Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn nhiều năm trở lại đây, Việt Nam ghi nhận trung bình mỗi năm xảy ra khoảng 650 vụ cháy rừng, gây tổn thất trung bình 4.340 ha rừng các loại, trong đó diện tích rừng trồng bị thiêu rụi chiếm tới 3.200 ha. Điển hình như năm 1998, cả nước bùng phát 1.685 vụ cháy rừng làm thiệt hại 20.398 ha và cướp đi sinh mạng của 12 người. Tỉnh Quảng Ninh được xác định là một trong những địa bàn trọng điểm về nguy cơ cháy rừng ở khu vực Đông Bắc. Thống kê cho thấy chỉ riêng năm 2007, toàn tỉnh xảy ra 24 vụ cháy rừng gây thiệt hại 527,59 ha; bước sang năm 2008 tiếp tục xảy ra 29 vụ cháy làm mất 96,12 ha rừng.

Huyện Hoành Bồ sở hữu tổng diện tích tự nhiên 84.332 ha, trong đó đất có rừng chiếm 53.885,32 ha với 16.092,14 ha là rừng trồng, chủ yếu gồm các loài cây dễ bắt lửa như thông đuôi ngựa (1.363,85 ha) và keo lai (11.280 ha). Trong vòng 10 năm từ tháng 01/2000 đến tháng 03/2010, huyện Hoành Bồ đã xảy ra 74 vụ cháy rừng làm thiệt hại 223 ha tài nguyên rừng. Mặc dù công tác dự báo phòng cháy chữa cháy rừng đã được triển khai từ cuối thập niên 1980, các mô hình dự báo hiện hành vẫn chủ yếu áp dụng chung cho phạm vi vùng rộng lớn, chưa phản ánh đúng đặc thù cấu trúc và vi khí hậu từng loại rừng trồng địa phương.

Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp của tác giả Đặng Anh Quỳnh, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Bế Minh Châu tại Trường Đại học Lâm nghiệp, tập trung nghiên cứu tính thích hợp của các phương pháp dự báo cháy rừng hiện đang áp dụng cho rừng trồng tại huyện Hoành Bồ. Đề tài hướng tới mục tiêu đánh giá chính xác sai số của các chỉ tiêu dự báo khí tượng và độ ẩm vật liệu cháy, từ đó đưa ra các giải pháp kỹ thuật nâng cao độ tin cậy của hệ thống cảnh báo sớm, góp phần giảm thiểu thiệt hại kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái bền vững cho địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết hệ sinh thái rừng và lý thuyết tam giác lửa trong cháy rừng, khẳng định sự hình thành đám cháy là kết quả tương tác giữa vật liệu cháy, nguồn nhiệt và oxy (chiếm 21% thể tích không khí). Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: độ ẩm vật liệu cháy, chỉ số khô hạn liên tục, khả năng bén lửa của thảm thực bì và thang phân cấp nguy cơ cháy rừng gồm 5 cấp độ (từ cấp I - không nguy hiểm đến cấp V - cực kỳ nguy hiểm).

Khung lý thuyết dự báo được xây dựng dựa trên mô hình chỉ tiêu khí tượng tổng hợp của V.G. Nesterov, tính toán qua tích số giữa nhiệt độ không khí lúc 13 giờ, độ hụt điểm sương và số ngày không mưa. Mô hình này được tiếp nối và phát triển qua phương pháp cải tiến của Tiến sĩ Phạm Ngọc Hưng với việc đưa vào hệ số điều chỉnh theo ngưỡng lượng mưa ngày 5 mm (ký hiệu P5) và chỉ số ngày khô hạn liên tục H. Ngoài ra, nghiên cứu còn kết hợp mô hình hiệu chỉnh vận tốc gió của chuyên gia FAO A.N. Cooper, chỉ số bắt cháy của Yangmei và phương pháp phân cấp nguy cơ cháy theo ngưỡng lượng mưa 7 mm (ký hiệu P7) do Cơ quan Kiểm lâm vùng I đề xuất.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập qua điều tra thực địa kết hợp dữ liệu thứ cấp về chuỗi khí tượng và 74 vụ cháy rừng lịch sử giai đoạn 2000-2010 do Hạt Kiểm lâm Hoành Bồ lưu trữ. Phương pháp chọn mẫu điển hình được áp dụng trên 3 trạng thái rừng trồng đại diện: rừng thông mã vĩ 29-30 tuổi (cấp tuổi VI), rừng thông mã vĩ 6-7 tuổi (cấp tuổi II) và rừng keo lai 4-5 tuổi.

Tại mỗi trạng thái rừng, nghiên cứu thiết lập cỡ mẫu gồm 3 ô tiêu chuẩn có diện tích 500 m2 (tổng cộng 9 ô tiêu chuẩn đại diện). Để xác định độ tàn che tầng cây cao, độ che phủ thảm tươi và tỷ lệ che phủ thảm khô, phương pháp điều tra 90 điểm ngẫu nhiên hệ thống trong mỗi ô tiêu chuẩn được triển khai nhằm đảm bảo tính khách quan và loại bỏ sai số chủ quan. Cấu trúc tầng cây bụi và thảm tươi được thu thập thông qua 5 ô dạng bản diện tích 25 m2 bố trí tại 4 góc và trung tâm ô tiêu chuẩn. Trọng lượng vật liệu cháy khô và tươi được cân sấy định lượng trên các ô mẫu 1 m2.

Dữ liệu vi khí hậu và độ ẩm vật liệu cháy được quan trắc thực nghiệm vào 13 giờ hàng ngày trong 34 ngày liên tục (từ ngày 13/03/2010 đến ngày 15/04/2010), đối chiếu với trạm khí tượng của Cơ quan Kiểm lâm vùng I cách khu vực nghiên cứu từ 4 km đến 19 km. Phương pháp phân tích hồi quy toán học và mô hình hàm logarit được lựa chọn nhờ khả năng mô tả chính xác phi tuyến mối quan hệ suy giảm độ ẩm vật liệu cháy theo thời gian khô hạn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, phân tích chuỗi 74 vụ cháy rừng giai đoạn 2000-2010 tại Hoành Bồ cho thấy tính quy luật mùa vụ sâu sắc: có tới 57 vụ cháy (chiếm 77,03%) tập trung vào 4 tháng mùa khô hanh gồm tháng 11 (22,97%), tháng 12 (21,63%), tháng 1 (14,86%) và tháng 2 (17,57%). Ngược lại, 4 tháng giữa mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 9 chỉ xuất hiện 2 vụ cháy (chiếm 2,70%).

Thứ hai, cấu trúc lâm phần và lượng vật liệu cháy có sự khác biệt rõ rệt giữa các loài cây và cấp tuổi. Rừng thông 29-30 tuổi tích lũy khối lượng vật liệu cháy lớn nhất đạt 20,47 tấn/ha (trong đó vật liệu cháy khô là 4,28 tấn/ha, bề dày thảm khô đạt 10,33 cm), cao gấp 3,6 lần so với rừng keo 4-5 tuổi (chỉ đạt tổng cộng 5,69 tấn/ha với 1,70 tấn/ha vật liệu cháy khô và bề dày thảm 5,21 cm). Tuy nhiên, rừng thông non 6-7 tuổi lại có nguy cơ bùng phát cháy tán nguy hiểm nhất do chiều cao dưới cành rất thấp, chỉ đạt trung bình 0,70 m, kết hợp độ che phủ thảm tươi lên đến 63,91% và mật độ dày 913 cây/ha.

Thứ ba, kiểm định độ chính xác của các phương pháp dự báo hiện hành chỉ ra tỷ lệ phát hiện cháy ở các cấp nguy hiểm cao (cấp IV và cấp V) chỉ đạt 48,65% đối với chỉ tiêu P5 và 52,70% đối với chỉ số H. Đáng lưu ý, vẫn có 8,11% số vụ cháy bùng phát khi chỉ tiêu P5 đang ở cấp I (không nguy hiểm) và 18,92% số vụ xảy ra ở cấp II; đối với chỉ số H, tỷ lệ cháy ở cấp I lên tới 17,57%.

Thứ tư, phân tích hồi quy tương quan xác nhận mô hình hàm logarit phản ánh chặt chẽ nhất mối quan hệ giữa độ ẩm vật liệu cháy và chỉ tiêu khí tượng. Chỉ tiêu hiệu chỉnh P7 đạt hệ số tương quan R dao động từ 0,75 đến 0,88 với sai số tiêu chuẩn chỉ từ 10,94% đến 21,7%, vượt trội hoàn toàn so với chỉ tiêu P5 truyền thống trên cả 3 trạng thái rừng.

Thảo luận kết quả

Mối quan hệ giữa độ ẩm vật liệu cháy và các chỉ tiêu dự báo P5, P7, H có thể được mô tả trực quan thông qua các biểu đồ phân tán đám mây điểm (scatter plot) kết hợp đường cong hồi quy dạng lõm. Đồ thị thực nghiệm trong 34 ngày quan sát cho thấy một nghịch lý lớn của phương pháp P5: trong các đợt mưa phùn nhỏ từ ngày 29/03 đến ngày 01/04/2010 với lượng mưa dưới 5 mm, độ ẩm vật liệu cháy thực tế tăng vọt từ 24% lên 69%, triệt tiêu khả năng bắt lửa của thảm thực bì. Dẫu vậy, do quy ước hệ số k = 1 khi lượng mưa dưới 5 mm, chỉ số P5 vẫn tiếp tục tăng từ 3.236 lên 4.938 điểm, dẫn đến dự báo báo động giả ở cấp rất nguy hiểm.

Chỉ tiêu P7 đã khắc phục triệt để nhược điểm này bằng cách sử dụng hệ số giảm dần theo công thức tỷ lệ linh hoạt giữa lượng mưa thực tế và ngưỡng 7 mm. So sánh với các nghiên cứu trước đây tại khu vực Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ, việc nâng ngưỡng lượng mưa lên 7 mm và tính toán hệ số k suy giảm là hoàn toàn phù hợp với cơ chế giữ ẩm của thảm mục rừng nhiệt đới gió mùa.

Bên cạnh yếu tố khí tượng, nhân tố con người giữ vai trò kích hoạt nguồn lửa chính trong 74 vụ cháy được khảo sát. Việc các vụ cháy vẫn xuất hiện ở cấp dự báo I và II bắt nguồn từ tập quán đốt dọn nương rẫy, hun khói lấy ong và đốt cỏ chăn thả gia súc bất cẩn của cư dân tại các xã vùng cao như Bằng Cả, Hòa Bình và Thống Nhất.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuyển đổi chính thức công thức tính nguy cơ cháy rừng sang phương pháp chỉ tiêu tổng hợp P7 với ngưỡng lượng mưa hiệu chỉnh 7 mm. Cơ quan Kiểm lâm vùng I và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh cần phối hợp phê duyệt và ban hành quy trình tính toán hệ số k linh hoạt trong vòng 6 đến 12 tháng tới, nhằm giảm sai số cảnh báo vi khí hậu xuống dưới mức 15%.

Thứ hai, áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh điều chỉnh vật liệu cháy đối với từng đối tượng rừng trồng. Các chủ rừng và Ban Quản lý rừng phòng hộ Hoành Bồ cần tổ chức phát dọn thực bì cục bộ, tỉa cành nâng cao chiều cao dưới cành của rừng thông non 6-7 tuổi từ 0,70 m lên tối thiểu 1,50 m, đồng thời cày rạch đường băng cản lửa tại các lâm phần thông già 29-30 tuổi có khối lượng thảm khô vượt quá 10 tấn/ha, đặt mục tiêu giảm thiểu 30% nguy cơ hình thành cháy tán trong 2 năm tới.

Thứ ba, thiết lập mạng lưới trạm quan trắc khí tượng tự động chuyên dụng tại các tiểu vùng trọng điểm cháy. Hạt Kiểm lâm Hoành Bồ cần phối hợp với chính quyền địa phương lắp đặt 2 đến 3 trạm đo nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa tự động tại các khu vực xa trung tâm trong giai đoạn 2011-2012, nhằm thu hẹp khoảng cách đo đạc từ cự ly 16-19 km hiện nay xuống dưới 5 km, bảo đảm dữ liệu đầu vào chuẩn xác cho mô hình dự báo.

Thứ tư, xây dựng và thực thi các quy ước phòng cháy chữa cháy rừng cộng đồng tại các xã vùng sâu. Ủy ban nhân dân các xã Bằng Cả, Hòa Bình, Thống Nhất cần chủ trì xây dựng các cam kết quản lý nguồn lửa theo mùa, tổ chức tập huấn kỹ năng đốt nương an toàn cho 100% hộ dân sinh sống ven rừng trước tháng 10 hàng năm, hướng tới mục tiêu cắt giảm 80% số vụ cháy do bất cẩn sinh hoạt.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ quản lý và chuyên viên kỹ thuật thuộc Cục Kiểm lâm, Chi cục Kiểm lâm các tỉnh miền núi phía Bắc và Hạt Kiểm lâm địa bàn: Luận văn cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về việc ứng dụng chỉ tiêu P7 và ngưỡng mưa 7 mm, hỗ trợ trực tiếp công tác xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ cháy và phát hành bản tin cảnh báo cháy rừng hàng ngày cho 16.092,14 ha rừng trồng.

Thứ hai, chủ rừng, ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và các công ty lâm nghiệp: Nghiên cứu cung cấp định mức cụ thể về tải lượng vật liệu cháy của rừng thông (20,47 tấn/ha) và rừng keo (5,69 tấn/ha), giúp đơn vị xây dựng kế hoạch phân bổ nguồn lực, bố trí đường băng cản lửa và thiết kế lịch tuần tra phòng cháy tối ưu trong 4 tháng cao điểm mùa khô.

Thứ ba, các nhà khoa học, giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng: Tài liệu đóng vai trò là công trình tham khảo giá trị về phương pháp tích hợp số liệu vi khí hậu thực địa với cấu trúc lâm phần và mô hình toán thống kê trong sinh thái học cháy rừng.

Thứ tư, sinh viên và học viên cao học thuộc khối ngành tài nguyên môi trường: Công trình mang lại case study điển hình về phương pháp thiết lập 9 ô tiêu chuẩn, kỹ thuật đo đạc 90 điểm hệ thống và quy trình xử lý thống kê tương quan hồi quy giữa vật liệu cháy và dữ liệu thời tiết.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp chỉ tiêu P5 truyền thống bộc lộ nhược điểm gì lớn nhất tại Hoành Bồ? Phương pháp P5 quy ước hệ số k = 1 cho mọi trận mưa dưới 5 mm, khiến chỉ số tích lũy nguy cơ cháy vẫn tiếp tục tăng cao trong những ngày có mưa nhỏ từ 1 mm đến 3 mm, dù độ ẩm vật liệu cháy thực tế đã tăng vọt lên mức an toàn từ 24% đến 69%.

Vì sao rừng thông 6-7 tuổi lại có nguy cơ chuyển thành cháy tán cao hơn rừng thông 29-30 tuổi? Mặc dù có tổng khối lượng vật liệu cháy thấp hơn (8,87 tấn/ha so với 20,47 tấn/ha), rừng thông 6-7 tuổi có chiều cao dưới cành rất thấp chỉ 0,70 m, mật độ dày 913 cây/ha và độ che phủ thảm tươi lên tới 63,91%, tạo cầu nối trực tiếp đưa ngọn lửa từ mặt đất bốc thẳng lên tán cây.

Chỉ tiêu P7 với ngưỡng lượng mưa 7 mm mang lại ưu thế vượt trội nào? Chỉ tiêu P7 sử dụng hệ số k biến thiên linh hoạt theo tỷ lệ lượng mưa ngày, giúp mô hình phản ánh sát độ ẩm vật liệu cháy với hệ số tương quan đạt từ 0,75 đến 0,88 và duy trì sai số tiêu chuẩn ở mức thấp từ 10,94% đến 21,7%.

Mùa cao điểm cháy rừng tại huyện Hoành Bồ kéo dài trong những tháng nào? Mùa nguy hiểm nhất diễn ra từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau, chiếm tới 77,03% tổng số vụ cháy trong 10 năm khảo sát, trùng khớp với thời kỳ gió mùa Đông Bắc khô hanh khi lượng mưa mùa khô chỉ chiếm khoảng 10% tổng lượng mưa cả năm.

Tại sao có tới 48,65% số vụ cháy lại xảy ra ở các cấp dự báo dưới cấp cực kỳ nguy hiểm? Hiện tượng này xuất phát từ yếu tố bất cẩn của con người khi sử dụng lửa trong sinh hoạt và sản xuất nông lâm nghiệp, kết hợp với các biến động khô hạn cục bộ của thảm thực bì mà trạm khí tượng cách xa từ 16 km đến 19 km chưa ghi nhận kịp thời.

Kết luận

  • Phân tích toàn diện 74 vụ cháy rừng trong 10 năm tại huyện Hoành Bồ, xác định mùa cháy trọng điểm tập trung 77,03% vào các tháng từ tháng 11 đến tháng 2.
  • Định lượng chi tiết đặc điểm cấu trúc và tải lượng vật liệu cháy của 3 trạng thái rừng trồng, ghi nhận khối lượng thảm cháy rừng thông già đạt đỉnh 20,47 tấn/ha và phát hiện nguy cơ cháy tán nghiêm trọng ở rừng thông non do cành thấp 0,70 m.
  • Chứng minh các hạn chế cốt lõi của chỉ tiêu P5 và chỉ số H khi chỉ bao quát được khoảng 48,65% đến 52,70% số vụ cháy ở các cấp nguy hiểm cao, thường xuyên phát sinh báo động giả khi gặp mưa phùn.
  • Khẳng định tính ưu việt của chỉ tiêu P7 với ngưỡng mưa 7 mm, đạt độ tương quan cao từ 0,75 đến 0,88 và sai số tiêu chuẩn thấp từ 10,94% đến 21,7%.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật lâm sinh, trạm đo tự động và quản lý cộng đồng với lộ trình thực hiện từ 6 đến 12 tháng.

Công trình nghiên cứu của tác giả Đặng Anh Quỳnh là tài liệu khoa học có giá trị thực tiễn cao, cung cấp cơ sở vững chắc để các cơ quan quản lý lâm nghiệp hoàn thiện quy trình dự báo nguy cơ cháy rừng. Các đơn vị quản lý tài nguyên và chủ rừng tại tỉnh Quảng Ninh cần sớm đưa chỉ tiêu P7 vào ứng dụng thực tế nhằm bảo vệ an toàn diện tích rừng trồng và duy trì cân bằng sinh thái địa phương.