CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ RỪNG 1. KHÁI QUÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ RỪNG 1. Các khái niệm liên quan a. Quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội, xuất hiện rất lâu trong lịch sử loài người và được các nhà tư tưởng, các nhà triết học, các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau tìm hiểu, nghiên cứu.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, quản lý khi là động từ mang ý nghĩa: quản là “trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”; lý là “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định” [6]. Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác quản lý là “thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: quản và lý” [6]. Quá trình quản gồm “sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái ổn định; quá trình lý gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào thế phát triển” [6]. Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ “ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đã định trước [19].
Trong phạm vi nghiên cứu này, quản lý được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Việc tác động theo cách nào còn tùy thuộc vào góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như các tiếp cận của người nghiên cứu. Quản lý nhà nước Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước, là một dạng của quản lý xã hội [20]. Đây là một quá trình phức tạp, đa dạng.
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước đề cập đến chức năng của cả bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập hiến, lập pháp, hoạt động hành pháp đến hoạt động tư pháp. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành của cơ quan quản lý nhà nước. Hoạt động này chủ yếu giao cho hệ thống cơ quan hành chính thực hiện, đó là các chủ thể quản lý. Quản lý nhà nước không phải là sự quản lý đối với nhà nước mà là sự quản lý có tính chất nhà nước, của nhà nước đối với xã hội [20].
Quản lý nhà nước được thực hiện bởi quyền lực nhà nước. Như vậy, quản lý nhà nước mang tính chất quyền lực nhà nước, có tính chất tổ chức cao, mang tính mệnh lệnh của nhà nước. Quản lý nhà nước mang tính tổ chức và điều chỉnh chủ yếu, kế hoạch và mang tính liên tục. Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng QLNN về bảo vệ rừng là một bộ phận của QLNN nên nó có những đặc “ trưng vốn có, ngoài ra nó có chủ thể, đối tượng quản lý riêng.
Có thể khái quát QLNN về bảo vệ rừng là quá trình các chủ thể QLNN xây dựng chính sách, ban hành pháp luật và sử dụng công cụ pháp luật trong hoạt động quản lý nhằm đạt được yêu cầu, mục đích BVR nhà nước đã đặt ra [14]. Cụ thể hơn, QLNN về bảo vệ rừng là quá trình các cơ quan, cá nhân trong bộ máy nhà nước đề ra các chủ trương, chính sách, xây dựng hệ thống văn bản pháp luật và sử dụng nó để điều chỉnh các hoạt động quản lý nhằm đạt được những yêu cầu, mục đích của mình về bảo vệ rừng [19]. ” Như vậy, quản lý nhà nước về bảo vệ rừng là tổng hợp các hoạt động về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các quy định pháp luật của các cơ quan cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã có chức năng theo phân khúc trong 13 Luật Lâm nghiệp, Luật Đất đai và các quy định khác có liên quan đối với quản lý rừng (rừng sản xuất, phòng hộ, đặc dụng). Đặc điểm quản lý nhà nước về bảo vệ rừng - Rừng là đối tượng quản lý nhà nước đặc thù [10] Rừng là nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo và có tính chất quyết định trong việc bảo vệ môi trường sinh thái toàn cầu; rừng bao gồm các yếu tố “ thực vật, động vật, vi sinh vật, đất rừng, các yếu tố này có quan hệ liên kết cùng tạo nên hoàn cảnh rừng đặc trưng.
Rừng Việt Nam gắn bó chặt chẽ với đời sống của hàng triệu người dân sống trong rừng và gần rừng; diện tích rừng quốc gia được chia thành 3 loại theo chức năng và công dụng của các yếu tố để quản lý gồm: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất. Vì vậy, QLNN về bảo vệ rừng phải áp dụng những cơ chế, chính sách, các quy định pháp luật khác nhau phù hợp với mục đích chủ yếu đối với từng loại rừng. QLNN về bảo vệ rừng phải tiến hành đồng bộ các công cụ quản lý, phát huy sức mạnh của cộng đồng để đạt được mục tiêu và chương trình hành động bảo vệ rừng [10]. - Đặc trưng về chủ thể chịu sự quản lý [10] Chủ thể chịu sự QLNN về bảo vệ rừng là tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động bảo vệ rừng; các chủ thể chịu sự quản lý rất đa dạng, thuộc nhiều thành phần kinh tế và mỗi loại hình chủ thể có địa vị pháp lý khác nhau.
