dinh dƣỡng tƣơng ứng. Tuy nhiên, việc sử dụng phân bón vô cơ của ngƣời dân hiện nay vẫn còn tùy tiện, chƣa chú trọng tới việc bón phân cân đối giữa yếu tố nhƣ : Đạm, lân và kali. Trong đó, việc sử dụng phân vô cơ có xu hƣớng đƣợc sử dụng nhiều hơn. Sử dụng quá nhiều dẫn đến chi phí sản xuất tăng và làm nguy hại đến sức khỏe.
2 Mặt khác việc sử dụng phân vô cơ không bón đầy đủ các chất hữu cơ thì sẽ dẫn đến suy giảm cấu trúc của đất, làm cho các vi sinh vật có lợi trong đất bị cạn kiệt, đất trở nên trai cứng bề mặt, dễ bị xói mòn, thoái hóa nhanh, gây ô nhiễm môi trƣờng. ảnh hƣởng đến sức khỏe của con ngƣời. Ngoài ra việc sử dụng phân bón không hợp lý thƣờng gây ra nhiều sâu bệnh, dịch hại và cỏ dại. Do vậy, việc xác định lƣợng phân bón thích hợp cho từng giống chè và từng giai đoạn khác nhau là rất cần thiết nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng chè và đạt hiệu quả kinh tế cao.
Bên cạnh đó có thể giảm ô nhiễm môi trƣờng, giữ kết cấu đất. Xuất phát từ những thực tế trên chúng tôi tiến hành thí nghiệm: “ Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân NPK thích hợp cho cây con trong vườn ươm đối với giống chè PH10 tại Phú Thọ. Mục đích nghiên cứu của đề tài Xác định lƣợng phân hợp lý và số lần bón thích hợp nhất, nhằm nâng cao khả năng sinh trƣởng, tỷ lệ suất vƣờn cho giống chè PH10 giai đoạn cây con trong vƣờn ƣơm. Yêu cầu của đề tài Đánh giá đƣợc ảnh hƣởng tổ hợp phân NPK đến sinh trƣởng và phát triển của giống chè PH10 giai đoạn cây con Đánh giá đƣợc ảnh hƣởng của tổ hợp phân NPK tới một số loại sâu bệnh hại chính Xác định đƣợc lƣợng phân và số lần bón hợp lý cho giống chè PH10 giai đoạn cây con trong vƣờn ƣơm 1.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên sẽ đƣợc thực hành việc nghiên cứu khoa học, biết phƣơng pháp phân bổ thời gian hợp lý và khoa học 3 trong công việc để đạt đƣợc hiệu quả cao trong quá trình làm việc. Đồng thời là cơ sở để củng cố những kiến thức đã học trong nhà trƣờng và hoạt động thực tiễn. - Có kết luận chính xác loại tổ hợp phân bón nào thích hợp cho chè PH10 tại Phú Thọ - Đề tài là một tài liệu tham khảo cho ngƣời trồng chè và sinh viên khóa tiếp theo.
Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Đề tài là cơ sở cho những định hƣớng sử dụng phân bón thích hợp cho cây con của giống chè PH10 trong vƣờn ƣơm vào thực tiễn sản xuất. Từ đó, nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, cũng nhƣ góp phần nâng cao chất lƣợng xuất vƣờn cây con của giống chè PH10 tại Phú Thọ. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Cơ sở của nhân giống vô tính cây chè Cây chè cũng nhƣ hầu hết các loại cây trồng khác có thể nhân giống bằng hai phƣơng pháp: Nhân giống hữu tính và nhân giống vô tính, mỗi phƣơng pháp đều có những ƣu điểm và nhƣợc điểm nhất định. Nhân giống vô tính chè cũng giống nhƣ các loại cây trồng khác bao gồm: Nuôi cấy mô, triết, ghép và giâm cành (giâm hom) trong đó phƣơng pháp giâm cành là khả thi nhất. Giâm cành chè là biện pháp dùng một đoạn cành dài 4 - 5 cm, có 1 lá nguyên vẹn sạch sâu bệnh. Cành có màu xanh hoặc từ xanh chuyển sang nâu.
Mỗi hom có một mầm nách dài không quá 1 cm. Sau đó đem giâm trên nền vật liệu nhất định (đất, cát …) để tạo thành cây con mới với số lƣợng lớn phục vụ sản xuất. Các loại cây trồng để duy trì nòi giống, chúng đều phải thông qua cơ quan sinh sản, hoặc chúng có khả năng tái sinh từ các bộ phận của các cơ quan sinh dƣỡng nhƣ lá, chồi, thân, rễ. Nếu đƣa các bộ phận của chúng vào môi trƣờng thích hợp nó sẽ phát triển thành rễ, mầm và hình thành cây con.
Phƣơng pháp giâm cành chè là ngƣời ta sử dụng một bộ phận gồm đoạn thân, lá (hom chè) để qua quá trình tái sinh tạo ra cây chè mới. Khi mô tế bào thực vật bậc cao bị thƣơng thì vách tế bào sẽ hóa bần làm cho tế bào số ng tách rời nhau. Các tế bào sống còn lại phân chia nhiều lần song song với mă ̣t cắ t để hàn kin ́ vế t thƣơng. Loại mô đó gọi là mô sẹo (callus).
