mở đầu của 11 việc đưa hàng hoá ra bán trên thị trường. Trong giai đoạn này người tiêu dùng còn chưa biết hoặc chưa tin tưởng vào sản phẩm của công ty nên doanh số bán ra còn ít, công ty thường chịu lỗ hoặc lãi rất ít.chủ yếu trong giai đoạn này là nhà sản xuất cần tăng cường quảng cáo và xúc tiến bán sản phẩm. + Giai đoạn phát triển: Trong giai đoạn này mức tiêu thụ bất đầu tăng mạnh, trên thị trường xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh mới, lợi nhuận tăng. Công việc chủ yếu trong giai đoạn này là tiếp tục hoàn thiện và nâng cao đặc tính sử dụng của sản phẩm.
Tăng cường quản lý chất lượng hàng hoá, nắm vững các kênh phân phối để duy trìbán và thâm nhập vào thị trường trường mới. + Giai đoạn chín muồi: Đến thời điểm nào đó nhịp độ tăng mức tiêu thụ bắt đầu chững lại, việc tiêu thụ sản phẩm bước vào giai đoạn chín muồi. Hàng hoá tiêu thụ chậm cũng có nghĩa chúng tràn đẩy trên các kênh lưu thông, điều đó hàm chứa một cuộc cạnh tranh gay gắt. Tình hình đó dẫn đến một sự giảm xút về lợi nhuận.
Trong giai đoạn này cần: Tìm thị trường mới cho hàng hoá, cải biến hàng hoá thay đổi một số yếu tố, đặc tính hàng hoá. + Giai đoạn suy thoái: Giai đoạn suy thái xuất hiện khi mức tiêu thụ các loại hàng hoá giảm sút. Việe giảm sút có thể dién ra nhanh chóng chậm chạp, thậm chí đến số không. Khi mức tiêu thụ giảm xút dẫn đến lợi nhuận giảm, thị trường mặt hàng của doanh nghiệp bị thu hẹp.
Nghiên-cứu chu kỳ sống cuả sản phẩm là điều cần thiết giúp ta chủ động Kịp lập kế hoạch và cá biện pháp kèm theo tương ứng với từng giai đoạn của nó. -_ Phân tích sản phẩm và khả năng thích ứng với thị trường gồm: + Đánh giá khả năng và mức độ thành công của sản phẩm trên thị 12 trường. + Phát hiện những khuyết tật về nội dung và hình thức của sản phẩm cần phải tiến hành hoàn thiện hơn. + Phát hiện những cơ hội bán hàng và có kế hoạch khai thác triệt để những cơ hội đó.
Xây dựng các điều kiện tiêu thụ sản phẩm. Định giá bán và khung giá bán. Định giá bán phải căn cứ vào gía thành đơn vị sản phẩm và mặt bằng sản phẩm trên thị trường. Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một loại phẩm nhất định.
Giá thành đơn vị sản phẩm'là do tổng chỉ phí quyết định nên giá thành là cơ sở quan trọng nhất để ấn định mức giá bán. Nó luôn quyết định giới hạn thấp nhất của giá bán. Giá bán luôn lớn hơn giá thành sản phẩm thì doanh nghiệp mới có lãi và khi đó mới có thể đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Xác định khung giá bán tức là xác định giá bán tối thiểu và giá tối đa cho sản phẩm hàng hoá của:dòanh nghiệp.
Giá bán tối thiểu là mức giá đảm bảo cho doanh nghiệp không bị thua lỗ. Giá bán tối đa là mức giá bán mà thị trường có thể chấp nhận được. Xác định các kênh phân phối. Kênh phân phối là một tập hợp các doanh nghiệp và các cá nhân độc lập và phụ thuộc lấn nhau tham gia vào quá trình đưa hàng hoá từ người sản xuất tới nets freuduns- Lựa chọn kênh phân phối hợp lý sẽ khắc phục được khó khăn của nhà 13 sản xuất như ; Không am hiểu thị trường, thiếu vốn.
