Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ tim mạch 1.1 Tổng quan về tăng huyết áp 1.1 Định nghĩa huyết áp Huyết áp (HA) động mạch là áp lực của máu tác động lên thành động mạch. Các thông số HA thường được ứng dụng là: Huyết áp tâm thu (HATT) hay HA tối đa là giới hạn cao nhất của những dao động có chu kỳ của HA trong mạch thể hiện sức bơm máu của tim. Huyết áp tâm trương (HATTr) hay HA tối thiểu là giới hạn thấp nhất của những dao động có chu kỳ của HA trong mạch, thể hiện sức cản của mạch [35].2 Chẩn đoán tăng huyết áp Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì người trưởng thành tăng huyết áp (THA) khi chỉ số HATT ≥ 140 mmHg và/hoặc HATTr ≥ 90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hằng ngày hoặc từng được bác sĩ chẩn đoán THA [1], [4], [50]. Quy trình đo HA: - Nghỉ ngơi trong phòng yên tĩnh ít nhất 5 – 10 phút trước khi đo HA.
- Không dùng các chất kích thích như cà phê, thuốc lá, rượu bia trước đó 2 giờ. - Tư thế đo chuẩn: người được đo HA ngồi ghế tựa, cánh tay duỗi thẳng trên bàn, nếp khuỷu tay ngang mức với tim. Ngoài ra có thể đo ở các tư thế nằm, đứng. Đối với những người cao tuổi hoặc có bệnh đái tháo đường 4 (ĐTĐ) nên đo thêm HA tư thế đứng nhằm xác định có hạ HA tư thế hay không.
- Sử dụng huyết áp kế thủy ngân, huyết áp kế đồng hồ hoặc huyết áp kế điện tử (loại đo ở cánh tay). Các thiết bị đo cần được kiểm chuẩn định kỳ. Bề dài bao đo (nằm trong băng quấn) tối thiểu bằng 80% chu vi cánh tay, bề rộng tối thiểu bằng 40% chu vi cánh tay. Quấn băng quấn đủ chặt, bờ dưới của bao đo ở trên nếp lằn khuỷu 2cm.
Đặt máy ở vị trí để đảm bảo máy hoặc mốc 0 của thang đo ngang mức với tim. - Nếu không dùng thiết bị đo tự động, trước khi đo phải xác định đúng vị trí động mạnh cánh tay để đặt ống nghe. Bơm hơi thêm 30mmHg sau khi không còn thấy mạch đập. Xả hơi với tốc độ 2 - 3mmHg/nhịp đập.
HATT tương ứng với lúc xuất hiện tiếng đập đầu tiên (pha I của Korotkoff) và HATTr tương ứng với khi mất hẳn tiếng đập (pha V của Korotkoff). - Không nói chuyện khi đang đo HA. - Lần đo đầu tiên, cần đo HA ở cả hai cánh tay, tay nào có chỉ số HA cao hơn sẽ dùng để theo dõi HA về sau. - Nên đo HA ít nhất hai lần, mỗi lần đo cách nhau ít nhất 1 - 2 phút.
Nếu số đo HA giữa hai lần đo chênh nhau >10mmHg, cần đo lại một vài lần sau khi đã nghỉ trên 5 phút. Giá trị HA ghi nhận là trung bình của hai lần đo cuối cùng. - Trong trường hợp nghi ngờ, có thể theo dõi huyết áp bằng máy đo huyết áp tự động tại nhà hoặc bằng máy đo huyết áp tự động 24 giờ (Holter huyết áp). - Ghi lại chỉ số đo HA (mmHg) dưới dạng HATT/HATTr, không làm tròn quá hàng đơn vị và thông báo kết quả cho người được đo HA [1], [17], [35].
5 Dựa vào trị số HA đo được sau khi đo HA đúng quy trình, ngưỡng chẩn đoán THA thay đổi tùy theo từng cách đo HA: Bảng 1.1 Quy định các ngưỡng chẩn đoán tăng huyết áp theo từng cách đo huyết áp Nội dung HATT HATTr 1. Cán bộ y tế đo HA theo đúng ≥ 140 mmHg ≥ 90 mmHg quy trình 2. Đo bằng máy đo HA tự động ≥ 130 mmHg và/hoặc ≥ 80 mmHg 24 giờ 3. Tự đo HA tại nhà (đo nhiều ≥ 135 mmHg ≥ 85 mmHg lần) “Nguồn: Bộ Y tế, 2010 [1]” 1.3 Phân loại tăng huyết áp Phân loại THA có nhiều thay đổi trong những năm gần đây.