Thƣơng kích tố nế u phát sinh ở miê ̣ng vế t thƣơng có libe thì có mô ̣t chấ t go ̣i là thƣơng kích tố libe (Leptohormone). Nói mô ̣t cách khác , nhƣ̃ng tế bào ở bề mă ̣t vế t cắ t vố n đã ngƣ̀ng phân c hia, nhƣng do bi ̣tổ n thƣơng gây kích thích nên bắ t đầ u phân chia trở la ̣i, cùng với sự biến đổ i của các tế bào tƣơ ̣ng tầ ng và các tế bào nhu mô ở ca ̣nh , mô se ̣o đƣơ ̣c hình thành. Sƣ̣ hình thành mô se ̣o ở cành non thƣờng ma ̣nh h ơn cành già. Mô se ̣o lúc đầu là một tế bào nhu mô (vách mỏng) sau đó phân hóa thành mô dẫn , tƣơ ̣ng tầ ng và hình thành điể m sinh trƣởng phát sinh rễ bấ t đinh ̣.
Mô se ̣o là nơi hình thành rễ , do vâ ̣y đa ̣i đa số rễ mo ̣c ra tƣ̀ gố c cành giâm, còn mầm cành mới lại mọc ra ở phía ngọn cành. Tƣ̀ mô se ̣o của thân cành rất khó mọc mầm (ngoại trừ nuôi cấy mô), vì vậy muốn giâm cành thành công thì trên cành giâm nhấ t thiế t phải có mô ̣t mầ m. Phƣơng pháp giâm cành chè là sử dụng một bộ phận gồm đoạn thân lá (cơ quan dinh dƣỡng ) để tái sinh ra cây chè mới. Phiế n lá của hom chè là cơ quan để quang hơ ̣p ta ̣o ra nhƣ̃ng chấ t dinh dƣỡng nuôi hom và tái sinh cây , lá có vai trò quan trọng trong viê ̣c ta ̣o thành cây chè.
Do đó lá không thể bi ̣ thƣơng và phải sa ̣ch sâu bê ̣nh. Để ta ̣o thành cây chè hoàn chin̉ h và sinh trƣởng tố t trong vƣờn ƣơm, đủ tiêu chuẩ n , đƣa ra trồ ng trên nƣơng nó phu ̣ thuô ̣c nhiề u vào chấ t lƣơ ̣ng ho m giố ng, môi trƣờng giâm, chế đô ̣ chiế u sáng, chế đô ̣ chăm sóc và phân bón cho vƣờn ƣơm. Môi trƣờng giâm hom chè thƣờng dùng là loại đất không lẫn tạp chất có thành phần cơ giới trung bình và độ chua thích hợp PH KCL từ 4,5 - 5,5. Tƣ̀ vế t cắ t ho m chè sau khi giâm cành xuố ng đất phần phía dƣới hom sẽ hình thành màng mộc thiêm để chống lại sự xâm nhập của vi sinh vật , dầ n dầ n ta ̣o thành mô sẹo và từ đó mọc ra rễ đầu tiên , mầ m nách của hom chè cũng đƣơ ̣c phát triển từng bƣớc cùng với sƣ̣ phát triể n của bô ̣ rễ, đầ u tiên là lá vảy ố c mở, 6 sau đó đến lá cá và lá thật hình thành để tạo thành cây chè hoàn chỉnh.
Trong giâm cành chè nếu để mầm phát triển sớm hơn phát triển rễ không tốt vì vậy đòi hỏi phải điều chỉnh sinh trƣởng cân đối giữa rễ và mầm. Mỗi giống chè có những đặc điểm khác nhau vì vậy khi giâm cành tỷ lệ ra rễ và bật mầm khác nhau. Trong thực tế có những giống khi giâm cành tỷ lệ xuất vƣờn rất cao nhƣng cũng có những giống tỷ lệ xuất vƣờn rất thấp vì vậy giá thành cây giống rất cao. Để giâm cành chè có hiệu quả cần phải khắc phục những nhƣợc điểm của các giống tạo điều kiện thuận lợi cho cành giâm phát triển.
Đặc điểm của cây mẹ, tuổi hom, kích thƣớc hom, thời vụ giâm khác nhau dẫn đến hàm lƣợng và tỉ lệ các chất thuộc nhóm kích thích sinh trƣởng khác nhau do đó sự hình thành rễ và chồi cũng vì thế mà khác nhau. Nếu một hom chè ở một thời vụ nhất định có tỷ lệ các chất thuộc nhóm Auxin và Xytokinin thích hợp cho việc hình thành rễ và chồi thì đó là thời vụ giâm có hiệu quả nhất đối với giống chè đó. Với tuổi hom khác nhau các chất kích thích trong đó cũng khác nhau, vì vậy mà kết quả giâm cành cũng khác nhau. Rõ ràng rằng tuổi hom, đƣờng kính hom giâm sẽ quyết định tỷ lệ và hàm lƣợng các chất Phytohoocmon trong hom, thông qua đó mà phần nào quyết định quá trình hình thành rễ và chồi của hom giâm.