Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Quản lý rừng bền vững (QLRBV) hiện nay đã và đang trở thành nguyên tắc đối với công tác quản lý bảo vệ rừng nói chung đồng thời cũng là tiêu chuẩn mà quản lý kinh doanh rừng phải đạt tới. Khái niệm chung nhất về quản lý rừng bền vững được thống nhất như sau: Quản lý rừng bền vững phải đảm bảo ba mục tiêu cơ bản là: 1) Giữ vững sản xuất lâm nghiệp ổn định và phát triển lâu dài, đạt hiệu quả kinh tế cao; 2) Bảo vệ và duy trì được diện tích và năng suất của rừng, không gây ô nhiễm môi trường sống; 3) Góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội của địa phương như tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập. Hiện nay trên toàn thế giới cũng như từng quốc gia, việc quản lý rừng không bền vững đã và đang là nguyên nhân làm suy giảm diện tích rừng và năng suất, chất lượng rừng.
Nhiều loài cây và động vật hoang dã ngày càng ít và bên bờ vực tuyệt chủng, môi trường sống của chúng bị đe doạ nghiêm trọng như lũ lụt, khô hạn, xói lở đắt ngày một gia tăng. Đời sống của người dân nhất là ở các cộng đồng địa phương sống trong và gần rừng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Quản lý tài nguyên rừng trên thế giới Rừng bao phủ 31,2 % diện tích đất liền trên thế giới (chiếm khoảng 4,1 tỷ ha) vào năm 2020. Theo tổ chức FAO thế giới mất khoảng 100 triệu ha rừng trong 20 năm qua.
Nạn phá rừng đang ngày càng gia tăng ở khu vực châu Phi cận Sahara và khu vực Đông Nam Á. Nguyên nhân của nạn phá rừng để lấy đất sử dụng cho các hoạt động như: sản xuất nông nghiệp, xây dựng nhà máy, khu du lịch. cùng với đó là nhu cầu phát triển kinh tế xã hội ngày càng lớn dẫn đến nhu cầu sử dụng tài nguyên ngày càng cao. Xu hướng 5 quản lý rừng bền vững là tất yếu nhằm mục đích duy trì và nâng cao giá trị kinh tế, đồng thời đảm bảo về ổn định hệ sinh thái và môi trường.
Hệ sinh thái rừng rất phức tạp và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bên ngoài. Do đó, các tiêu chí để quản lý rừng bền vững phải liên tục thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh mới. Các tiêu chí này phải phản ánh bối cảnh của quốc gia và các điều kiện sinh thái, môi trường cụ thể cũng như các khía cạnh xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa và tinh thần (Internationak Union for Conservation of Nature, 2008). Thách thức đối với hệ thống chứng nhận rừng toàn cầu là việc xây dựng một cách tiếp cận đủ linh hoạt để phản ánh các hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia, nhưng cũng cần phải phù hợp với các yêu cầu của quốc tế.
Cách tiếp cận này cần đảm bảo các yêu cầu thực tiễn và các tiêu chí thực tế để quản lý rừng bền vững trên phạm vi toàn cầu và cần được cập nhật liên tục để kết hợp các kiến thức mới cũng như thay đổi theo mong đợi (Internationak Union for Conservation of Nature, 2008). Tại Thụy Điển, việc quản lý rừng bền vững phải tuân thủ các quy định pháp luật. Tất cả các khu rừng sau khi thu hoạch phải được tái sinh, trồng rừng mới theo kế hoạch. Ngoài Luật về lâm nghiệp, Thụy Điển cũng áp dụng hệ thống các chứng nhận quốc tế tự nguyện FSC và PEFC.
Khoảng 2/3 diện tích đất lâm nghiệp của Thụy Điển đã được chứng nhận theo các quy tắc này (Robert Munroe, 2013). Chính phủ Thụy Điển luôn đánh giá cao tầm quan trọng của nguồn tài nguyên vô hạn là rừng, khi được quản lý đúng cách. Trong quá trình phát triển, cây xanh hấp thụ CO2 từ khí quyển. Trong suốt vòng đời, các sản phẩm gỗ tiếp tục hấp thụ và cô lập CO2.
Trong một năm điển hình, sự kết hợp giữ việc thu hoạch rừng của Thụy Điển và tổng lượng CO2 hấp thu đã vượt hơn 6 lượng phát thải CO2 từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch trong vận tải (Robert Munroe, 2013). Thông qua sự kết hợp giữa quản lý rừng và sử dụng dư lượng gỗ đã khai thác để sản xuất năng lượng và các sản phẩm từ gỗ, Thụy Điển có thể giảm đáng kể lượng khí thải CO2. Kinh nghiệm quản lý rừng bền vững của Thụy Điển kích thích tăng trưởng ròng, đồng thời bảo vệ đa dạng sinh học. Đây có thể được xem như một mô hình quan trọng để giảm tác động của khí hậu trên toàn thế giới.
Canada nắm giữ 9% diện tích rừng trên thế giới. Một hệ thống rừng sinh trưởng và phát triển khỏe mạnh sẽ đóng góp không nhỏ vào sức khỏe của hệ sinh thái toàn cầu. Quản lý rừng bền vững rất quan trọng đối với Canada, không chỉ giúp cân bằng sự cạnh tranh trong ngắn hạn mà còn bảo đảm các thế hệ sau có thể hưởng lợi từ rừng (Nguyễn Hồng Nhung, 2017). Quản lý rừng bền vững ở Canada được hỗ trợ bởi luật pháp, các quy định, chính sách, quy trình lập kế hoạch quản lý rừng nghiêm ngặt và cách tiếp cận dựa vào khoa học để đưa ra quyết định (Nguyễn Hồng Nhung, 2017).
