Đặt vấn đề Hệ sinh thái rừng đóng vai trò rất quan trọng đối với con người và duy trì sự sống trong môi trường, là một bộ phận không thể tách rời trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đóng góp vào sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Trong những năm gần đây, ngành lâm nghiệp đang có những bước tăng trưởng đáng kể. Rừng không chỉ cung cấp nguyên liệu như gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ cho một số ngành sản xuất mà quan trọng hơn là các lợi ích của rừng trong việc duy trì và bảo vệ môi trường, làm hạn chế xói mòn, điều tiết nguồn nước, hạn chế lũ lụt, điều hòa khí hậu, các giá trị cảnh quan, bảo tồn đa dạng sinh học. Với các lợi ích hữu hình lẫn vô hình trên thì việc bảo vệ tài nguyên rừng hết sức được chú trọng, đặc biệt là công tác phòng cháy chữa cháy rừng.
Cháy rừng để lại hậu qủa vô cùng nghiêm trọng, bao gồm: cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, ô nhiểm môi trường lũ lụt xói mòn (nếu cháy rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ), mất cân bằng sinh thái, kinh tế… Những hệ lụy này hàng chục năm sau con người cũng không thể khắc phục được. Vì vậy công tác PCCCR rất quan trọng trong việc bảo vệ rừng, việc thực hiện đầy đủ các biện pháp tổ chức, kinh tế, xã hội, pháp chế, khoa học công nghệ, tuyên truyền, giáo dục, cảnh báo, dự báo,… và điều tiết các hoạt động của con người trong và gần rừng; xây dựng các công trình phòng lửa nhằm ngăn chặn không để xảy ra cháy rừng. Số liệu cập nhật mới nhất từ Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NNPTNT) cho thấy, tính đến 30/11/2020, cả nước đã xảy ra 179 vụ cháy rừng, giảm 92 vụ (giảm 35%) so với cùng kỳ năm 2019. Diện tích thiệt hại do cháy là 645 ha, giảm 1.331 ha (giảm 68%) so với cùng kỳ năm 2019, thiệt hại ước tính mất hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm, đó chưa kể đến những ảnh hưởng xấu về môi trường sống, cùng những thiệt hại do làm tăng lũ lụt ở những vùng hạ lưu và làm giảm tính đa dạng sinh học, phá vỡ cảnh quan, tác động xấu đến an ninh quốc phòng.
Ngoài ra còn gây tổn hại đến tính mạng và tài sản của con người. 1 Vườn quốc gia Bù Gia Mập được chuyển hạng từ khu bảo tồn thiên nhiên Bù Gia Mập theo quyết định số 170/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2002 của thủ tướng chính phủ nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững tại địa phương và khu vực. Trước hết, Vườn quốc gia Bù Gia Mập được thành lập để bảo tồn và phát triển mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng kín thường xanh trên đồi núi thấp có độ cao dưới 1.000m và đại diện cho khu vực chuyển tiếp từ Tây Nguyên xuống đồng bằng Nam bộ. Lâm phần của Vườn quốc gia Bù Gia Mập có tổng diện tích là 25.598,24 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 25.134 ha rừng giàu, 1.310 ha rừng trung bình, 169 ha rừng nghèo, 304,8 ha rừng phục hồi, rừng hỗn giao 17.851 ha, và rừng tre nứa, lồ ô 1.
Đây là nơi lý tưởng phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học nhằm bảo tồn nguồn gien quý hiếm của các loài động, thực vật. Với hệ sinh thái rừng thường xanh có độ che phủ trên 90%, Vườn quốc gia Bù Gia Mập góp phần phòng hộ và điều tiết nguồn nước cho các hồ thủy điện và hồ thủy lợi vùng hạ du sông Bé. Với đặc trưng là rừng kín thường xanh nên khả năng cháy ít nhưng bên cạnh đó một số khu vực lại đặc trưng là hệ sinh thái tre nứa khá phát triển nên nguy cơ cháy luôn tiềm ẩn, có đường quốc lộ đi xuyên qua lâm phần của Vườn nên khó trong việc kiểm soát nguồn lửa và là rừng giáp biên giới với nước bạn Campuchia nên nguy cơ cháy lan sang rất cao. Xuất phát từ những thực tiễn trên tôi xin thực hiện đề tài; “Đánh giá Thực trạng công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại Vườn Quốc Gia Bù Gia Mập, Tỉnh Bình Phước” để bổ sung vào cơ sở xây dựng phương án phòng cháy chữa cháy tại đơn vị, hạn chế nguy cơ cháy rừng, góp phần bảo vệ và phát triển vốn tài nguyên rừng của Vườn quốc gia.