Cấu trúc kênh phân phối cho hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng cá nhân: + Kênh trực tiếp: NgưiSX | — yÑgườiTD Trong kênh này người sản xuất bán trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng, không có khâu trung gian nào trong kênh này nên người sản xuất phải thực hiện tất cả các chức năng của kênh. + Kênh gián tiếp: Kênh một cấp: ma aed Người Người sản |— „ gee bin los tiéu ding xuất lẻ Trong kênh này có thêm người bán lẻ, kênh này thường được sử dụng khi người bán lẻ có quy.mô lớn có thể Tấua khối lượng lớn từ nhà sản xuất. Kênh hai cấp: Người SX Người a bì HH >) Bbuon Pe » Trong kênh này có thêm người bán buôn, kênh này thường được phổ biến cho các loại hàng hoá giá trị đơn vị thấp, chi phí thấp, được mua thường xuyên bởi ñeười tiêu dùng. Kênh ba €ấp: Người › Daily | yị Người | pị Người | y| Người Sx" § B.lê TD Đây là kẽnh dài nhất được sử dụng khi có nhiều người sản xuất nhỏ và 14 nhiều người bán lẻ nhỏ, một đại lý được sử dụng để giúp phối hợp cung cấp sản phẩm với khối lượng lớn.
Tổ chức các hoạt động hỗ trợ, xúc tiến bán hàng. Quảng cáo là những hình thức truyền thông không trực tiếp, được thực hiện thông qua các phương tiện truyền tin, phải trả tiền và các chủ thể quảng cáo phải chịu chỉ phí. Doanh nghiệp sử dụng quảng cáo nhằm thực hiện các mục tiêu sau: Tăng số lượng hàng hoá tiêu thụ trên thị trường truyền thống, tìm thị trường mới, xây dựng và củng cố uy tín của những nhãn hiệu hàng hoá và uy tín của công ty. Xúc tiến bán hàng là hoạt.
động của người bán hàng tiếp tục tác động vào người mua, sau khi khách hàng tiếp nhận thông tin qua quảng cáo nhằm nắm bắt cụ thể hơn về nhu cầu và ý kiến phản ánh của khách hàng, để tiếp tục tranh thủ, lôi kéo sự ủng hộ:của khách hằng với doanh nghiệp. Các hình thức xúc tiến bán hàng như: Mở hội nghị khách hàng, tặng quà, bán thử sản phẩm mới. Yém tro ban hang. Yểm trợ bán hầng là những hoạt động nhằm hỗ trợ cho việc cạnh tranh và bán hàng của công ty: Các hình thức yểm trợ bán hàng là: Lập hiệp hội kinh doanh, tham gia hội chợ, cửa hàng giới thiệu sản phẩm.
Tổ chức công tác tiêu thụ. Hoạt độn giao dịch, ký kết hợp đồng. Trước khi ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm bên mua và bên bán thường ^ 15 gặp nhau để đàm phán về những điều kiện mua bán, thanh toán.Irong quá trình ký kết hợp đồng doanh nghiệp cần khéo léo, linh hoạt khi thoả thuận về các điều khoản sao cho tạo được không khí thoả mái, tin cậy và cố gắng thu thập được thêm những thông tin về nhu cầu tương lai của khách. Tổ chức thực hiện hợp đồng bao gồm các bước sau: + Chuẩn bị giao hàng: Hàng hoá theo hợp đồng phải đảm bả6 đúng chất lượng đã ký kết.
+ Kiểm tra hàng hoá: Doanh nghiệp cần tổ chức kiểm'tra trung thực và chính xác. + Quyết định phương tiện vận tải: Sử đụng phương tiện vận tải nào sao cho chi phí thấp nhất, đảm bảo nhất và đúng thời hạn. + Giao hàng và làm thủ tục thanh toán. + Khiếu nại (nếu có) nếu một bên vi phạm hợp đồng.
