MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của nước ta. Rừng có vai trò to lớn đối với con người, không những cung cấp gỗ, củi mà còn là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội, giữ chức năng sinh thái quan trọng, rừng tham gia vào quá trình đièu hòa khí hậu, đảm bảo chu chuyển oxy và các nguyên tố cơ bản khac trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, rửa trôi,. làm giảm nhẹ sức tàn phá của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước và chông ô nhiêm không khí bảo vệ môi trường. Rừng tự nhiên của nước ta hiện nay hầu hết đều la rừng thứ sinh ở những mức độ thoái hóa khác nhau.
Nguyên nhân chủ yếu là do con người khai thac lạm dụng, đốt nương làm rẫy. Độ che phủ của rừng 43% năm 1943 đến nay chỉ còn 40,0% năm 2014. Nhưng chủ yếu là rừng trồng mới, trữ lượng và chất lượng kém, tính đa dạng sinh học giảm. Trong những năm qua Đảng và nhà nước ta đã có những chính sách để làm tăng diện tích rừng.
Từ khi Chính Phủ có chỉ thị 286/TTg (02/05/1997) về tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng, cấm khai thác rùng tự nhiên nên tốc độ phục hồi rừng đã khả quan hơn. Để đạt được những kết quả trên, Chính Phủ đã giao quyền sủ dụng đất rừng cho các tổ chức, cá nhân, các hộ gia đình trồng chăm sóc và quản lý bảo vệ. Những chính sách này đã góp phần tích cực trong việc tăng diện tích rừng, giảm diện tích đất chống đồi núi trọc và rừng đã dần phục hồi trở lại. Có được những kết quả đó là do những cơ chế chính sách trên của chính phủ đã bước đầu tạo dudowdj sự chuyển n 2 biến theo hướng xã hội hóa nghề rừng, làm cho rừng có chủ và người dân chủ động tham gia quản lý bảo vệ phát triển rừng.
Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng thuộc địa bàn huyện Võ Nhai, Tỉnh Thái Nguyên là một khu rừng nguyên sinh đặc dụng, được nhà nước công nhận la khu di tích khảo cổ. Khu bảo tồn thiên Thần Sa - Phượng Hoàng được thành lập ngày tháng 12 năm 1999 với diện tích là 17.474,9 ha theo quyết định số 3841/QĐ - UB cua Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Khu vực này có hệ thống sinh thái núi đá vôi độc đáo, có tính đa dạng sinh học cao với nhiều nguồn gen động thực vật quý hiếm, là nơi lưu trữ và la nơi cư chú của nhiều loài động thực vật hiếm như: Vọoc đen má trắng, khỉ lông vàng, cu li lớn, nhiều loài cây như: Đinh, Lát hoa, Nghiến và nhiều hệ sinh thái cũng như các loài hoang dã khác mang tính đặc trưng của núi đá vôi. Theo số liệu thống kê của các nhà khoa học, khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng không những đa dạng về các kiểu sinh thái rừng mà hệ thực vật ở đây cũng rất phong phú và đa dạng về thành phần loài, về thuần loài thực vật có mạch ở đây lên đén 1.096, về động bước đầu ghi nhận được 56 loài thú, 117 loài chim, 28 loài bò sát và 11 loài lưỡng cư.
Trong đó cả thực vật và động vật rừng có trong sách đỏ Việt Nam và IUCN thế giới. Nhưng thực trạng tài nguyên rừng của khu bảo tồn đang dần suy thoái do những tác động của con người như: Đốt nương làm rẫy, chăn thả gia súc khai thác gỗ để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của con người. Kết quả là dẫn đến làm giảm diện tích rừng các loài động; thực vật rừng đang dần bị giảm đi. Việc nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học cho công tác quản lý, bảo vệ, phục hồi và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên là rất cần thiết, trong đó đánh giá các nguy cơ gây suy thoái rừng là một khâu cơ bản không thể thiếu.
n 3 Bên cạnh đó viêc áp dụng những kiến thức học được để giải quyết những vấn đề thực tiễn cụ thể là rất quan trọng. Xã Nghinh Tường là một xã nằm trong trung tâm của khu bảo tồn, với 12 xóm thì có 5 xóm nằm trong vùng lõi của Khu bảo tồn, các tác động của người dân có ảnh hưởng trực tiếp đến khu bảo tồn. Trước thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá các nguy cơ gây suy thoái rừng tại xã Nghinh Tường thuộc khu bảo tồn thiê Thần Sa - Phượng Hoàng ” làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng và bảo vệ khu bảo tồn. Từ đó đề xuất ra các biện phát nhằm khắc phục các nguy cơ gây suy thoái rừng, phục hồi rừng phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học theo hướng bền vững tại địa bàn nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu Đánh giá được tính đa dạng sinh học (ĐDSH) và xác định được các nguy cơ suy thoái rừng tại xã Nghinh Tường thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được hiện trạng các loại rừng tự nhiên tại xã Nghinh tường thuộc khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Thần Sa - Phượng Hoàng. - Đánh giá các nguy cơ gây suy thoái rừng, làm ảnh hưởng tới diện tích và tính đa dạng sinh học của rừng. - Đề xuất các giải phát quản lý, sử dụng nhằm bảo tồn và phát triển bền vững tính đa dạng sinh học, các biện phát làm giảm nguy cơ gây suy thoái rừng tại khu vực nghiên cứu.
Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài - Trong học tập và nghiên cứu khoa học: Giúp sinh viên kiểm chứng lại những kiến thức lý thuyết đã học biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế. n 4 Đề tài thực hiện nhằm góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc đánh giá tính đa dạng sinh học các loài thực vật và nguy cơ gây suy thoái rừng. Đề ra công tác quản lý bảo vệ rừng ở địa phương nói riêng và các KBT, VQG nói chung. - Trong thực tiễn sản xuất Kết quả của đề tài góp phần đánh giá được tính đa dạng, nguy cơ gây suy thoái rừng, hiện trạng sử dụng rừng, tiềm năng phát triển rừng.
Đồng thời đưa ra các giải pháp bảo tồn và phát triển quản lý rừng tại khu bảo tồn Thần Sa - Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. n 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Đa dạng sinh học không những cung cấp trực tiếp những phúc lợi cho xã hội như: lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng, năng lượng mà còn có giá trị đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ sinh học ứng dụng thực tiễn trong sản xuất nông lâm nghiệp, là một cấu thành quan trọng trong chiến lược đảm bảo an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên và quy hoạch phat triển chưa hợp lý đã tác động to lớn tới đa dạng sinh học, gây suy thoái đa dạng sinh học.
- Đa dạng về gen di truyền được thể hiện bởi sự đa dạng về gen trong mỗi loài. - Đa dạng về loài sự đa dạng phong phú của các loài khác nhau cùng sinh sống trên một khu vực nhất định. - Đa dạng về hệ sinh thái sự khác nhau giữa các hệ sinh thái Suy thoái đa dạng sinh học dẫn tới mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người, đe dọa sự phát triển bền vững của trái đất. Do vậy khi hệ sinh thái bị suy thoái sẽ ảnh hưởng tới an ninh lương thực làm cho con người phải đối mặt với nguy cơ đói nghèo suy giảm nguồn gen và đặc biệt là biến đổi khí hậu dẫn đến hàng loạt các thảm họa thiên nhiên đe dọa cuộc sống của con người (4); (5).
Tình hình hiện nay cho thấy việc khôi phục và bảo vệ các hệ sinh thái, nguồn tài nguyên rừng, sự đa dạng loài và đa dạng di truyền để bảo tồn đa dạng sinh học, ngăn chặn sự diệt vong của các loài quý hiếm là một việc làm cấp bách. n 6 Suy thoái rừng là một trong những vấn đề mấu chốt chưa được giải quyết trong cuộc tranh luộn nhằm đi đến thỏa thuận cho cơ chế REDD tại hội nghị thượng đỉnh các quốc gia thành viên lần thứ 15 về biến đổi khí hậu (COP15). Các vấn đề sau đây đã có tác động chính đến những kết quả của tranh luận này và xác định triển khai thực thi chính sách REDD+: Định nghĩa suy thoái rừng: hiện thế giới vẫn chưa có định nghĩa thống nhất mang tính toàn cầu cho suy thoái rừng. Điều này cẳn trở nỗi lực công nhận và đo lường tác động của nó vì các định nghĩa được dùng trong REDD+ có ảnh hưởng tới cường độ suy thoái rừng đóng góp vào tổng lượng phát thải khí nhà kính.
Do vậy các đại biểu của hội nghị đã nhất trí suy thoái rừng được định nghĩa là hiện tượng suy giảm đo được do con người gây ra làm suy giảm trữ lượng dự trữ cacbon tại các vùng rừng tại một thời gian nhất định (3). Cường độ suy thoái rừng: Suy thoái đang diễn ra đang diễn ra bất kể độ che phủ rừng có giảm đi, ổn định hay đang tăng lên. Ở một số nước có độ che phủ cao, suy thoái rừng có thể là xuc tác cho việc mất rừng và làm tăng phát thải, giảm trữ lượng cacbon. Tại những nước có độ che phủ thấp, rừng suy thoái không bị ảnh hưởng bởi việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng.
Những trường hợp này có thể có khả năng phục hồi lại trữ lượng cacbon (4). Đánh giá suy thoái rừng: suy thoái rừng là nguyên nhân gây giảm dự trữ cacbon, ảnh hưởng đến trạng thái chung của rừng một cách khó nhận thấy hơn so với việc mất rừng. Điều này đòi hỏi phải có những biện pháp đo lường, giám sát trực tiếp để biết được rõ hơn về những tác động này. Giải quyết các suy thoái rừng: Suy thoái rừng chỉ được giải quyết nếu hệ thống quản trị rừng và thị trường đưa ra các động lực thích hợp cho việc quản lý rừng bền vững và nếu quyền của các bên liên quan, đặc biệt là người sử dụng rừng ở địa phương được chỉ ra rõ ràng.
Tại mỗi quốc gia nguyên nhân trực tiếp và tiềm ẩn của nguyên nhân suy thoái rừng cần phải được xác n 7 định để đảm bảo rằng các quyết định và ưu đãi tạo thuận lợi cho việc quản lý rừng bền vững hơn là để rừng bị mất và tiếp tục suy thoái (3).