Trong đó, các chủ rừng là chủ thể chịu sự quản lý chủ yếu bao gồm: các cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân; các tổ chức kinh tế như lâm trường, công ty lâm nghiệp; các ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; các tổ chức, cá nhân nước ngoài được nhà nước giao, cho thuê rừng là chủ thể chịu sự quản lý của nhà nước trực tiếp và chủ yếu nhất. Mỗi loại chủ thể nói trên có những đặc trưng riêng: các Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được nhà nước giao rừng, giao đất để phát 14 triển rừng. Các tổ chức kinh tế được nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê đất để phát triển rừng hoặc công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, nhận chuyển quyền sử dụng rừng, nhận chuyển quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng. Các hộ gia đình, cá nhân trong nước được nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê đất để phát triển rừng hoặc công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, nhận chuyển quyền sử dụng rừng, nhận chuyển quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng.
Các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư tại Việt Nam được nhà nước cho thuê rừng, cho thuê đất để phát triển rừng nên QLNN về bảo vệ rừng đòi hỏi nhà nước phải chú trọng nghiên cứu, áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp với những đối tượng chủ thể cụ thể. Mặt khác phải coi trọng và tăng cường biện pháp giáo dục, thuyết phục và giải thích pháp luật, chế độ, chính sách của đảng, nhà nước; đồng thời kết hợp bảo vệ rừng với phát triển kinh tế - văn hóa nông thôn miền núi [10]. - Khách thể quản lý nhà nước trong bảo vệ rừng [10] Khách thể QLNN về bảo vệ rừng là trật tự QLNN về bảo vệ rừng; trật tự này được quy định trước hết và chủ yếu trong các quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng như qui định về tổ chức bộ máy quản lý, quyền định đoạt của nhà nước, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể chịu sự quản lý…nhằm đạt được mục đích quản lý bảo vệ rừng của nhà nước. Vai trò của quản lý nhà nước về bảo vệ rừng Nhà nước với tư cách là chủ thể đặc biệt tham gia quản lý, bảo vệ rừng “ bằng việc xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách bảo vệ rừng thống nhất từ Trung ương đến địa phương theo từng giai đoạn cụ thể.
Theo đó, các địa phương, các bộ, ngành có liên quan cụ thể hóa các cơ chế, chính sách bằng việc xây dựng kế hoạch bảo vệ rừng và có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ đem lại kết quả tốt nhất. 15 Hoạt động quản lý của nhà nước về bảo vệ rừng là tất yếu, thường xuyên, liên tục và không thể thiếu [7]. Song song với hoạt động bảo vệ rừng, Nhà nước đồng thời ban hành cơ chế chính sách về khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên rừng hợp lý nhằm phục vụ nền kinh tế, nhu cầu cuộc sống, văn hóa, xã hội của đất nước, đồng thời tái tạo, phát triển vốn rừng và làm giàu rừng. Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng là nhằm thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước, sự thiết lập và thực thi những khuôn khổ thể chế cùng với những quy định có tính chất pháp quy để duy trì, bảo tồn và phát triển rừng [7].
Vì thế, việc quản lý, sử dụng, bảo vệ và phát triển rừng phải tuân theo quy hoạch, kế hoạch mang tính chiến lược, lâu dài đã được Nhà nước phê duyệt. Uỷ ban nhân dân các cấp, các Bộ, ngành có liên quan trong quá trình quản lý phải tuân theo những yêu cầu nhất định. Yêu cầu chung là coi trọng và đề cao vai trò của QLNN hướng tới mô hình Nhà nước pháp quyền. QLNN được thực hiện trên mọi lĩnh vực và mọi thành phần kinh tế.
Đối với mỗi lĩnh vực phải thể hiện quyền lực, sự kiểm soát, giám sát, điều chỉnh của Nhà nước ở lĩnh vực đó nhằm đảm bảo các hoạt động đúng với pháp luật, phù hợp với quyền và nghĩa vụ của mọi công dân và các tổ chức xã hội. Nguyên tắc quản lý nhà nước về bảo vệ rừng - Bảo đảm sự quản lý tập trung thống nhất của nhà nước [7] Rừng có vai trò rất to lớn đối với cuộc sống của con người, đối với nền kinh tế cho thấy việc nhà nước thống nhất quản lý trong lĩnh vực bảo vệ rừng là cần thiết; điều đó sẽ đảm bảo cho việc duy trì mục tiêu chung của cả xã “ hội. Quyền quản lý tập trung thống nhất của nhà nước được thực hiện theo luật pháp và được thể hiện trên nhiều mặt như: quyền giao đất, giao rừng, cho thuê rừng đối với các tổ chức hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn 16 bản, quyền định giá rừng, quyền chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ của chủ rừng và xử lý những hành vi vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng.