Tổng quan nghiên cứu

Bệnh tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây truyền chủ yếu qua đường tiêu hóa, thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi với nguy cơ bùng phát thành các ổ dịch phức tạp. Tại tỉnh Bắc Ninh, từ ca bệnh đầu tiên ghi nhận vào ngày 14 tháng 6 năm 2011, toàn tỉnh đã phát hiện 2.024 ca mắc trong giai đoạn 2011-2014, với đỉnh dịch đạt 1.070 ca vào năm 2012. Việc chưa có vắc xin phòng ngừa đại trà và thuốc điều trị đặc hiệu tại thời điểm đó đặt ra thách thức nặng nề cho công tác kiểm soát dịch bệnh tại cộng đồng.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là phân tích đặc điểm dịch tễ học bệnh tay chân miệng, đồng thời đánh giá toàn diện thực trạng năng lực quản lý, nguồn lực nhân sự, trang thiết bị và quy trình giám sát tại mạng lưới y tế dự phòng tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011-2014. Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi toàn bộ 8 huyện, thị xã, thành phố và 126 trạm y tế xã, phường thuộc tỉnh Bắc Ninh trong khung thời gian từ tháng 9 năm 2014 đến tháng 7 năm 2015.

Ý nghĩa của đề tài thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp ngành y tế địa phương chuẩn hóa quy trình điều tra ổ dịch trong vòng 48 giờ, duy trì mục tiêu 0% ca tử vong, giảm tỷ lệ mắc bệnh tại các vùng nguy cơ cao và nâng cao năng lực ứng phó dịch bệnh cho mạng lưới y tế cơ sở.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết dây chuyền dịch tễ học bệnh truyền nhiễm với ba mắt xích trọng tâm: nguồn truyền nhiễm (người mắc bệnh và người lành mang trùng), phương thức truyền nhiễm (lây trực tiếp qua dịch tiết mũi họng, phân hoặc gián tiếp qua bề mặt đồ chơi, dụng cụ sinh hoạt) và khối cảm nhiễm (trẻ em dưới 5 tuổi chưa có miễn dịch bảo vệ).

Đồng thời, nghiên cứu tích hợp mô hình giám sát dịch tễ học của Tổ chức Y tế Thế giới và hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm quốc gia theo Thông tư 48/2010/TT-BYT cùng Quyết định 4880/2002/QĐ-BYT. Ba khái niệm nền tảng được định nghĩa chuẩn xác gồm: ca bệnh lâm sàng (trẻ sốt kèm bọng nước lòng bàn tay, bàn chân, mông, gối), ổ dịch tay chân miệng (xuất hiện từ 2 ca mắc trở lên trong 7 ngày có liên hệ dịch tễ tại một địa bàn dân cư hoặc cơ sở giáo dục) và xét nghiệm khẳng định căn nguyên bằng kỹ thuật RT-PCR hoặc ELISA.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp giữa phương pháp định lượng và định tính. Dữ liệu định lượng thu thập từ khảo sát toàn thể 260 cán bộ chuyên trách công tác phòng chống dịch tại Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, 8 Trung tâm Y tế tuyến huyện và 126 Trạm Y tế tuyến xã, cùng 2.024 hồ sơ điều tra ca bệnh lưu trữ giai đoạn 2011-2014.

Phương pháp định tính thực hiện 5 cuộc thảo luận nhóm trọng tâm với 41 cán bộ quản lý và chuyên viên giám sát đại diện cho 4 huyện đồng bằng và 4 huyện trung du. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp điều tra toàn bộ mạng lưới nhân sự trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giúp phản ánh chính xác thực trạng phân bổ nguồn lực. Dữ liệu được quản lý bằng phần mềm EpiData và xử lý bằng phần mềm SPSS. Thống kê mô tả và kiểm định Chi-square với ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05 được lựa chọn nhằm phát hiện các sai biệt có ý nghĩa về cơ cấu nhân lực, trình độ chuyên môn và trang thiết bị giữa các vùng địa lý.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện thứ nhất về đặc điểm dịch tễ ghi nhận số mắc biến động lớn qua các năm: 55 ca năm 2011, tăng vọt lên 1.070 ca năm 2012, sau đó giảm còn 488 ca năm 2013 và 411 ca năm 2014. Trẻ dưới 5 tuổi chiếm tỷ lệ áp đảo trên 95% tổng số bệnh nhân, và toàn tỉnh không ghi nhận trường hợp tử vong nào.