Năm 1992, Canada thông qua các nguyên tắc quản lý rừng bền vững trên toàn quốc. Cho đến nay, Canada là nước đứng đầu thế giới về quản lý rừng bền vững, áp dụng trên khoảng 94% diện tích đất lâm nghiệp của quốc gia này (Nguyễn Hồng Nhung, 2017). Một khuôn khổ lớn về luật, quy định, chính sách liên bang và hướng dẫn thực hành quản lý rừng bền vững đã được áp dụng rộng rãi ở Canada. Luật và chính sách được thực hiện trong sự cởi mở và hợp tác tham vấn rộng rãi của công chúng.
Người dân Canada mong muốn tham gia vào quá trình ra quyết định và cân bằng các lợi ích (Nguyễn Hồng Nhung, 2017). 7 Các công ty lâm nghiệp của Canada muốn khai thác trên đất công phải xây dựng kế hoạch quản lý rừng phù hợp với luật về rừng, phù hợp với các nguyên tắc quản lý rừng bền vững. Các công ty này cũng cần tham khảo ý kiến từ công chúng và các chuyên gia trong ngành để đảm bảo rằng kế hoạch phát triển của mình không làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng (Nguyễn Hồng Nhung, 2017). Hưởng ứng mạnh mẽ các vấn đề quản lý rừng bền vững các hiệp hội về rừng đã ra đời, như: - Hội tiêu chuẩn Canada (CSA) Năm 1993.
- Hội đồng quản trị rừng (FSC) Năm 1994. - Sáng kiến lâm nghiệp bền vững (SFI) năm 1994. - Tổ chức nhãn sinh thái Indonesia (LEI) năm 1998. - Hội đồng chứng chỉ gỗ Malaysia (MTCC) năm 1998.
- Chứng chỉ rừng Chi lê (Certfor Chile) năm 1999. - Chương trình phê duyệt chứng chỉ rừng (PEFC) năm 1999. Từ đó, phương thức Quản lý rừng bền vững được hầu hết các nước nông nghiệp tiên tiến và các quốc gia đang phát triển có rừng cần quản lý bền vững tự nguyện tham gia. Quản lý tài nguyên rừng Việt Nam Việt Nam tham giá quá trình QLRBV từ năm 1998 tới nay.
Được sự ủng hộ từ Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các Bộ ngành, các cơ quan quản lý nhà ngước ở địa phương, sự tham gia tự nguyện của các chủ rừng, tiến trình quản lý rừng bền vững đã đạt một số tiến bộ đáng kể. Đặc biệt là tại các vùng trồng và khai thác gỗ nguyên liệu, chế biến gỗ xuất khẩu. Theo kết quả theo dõi diễn biến rừng toàn quốc tính đến ngày 13 tháng 4 năm 2021, diện tích có rừng toàn quốc là 14,67 triệu ha. Trong đó có 10,28 triệu ha rừng tự nhiên (chiếm 70 %), 4,39 triệu ha rừng trồng (chiếm 30 %).
Tỷ lệ che phủ rừng đạt 42,01 %. 8 Xây dựng, cập nhật hệ thống chính sách và thể chế được xác định là một giải pháp quan trọng để thực hiện Chiến lược PTLN Việt Nam giai đoạn 2006- 2020 và được triển khai trong Chương trình đổi mới thể chế, chính sách, lập kế hoạch và giám sát ngành của Chiến lược. Bộ NN&PTNT đã chủ trì và phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan thẩm quyền ban hành và tổ chức thưc hiện nhiều văn bản quy phạm pháp luật về lâm nghiệp. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã thể chế hoá kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về lâm nghiệp, tạo khung pháp lý để các cấp, các ngành tổ chức triển khai thực hiện phát triển lâm nghiệp.
Cùng với xu thế hội nhập với quốc tế, Việt Nam đã và đang thúc đẩy các hoạt động quản lý rừng bền vững. Việt Nam đã tham gia quá trình quản lý rừng bền vững từ năm 1998 đến nay, tuy nhiên diện tích rừng được cấp chứng chỉ còn hạn chế, đặc biệt là vùng nguyên liệu gỗ, chế biến gỗ xuất khẩu. Nghiên cứu về phân loại và chức năng rừng đặc dụng 1. Phân loại rừng đặc dụng Theo quy định tại khoản 2, Điều 5 của Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14 quy định rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo tồn di tích lịch sử - văn hoá, tín ngưỡng, danh lam thắng cảnh kết hợp du lịch sinh thái; nghỉ dưỡng, giải trí trừ phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dung; cung ứng dịch vụ môi trường rừng bao gồm: - Vườn quốc gia; - Khu dự trữ thiên nhiên; - Khu bảo tồn loài và sinh cảnh; - Khu bảo vệ cảnh quan bao gồm rừng bảo tồn di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh, rừng tín ngưỡng; rừng bảo vệ môi trường đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao; 9 - Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học; vườn thực vật quốc gia; rừng giống quốc gia.