Mục tiêu đề tài 2.1 Mục tiêu tổng quát Kết quả đề tài nhằm cung cấp các thông tin về đặc điểm vật liệu cháy dưới tán, góp phần làm cơ sở để xây dựng biện pháp PCCCR tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập.2 Mục tiêu cụ thể Để đạt được mục tiêu trên, đề tài cần đạt được các mục tiêu cụ thể sau: 2 - Đánh giá phân tích được thực trạng và ảnh hưởng của vật liệu cháy dưới tán đến cháy rừng tại Vườn Quốc Gia Bù Gia Mập - Đánh giá được thực trạng công tác PCCCR giai đoạn 2017 - 2022 - Đề xuất được một số giải pháp thực hiện công tác PCCCR. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm: 1. Khái niệm về cháy rừng: Trong tài liệu về quản lý lửa rừng, FAO đưa ra khái niệm về cháy rừng và đến nay thường được sử dụng: “Cháy rừng là sự xuất hiện và lan truyền của những đám cháy trong rừng mà không nằm trong sự kiểm soát của con người, gây nên những tổn thất nhiều mặt về tài nguyên, của cải và môi trường”.
Phân loại cháy rừng: - Cháy dưới tán rừng (cháy trên bề mặt đất rừng): Cháy dưới tán rừng là những đám cháy mà ngọn lửa cháy lan tràn trên mặt đất làm tiêu hủy một phần hoặc toàn bộ lớp thảm mục, cành khô, lá rụng, cỏ khô, thảm tươi, cây bụi, cây tái sinh cháy sém vỏ và một phần nào đó ở gốc cây, rễ cây nổi lên trên mặt đất và ở sát mặt đất. Cháy dưới tán rừng là loại cháy thường xảy ra nhiều nhất, lửa cháy lan nhanh, nhưng ngọn lửa nhỏ không vươn lên tán cây rừng, thường là ở dưới đoạn phân cành. Loại cháy này thường gặp ở những kiểu rừng thưa, rừng phân bố trên địa hình tương đối dốc, các sa van trong đó cây bụi, thảm cỏ chiếm ưu thế và ở những khu rừng khô, rụng lá theo mùa, rừng trồng có tầng thảm mục khô nhỏ nhưng không dày lắm. Ở các sa van cỏ và cây bụi, cháy lan theo chiều gió rất nhanh nhưng chóng tàn.
Cháy dưới tán rừng tiêu huỷ hầu hết các loài cây tái sinh dưới tán rừng, thân và gốc cây lớn cháy sém hoặc cháy nham nhở để lại nhiều vết tích, cành lá trên tán khô. - Cháy tán rừng (cháy trên ngọn): Cháy tán rừng là hình thức cháy được phát triển từ cháy dưới tán cháy lên đến tán rừng. Khi cháy dưới tán, ngọn lửa sẽ đốt nóng và sấy khô tán rừng sau đó cháy qua thảm cây bụi, các cây tái sinh rồi cháy lên tán rừng và ngọn lửa sẽ cháy lan từ tán này lan sang tán khác. Cháy tán rừng thường xuất hiện ở kiểu rừng có mật độ tán dày của những loài cây có dầu, khi có gió mạnh và thời tiết nóng hạn kéo dài.
Cháy tán có hai loại: Cháy ổn định (cháy toàn bộ tán rừng) và cháy lướt nhanh. - Cháy ngầm: Là loại cháy mà ngọn lửa cháy lan tràn dưới mặt đất làm tiêu 4 hủy lớp mùn, than bùn và tiêu hủy những vật liệu hữu cơ khác đã được tích lũy dưới lớp đất mặt trong nhiều năm. Trong loại cháy ngầm, lửa có thể cháy lan xuống ở các tầng hữu cơ nằm sâu từ 0,8 m - 1 m, thậm chí có thể sâu tới vài mét. Đặc trưng của loại cháy này là tốc độ lan truyền chậm (0,5 - 5,0 m/ngày), cháy âm ỉ, mép cháy không có ngọn lửa hoặc bùng cháy lên rất nhỏ mỗi khi có gió thổi, ít khói và thường khó nhận thấy.
Cháy ngầm hay xảy ra ở các khu rừng Tràm vùng Tây Nam bộ. Điển hình của loại cháy này là 2 vụ cháy rừng tràm lớn tại U Minh Thượng thiệt hại 2.712 ha và U Minh Hạ thiệt hại 2.703 ha trong mùa khô 2001 – 2002.2: Khái niệm vật liệu cháy: Vật liệu cháy là 1 trong 3 thành phần của Tam giác lửa, đặc điểm tính chất của VLC sẽ ảnh hưởng toàn diện đến đặc điểm, tính chất của đám cháy. VLC trong rừng cũng có chung quy luật đó. VLC dưới tán rừng là một trong những nguồn vật liệu ảnh hưởng và quyết định khá rõ nét đến cháy rừng.
Đồng thời nó phụ thuộc mật thiết vào các nhân tố như: đặc điểm lâm phần (loại rừng, loại cây rừng, tuổi rừng, nguồn gốc rừng, kiểu trạng thái rừng, …), đặc điểm về thời tiết khí hậu (mùa trong năm, nhiệt độ, độ ẩm, mưa gió, …), đặc điểm địa hình, đặc điểm về khoa học công nghệ trong công tác PCCCR. Vật liệu cháy là tất cả các chất có khả năng bén lửa và bốc cháy trong điều kiện có đủ nguồn nhiệt và Oxy. Vật liệu cháy ở trong rừng bao gồm: cành khô, lá rụng, thảm mục, thảm tươi, các bộ phận khác nhau của cây, mùn và than bùn. Vật liệu cháy trong rừng được xem là nhân tố nền tảng của cháy rừng.
Những đám cháy rừng thường được kiểm soát thông qua sự tác động vào nguồn vật liệu cháy. Nhìn chung độ ẩm vật liệu cháy được coi là nguy hiểm đối với sự xuất hiện cháy rừng ở thời điểm ban đầu thường dưới 30%. Tính chất và sự phân bố của vật liệu cháy trong không gian ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển của đám cháy. Vì vậy, trong việc phân tích bất kỳ một đám cháy nào cũng cần quan tâm đến vật liệu cháy.
Những đặc trưng quan trọng của vật 5 liệu cháy ảnh hưởng đến cháy rừng bao gồm: kích thước, sự sắp xếp, độ ẩm, khối lượng và dạng vật liệu. Phân loại VLC: theo phân bố không gian thẳng đứng trong rừng, VLC được chia thành ba tầng: + VLC trong không khí hay VLC trên cao, bao gồm toàn thể thân cây rừng (cả cây sống hoặc cây chết) và hệ tán rừng. Trong đó, thân cây chết khô, cành khô còn vướng trên cây và đặc điểm của tán cây có nhựa, có dầu,. góp phần quan trọng trong quá trình bén lửa + VLC mặt đất bao gồm tất cả những thể hữu cơ ở trên mặt đất rừng như cành cây, lá rơi khô mục, gốc cây, thân cây đổ, thảm cỏ và cây bụi.
Chiều cao của lớp vật liệu cháy này có thể đến 1 – 2 m. Ngoài ra còn có thể kể cả phần thảm mục đang phân hủy và hệ thống rễ cây khô phân bố gần mặt đất. + VLC dưới mặt đất bao gồm các chất hữu cơ, tầng rễ cây, than bùn,. tích tụ dưới mặt đất rừng.