Phát hiện thứ hai về cơ cấu nhân lực cho thấy trong 260 cán bộ giám sát, nam giới chiếm 56,2% (146 người) và nữ giới chiếm 43,8% (114 người) với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các huyện (p < 0,05). Trình độ chuyên môn chủ yếu là cao đẳng và trung cấp y với 69,7% (181 cán bộ), bác sĩ đại học chiếm 24,6% (64 cán bộ) và sau đại học chỉ đạt 5,0% (13 cán bộ). Nhóm cán bộ có thâm niên công tác phòng chống dịch trên 3 năm chiếm tới 78,8% (205 người).

Phát hiện thứ ba về năng lực chuyên môn chỉ ra 93,1% cán bộ đã được tập huấn chuyên sâu về giám sát tay chân miệng, 85,4% thực hiện đầy đủ các quy trình kỹ thuật, 97,3% nắm vững kế hoạch của địa phương và 98,1% thành thạo kỹ năng giám sát dịch tễ.

Phát hiện thứ tư về trang thiết bị và tài chính bộc lộ hạn chế lớn: toàn tỉnh chỉ có 01 hệ thống máy Real-time PCR và 02 hệ thống ELISA tại tuyến tỉnh; 2/8 huyện có ô tô chuyên dụng; 100% trạm y tế xã thiếu máy phun hóa chất công suất lớn. Đáng chú ý, chỉ có 43,8% đơn vị chủ động lập kế hoạch đề nghị chính quyền địa phương bổ sung kinh phí phòng chống dịch, còn 56,2% chưa chủ động đề xuất ngân sách.

Thảo luận kết quả

Diễn biến gia tăng ca mắc đột biến trong năm 2012 phản ánh chu kỳ lưu hành của virus đường ruột Enterovirus 71 và Coxsackievirus A16, phù hợp với xu hướng bùng phát dịch tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Việc Bắc Ninh duy trì thành công tỷ lệ tử vong 0% bắt nguồn từ việc áp dụng hiệu quả phác đồ phân tầng điều trị theo Quyết định 581/QĐ-BYT và phát hiện sớm các dấu hiệu chuyển độ nặng như giật mình, sốt cao khó hạ.

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ phân bố ca bệnh theo đường cong dịch tễ từng tuần và bảng ma trận thể hiện tương quan giữa trình độ chuyên môn với kết quả xử lý ổ dịch. So sánh với các nghiên cứu của Phan Công Hùng tại miền Nam (tỷ lệ mắc ở trẻ dưới 5 tuổi từ 87,4% đến 95,6%, tỷ lệ tử vong 0,16%), đặc điểm nhóm tuổi mắc bệnh tại Bắc Ninh có sự tương đồng hoàn toàn, nhưng kết quả khống chế tử vong đạt hiệu quả vượt trội nhờ mạng lưới giám sát cơ sở hoạt động chặt chẽ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tổ chức định kỳ 02 đợt tập huấn chuyên sâu mỗi năm về kỹ thuật lấy mẫu bệnh phẩm, phát hiện biến chứng thần kinh và xử lý môi trường cho 100% cán bộ trạm y tế xã trước tháng 3 hàng năm, do Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh chủ trì thực hiện.

Thứ hai, trang bị bổ sung ít nhất 01 máy phun hóa chất ULV công suất lớn cho mỗi Trung tâm Y tế huyện và cấp phát đầy đủ vật tư lấy mẫu cho 126 trạm y tế xã trong lộ trình 2016-2018, dưới sự điều phối của Sở Y tế tỉnh Bắc Ninh nhằm đảm bảo 100% ổ dịch được xử lý trong 48 giờ.

Thứ ba, chuẩn hóa quy trình lập dự toán tài chính, nâng tỷ lệ các đơn vị y tế cơ sở chủ động tham mưu Ủy ban nhân dân các cấp phê duyệt ngân sách phòng chống dịch từ 43,8% lên tối thiểu 90% vào năm 2017, đảm bảo nguồn kinh phí dự phòng luôn sẵn sàng tại chỗ.

Thứ tư, thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành Y tế và Giáo dục, thực hiện vệ sinh khử khuẩn đồ chơi, lớp học bằng dung dịch Cloramin B định kỳ 01 lần mỗi tuần tại 100% trường mầm non và nhóm trẻ gia đình trong các tháng cao điểm từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 11.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là cán bộ quản lý y tế dự phòng và chuyên viên dịch tễ tại các Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tuyến tỉnh, khai thác các bài học thực tiễn để xây dựng kế hoạch hành động phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm cấp địa phương.