Theo JNC VII (năm 2003) phân độ THA như sau [48]: Bảng 1. Phân độ THA theo WHO/ISH (năm 2003) Huyết áp (mmHg) Phân độ THA Tâm thu Tâm trương HA bình thường < 120 Và < 80 Tiền THA 120 – 139 Hoặc 80 – 89 THA giai đoạn I 140 – 159 Hoặc 90 – 99 THA giai đoạn II ≥ 160 Hoặc ≥ 100 “Nguồn: JNC VII, 2003 [48]” 6 Theo Hội tim mạch học quốc gia Việt Nam và Bộ Y tế đã đưa ra cách phân độ như sau [1], [9], [13]: Bảng 1. Phân độ HA tại Việt Nam hiện nay Phân độ HA Tâm thu (mmHg) Tâm trương (mmHg) HA tối ưu < 120 Và < 80 HA bình thường 120 – 129 Và/hoặc 80 – 84 Tiền THA 130 – 139 Và/hoặc 85 – 89 THA độ 1 140 – 159 Và/hoặc 90 – 99 THA độ 2 160 – 179 Và/hoặc 100 – 109 THA độ 3 ≥ 180 Và/hoặc ≥ 110 THA tâm thu đơn độc ≥ 140 Và < 90 “Nguồn: Bộ Y tế Việt Nam, 2018 [1], [9], [13]” Nếu HATT và HATTr không cùng mức phân độ thì chọn mức cao hơn để xếp loại. Tăng HATT đơn độc được phân độ theo mức biến động của HATT.
Tăng HATT đơn độc: Ở người cao tuổi HATT có xu hướng tăng, HATTr có xu hướng giảm. Khi HATT ≥140 mmHg và HATTr <90 mmHg, bệnh nhân được gọi là THA tâm thu đơn độc. Sự gia tăng trị số HATT và HA hiệu số (HATT - HATTr) là yếu tố để tiên lượng các YTNC tim mạch [4].2 Các yếu tố nguy cơ tim mạch 1.1 Tuổi, giới tính Nguy cơ mắc bệnh tim mạch càng ngày càng gia tăng khi tuổi đời càng cao, theo thống kê có hơn 1/2 số người bị đột quỵ và 4/5 số người chết vì đột quỵ ở độ tuổi > 65 tuổi. Tuy nhiên thói quen ăn uống điều độ, sinh hoạt hợp lý và duy trì lối sống lành mạnh đã góp phần làm chậm quá trình thoái hoá do 7 tuổi gây ra [10], [47].
Nhìn chung, các yếu tố nguy cơ (YTNC) tim mạch chính như THA, tăng LDL-C, đái tháo đường (ĐTĐ), thừa cân/béo phì, hút thuốc lá (HTL) và lười vận động tác động lên tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành (BMV) là tương đương nhau giữa hai giới nam và nữ. Riêng YTNC HTL thì có tác động mạnh hơn đến nam, bên cạnh đó ít hoạt động thể lực thì tác động mạnh hơn ở nữ. Phân tích theo lứa tuổi thì tác động của 6 YTNC tim mạch trên lên tỷ lệ tử vong do BMV có mô hình khá giống nhau với đường cong tỷ lệ nam cao hơn nữ và có tác động lớn nhất sau 50 tuổi. Tuy nhiên ở nam giới, 3 yếu tố gồm chỉ số BMI cao, HTL, tăng cholesterol LDL có xu hướng tác động mạnh hơn ở lứa tuổi 50 - 75 tuổi, trong khi ảnh hưởng của các YTNC khác đến tử vong do BMV có xu hướng tăng mạnh hơn ở người cao tuổi (≥70 tuổi).2 Tính di truyền Nếu trong gia đình có người trẻ tuổi bệnh tim mạch (nam <55 tuổi, nữ <65 tuổi) thì sẽ có nguy cơ mắc BMV gấp hai lần người không có tiền sử gia đình mắc bệnh [3], [47].
Khi đó cần phải đặc biệt lưu ý làm giảm ảnh hưởng của bất kì YTNC nào có thể kiểm soát và cảnh giác để phòng tránh được các cơn đau tim và đột quỵ [10], [29]. Khi một nửa trong số các nguyên nhân gây chết hiện nay là do bệnh tim mạch thì hầu như gia đình nào cũng có người chết vì căn bệnh này [10]. Các YTNC gồm THA, tăng LDL-C, ĐTĐ, béo phì, HTL và lười vận động được xác định là các YTNC tim mạch chính, quan trọng nhất có thể thay đổi được và là nền tảng của việc dự đoán nguy cơ cũng như phòng ngừa nguy cơ tim mạch [3].3 Hút thuốc lá HTL là YTNC số một đối với đột tử và bệnh mạch máu ngoại vi,… Có 30 - 40% trong khoảng 500.000 trường hợp chết vì BMV hàng năm có 8 nguyên nhân từ HTL [10], [29]. Theo một kết quả thống kê có khoảng 10,7% HTL gây tử vong ở BMV.
Kết quả điều tra quốc gia của Bộ Y tế năm 2015 (18 - 69 tuổi) thì tỷ lệ HTL ở nam là 45,3% và ở nữ là 1,1% [5]. HTL làm tăng gấp hai lần nguy cơ bệnh tim mạch, người < 50 tuổi nguy cơ tim mạch ở những người HTL cao hơn gấp 5 lần so với những người không HTL. Tuy nhiên mối liên quan này có sự khác biệt giữa hai giới (nữ giới HTL thì nguy cơ nhồi máu cơ tim cấp cao hơn nam giới HTL). Tác hại của HTL thụ động cũng đã được chứng minh, nguy cơ bệnh tim mạch tăng 1,2 - 1,6 lần ở những người HTL thụ động.
Bỏ thuốc lá sau nhồi máu cơ tim cho thấy có giảm đáng kể nguy cơ biến cố tim mạch (khoảng 40% trong vòng hai năm) [3].4 Uống rượu, bia Hàng ngày mỗi người có thể uống 30ml rượu mạnh hoặc 120ml rượu vang hoặc 330 ml bia [1]. Sử dụng rượu/bia với mức cho phép có thể giúp ngăn ngừa xơ vữa động mạch và BMV. Ngược lại uống rượu/bia quá mức sẽ làm THA, tăng nguy cơ tổn thương gan và biến chứng thần kinh trung ương cũng như nhiều rối loạn khác [29], [31]. Điều tra Quốc gia của Bộ Y tế năm 2015 (18 - 69 tuổi) ghi nhận có 44,2 % nam uống rượu/bia ở mức gây hại [5].
Tăng Cholesrerol trong máu và các rối loạn lipid máu Theo điều tra Quốc gia của Bộ Y tế năm 2015 (18 - 69 tuổi) tỷ lệ tăng Cholesterol toàn phần (≥ 5,0 mmol/l) là 30,3% [5]. Có 25,1% nguyên nhân tử vong BMV là do tăng LDL- C. Tăng hàm lượng chất mỡ trong máu (cholesterol và triglycerid) rất thường gặp. Nồng độ cholesterol toàn phần trong máu là yếu tố dự báo mạnh về BMV và đột quỵ, khi chỉ số này có giá trị > 240mg/dl thì nguy cơ đột quỵ cao gấp 2 lần so với mức < 200mg/dl.
Trong trường hợp giảm 1,0 mmol/l cholesterol toàn phần sẽ giảm 50% tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch ở nhóm 40 - 49 tuổi và giảm 17% ở nhóm 70 - 79 tuổi [3]. 9 Hầu hết mỡ động vật đều chứa cholesterol, cholesterol tăng nhiều trong máu sẽ bị lắng đọng và tích luỹ quá mức ở tế bào nội mạc, dần dần hình thành các mảng đông lipid và phát triển thành những mảng xơ vỡ và tạo nên xơ vữa động mạch, làm cho thành mạch kém đàn hồi từ đó sẽ dẫn đến THA [36].6 Chế độ ăn Hạn chế các thức ăn có nhiều cholesterol và acid béo no, thường xuyên ăn các món luộc, hấp thay cho các món rán, chiên, quay, xào.