Tổ chức mạng lưới phân phối. Doanh nghiệp dựa trên cơ sở đặc tính sản phẩm, quy mô doanh nghiệp, đặc điểm môi trường.để lựa chọn hình thức kênh phân phối hợp lý đảm bảo chỉ phí thấp nhất, thông tin nhanh, kiểm soát được kênh phân phối hàng hoá. Tổ chức các dịch vụ trước, frong và sau khi bán hàng. Các dịch vụ trong khi bán hàng là các dịch vụ giới thiệu chào hàng, quảng cáo, tham gia hội chợ triển lãm .thực hiện các dịch vụ trước và sau khi bán hàng nhằm giới thiệu sẩản phẩm, để gợi mở nhu cầu của người tiêu dùng và thuyết phục-agười tiêu dùng mua và sử dụng các sản phẩm của mình.
Các dịch vụ trong khi bán hàng là các dịch vụ giao tiếp giữa các doanh nghiệp với khách:hàng. Bao gồm việc: Giới thiệu hàng hoá, ký kết hợp đồng, thanh vê bốc xếp.hàng hoá, chuyên chở hàng hoá tới nơi yêu cầu.Dịch vụ trong 5 khi bán hàng B nhằm tác động 8 vào tâm lý người tiêu dùng ig thấy thay họ thực sựỤ 16 là “thượng đế” và sự lựa chọn của họ là sáng suốt. Các dịch vụ sau khi bán hàng nhằm nâng cao uy tin do lệp, củng cố lòng tin người tiêu dùng khi mua và sử dụng hàng hoá loanh nghiệp. Tổ chức thanh toán.
x fe Trong hoạt động về tiêu thụ thì nghiệp vụ tiền vị óng niệu Vai trò quan trọng. Mặc dù hàng hoá đã được phân phối .@ác kếnh tiêu thụ hoặc đã giao cho người mua chưa thu hồi được tiền thì hoạt ao tiéu thu van chưa kết thúc. Đối với hoạt động thanh toán tuỳ thuộc vào các kênh tiêu thụ sản phẩm của công ty mà xây dựng phương thứ án hợp lý, giúp doanh nghiệp thu hồi được vốn nhanh hơn, làm cho hoạt động neti diễn ra hiệu quả hơn. yy, ‹ » 17 Phan IL TINH HÌNH ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CÔNG TY THAN VÀ VẬT LIỆU XÂY DỤNG THANH NIÊN HÀ NỘI I.
Quá trình hình thành và phát triển của công ty. Lịch sử hình thành. Công ty Than và VLXD - TNHN là một doanh nghiệp nhà nước, có tư cách pháp nhân và thực hiện hạch toán kinh doanh độc lập, chuyên kinh doanh mặt hàng than và vật liệu xây dựng. Trụ sở chính tại 14A Phan Chu Trinh - Ha Nội, trụ sở 2 tại Cẩm Sơn - Cẩm Phả - Quảng Ninh.
Dưới đây là một số mốc thời gián quan trọng của Công ty: Công ty được thành lập năm 1985, tiền thân là Xí nghiệp khai thác Than Thanh niên Hà Nội. Thực hiện nghị định 38'về việc sắp xếp lại doanh nghiệp, năm 1995, Xí nghiệp được'đổi tên và:bổ sung chức năng nhiệm vụ thành Công ty Than và VLXD --'TNHN theo quyết định số 838/QĐÐ-UB ngày 14/04/1995. Công ty hoạt động theo đăng ký số 100636 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội với nhiều ngành nghề. Trước sự đòi.hỗi gay gắt của nền kinh tế thị trường về sự đổi mới nhiều mặt, Công ty với'mục tiêu đa-'dạng hóa sản phẩm nhiều hơn, tổ chức sản xuất có hiệu quả hơn nên trong thời kỳ này Công ty đã không ngừng phát triển và lớn mạnh về mọi mặt sau.
Đến iay; sản phẩm của Công ty đã có mặt trên mọi miễn đất nước, đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng và được bà con nông dân tín nhiệm sử dụng. Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của Công ty. Công ty tổ chức đưa thanh niên của Hà Nội xuống Quảng Ninh nhặt than ở các bãi thañ và thu mua than nguyên khai tại bãi khai thác của các mỏ than để gia công chế biến đáp ứng nhu cầu trong nước. Chức năng của Công ty.