Nhóm thứ hai là bác sĩ, nhân viên y tế tại Trung tâm Y tế tuyến huyện và Trạm Y tế tuyến xã, ứng dụng quy trình chuẩn về giám sát ca bệnh chỉ điểm, kỹ thuật khoanh vùng và tiêu độc khử trùng ổ dịch tay chân miệng tại cộng đồng.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên sau đại học và sinh viên các ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng, Bệnh truyền nhiễm, sử dụng làm tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang và kỹ thuật phân tích số liệu dịch tễ học bằng phần mềm SPSS.

Nhóm thứ tư là cán bộ quản lý ngành giáo dục mầm non và giáo viên nuôi dạy trẻ, tiếp cận bộ tiêu chí vệ sinh học đường và phương pháp nhận biết sớm triệu chứng bệnh để phối hợp kiểm soát dịch bệnh hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính gây ra các đợt bùng phát bệnh tay chân miệng tại Bắc Ninh là gì? Căn nguyên chủ yếu do virus đường ruột thuộc họ Picornaviridae, trong đó phổ biến nhất là Enterovirus 71 và Coxsackievirus A16. Chủng Enterovirus 71 có độc lực cao, dễ gây biến chứng viêm não, viêm màng não và phù phổi cấp, đòi hỏi hệ thống y tế phải giám sát thường xuyên.

Tại sao trẻ dưới 5 tuổi lại chiếm trên 95% tổng số ca mắc trong nghiên cứu? Trẻ dưới 5 tuổi có hệ thống miễn dịch chưa phát triển hoàn thiện và chưa có kháng thể đặc hiệu với các chủng Enterovirus. Ngoài ra, thói quen đưa tay vào miệng, ngậm đồ chơi và sinh hoạt tập trung tại các nhà trẻ tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh phát tán nhanh chóng.

Thực trạng phân bố trình độ chuyên môn của cán bộ y tế dự phòng Bắc Ninh ra sao? Khảo sát 260 cán bộ cho thấy trình độ cao đẳng và trung cấp y chiếm tỷ trọng lớn nhất với 69,7%, bác sĩ đại học chiếm 24,6% và sau đại học chiếm 5,0%. Dù lực lượng trung cấp chiếm đa số, kinh nghiệm thực tiễn trên 3 năm đạt 78,8% giúp duy trì tốt công tác thực địa.

Thời gian quy định để xử lý một ổ dịch tay chân miệng tại cộng đồng là bao lâu? Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, ngay khi ghi nhận ca bệnh hoặc ổ dịch, cơ quan y tế phải triển khai điều tra và xử lý triệt để trong vòng 48 giờ. Ổ dịch được xác định kết thúc khi qua 14 ngày liên tục không ghi nhận thêm ca mắc mới kể từ ngày khởi phát ca cuối cùng.

Khó khăn lớn nhất trong công tác phòng chống dịch tay chân miệng tại địa phương là gì? Khó khăn trọng tâm là sự thiếu hụt trang thiết bị xét nghiệm chuyên sâu tại tuyến cơ sở và tính thụ động về tài chính, khi có đến 56,2% đơn vị y tế chưa lập kế hoạch đề xuất chính quyền địa phương cấp kinh phí bổ sung cho hoạt động phòng chống dịch.

Kết luận

  • Toàn tỉnh Bắc Ninh ghi nhận 2.024 ca mắc tay chân miệng giai đoạn 2011-2014, đỉnh dịch rơi vào năm 2012 với 1.070 ca và không có ca tử vong.
  • Mạng lưới 260 cán bộ y tế dự phòng hoạt động rộng khắp tại 8 huyện thị, với 93,1% được đào tạo chuyên môn và 98,1% nắm vững quy trình giám sát.
  • Cơ cấu nhân lực còn mất cân đối khi cán bộ có trình độ trung cấp và cao đẳng chiếm tỷ lệ cao tới 69,7%.
  • Cơ sở vật chất kỹ thuật tuyến huyện, xã còn thiếu máy phun công suất lớn và 56,2% đơn vị chưa chủ động tham mưu kinh phí địa phương.
  • Phối hợp liên ngành Y tế - Giáo dục và xử lý ổ dịch trong 48 giờ là giải pháp then chốt để khống chế chuỗi lây lan mầm bệnh.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bức tranh dịch tễ học thực địa chuẩn xác và luận cứ thực tiễn để nâng cấp mạng lưới y tế dự phòng cơ sở. Trong giai đoạn 2016-2020, địa phương cần nhanh chóng triển khai lộ trình hiện đại hóa trang thiết bị kỹ thuật và đẩy mạnh chuẩn hóa trình độ nhân lực y tế. Các cấp chính quyền và cơ quan quản lý y tế cần tiếp tục đầu tư nguồn lực đồng bộ nhằm bảo vệ an toàn sức khỏe cho trẻ em và toàn thể cộng đồng.