Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lược về trạng thái rừng Hiện nay trên thế giới có 10 hệ thống hướng dẫn phân loại rừng, đất rừng, các loại hình sử dụng đất, khu bảo tồn đang được nhiều quốc gia xem xét và sử dụng trong quá trình xây dựng chính sách và hệ thống phân loại rừng. Các hệ thống hướng dẫn phân loại này chủ yếu dựa vào 3 yếu tố chính: (i) điều kiện sinh cảnh tự nhiên, (ii) mục dich sử dụng và (iii) theo loại hình sở hữu rừng (Pham Thu Thủy và ctv, 2020). Tuy nhiên các hệ thống hướng dẫn phân loại rừng hiện nay trên toàn cầu chỉ mang tính hướng dẫn tham khảo, không mang tính quy chuẩn các nước phải tuân theo.
Xu thế chung của 62 quốc gia cho thấy phần lớn các quốc gia phân rừng thành 3-5 loại dé đạt được 8 mục tiêu quan lý chính: (1) phòng hộ, (11) bảo dam giá tri bảo tồn đa dạng sinh học; (iii) san xuất; (iv) rùng đô thị; (v) rừng phục vụ an sinh xã hội; (vi) rừng đa mục đích; (vii) rừng tín ngưỡng: va (viii) an ninh quốc phòng. Khi phân loại rừng, các tổ chức và các quốc gia đều cân nhắc dựa trên mục tiêu chính trị, xã hội, môi trường và kinh tế, vấn đề ưu tiên của ngành lâm nghiệp, khả năng xây dựng hệ thống theo dõi, giám sát và đánh giá cho các loại rừng này để có thể báo cáo với quốc tế. Từ đó, mỗi quốc gia tùy vào bối cảnh và mục tiêu phát triển kinh tế, chính trị, xã hội cũng như tầm nhìn, định hướng phát triển bền vững của ngành lâm nghiệp trong tông thé phát triển chung của quốc gia dé tự xây dựng hệ thống phân loại rừng phù hợp. Cân nhắc và tham khảo hệ thống hướng dẫn quốc tế và hài hòa trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam cũng như các nước khác thiết kế được hệ thong chính sách phù hợp và hiệu qua (Pham Thu Thuy va ctv, 2020).
Các kiểu rừng khác nhau có sự khác nhau về các chỉ tiêu lâm học, cũng như cùng một kiểu rừng nhưng ở các vùng sinh thái khác nhau thì các chỉ tiêu lâm học cũng khác nhau. Điều này đã được Trần Văn Con (2008) chứng minh trong kết quả nghiên cứu xác định đặc điểm lâm học của rừng sản xuất là rừng thứ sinh nghèo (thuộc trang thái rừng IIIA¡) ở 5 vùng sinh thái trọng điểm: Tây Nguyên, Đông Nam bộ, Duyên hải miền Trung, Bắc Trung bộ và Tây Bắc. Hệ thống phân loại trạng thái rừng: - Trước năm 2009, việc phân loại trạng thái rừng nước ta dựa vào quy phạm ngành 6-84. - Đến năm 2009, Bộ NNPTNT ra văn bản phân loại rừng theo Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10 tháng 6 năm 2009 “Quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng”.
Theo đó, căn cứ theo trữ lượng (M, m*/ha) các trạng thái rừng được phân loại như sau: a) Rừng rat giàu: trữ lượng cây đứng trên 300 m”⁄ha; b) Rừng giàu: trữ lượng cây đứng từ 201- 300 m*/ha; c) Rừng trung bình: trữ lượng cây đứng từ 101 - 200 m’/ha; d) Rừng nghèo: trữ lượng cây đứng từ 10 đến 100 m”/ha; đ) Rừng chưa có trữ lượng: rừng gỗ đường kính bình quân < § em, trữ lượng cây đứng dưới 10 m*/ha. - Hiện nay, Việt Nam đang áp dụng Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT, về quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng, các trạng thái rừng được phân chia dựa trên các tiêu chí về mục đích sử dụng, nguồn gốc hình thành, điều kiện lập địa, thành phần loài cây và trữ lượng rừng. Trong đề tài này, tác giả áp dụng cách phân chia theo loài cây, điều kiện lập dia và trữ lượng rừng. Kiểu rừng lá rộng thường xanh được quy định dựa trên thành phần loài cây, trong đó thành phần chủ yếu là các loài thực vật thân gỗ lá rộng với tỉ lệ trên 75%, lá rừng xanh quanh năm.
Theo quy định phân chia dựa vào trữ lượng áp dụng với rừng gỗ, trạng thái rừng được chia thành 5 kiểu như sau: a) Rừng giàu: trữ lượng cây đứng lớn hon 200 m*/ha; b) Rừng trung bình: trữ lượng cây đứng từ lớn hơn 100 đến 200 m*/ha; c) Rừng nghèo: trữ lượng cây đứng từ lớn hơn 50 đến 100 m”⁄ha; d) Rừng nghèo kiệt: trữ lượng cây đứng từ 10 đến 50 m’*/ha; đ) Rừng chưa có trữ lượng: trữ lượng cây đứng dưới 10 m*/ha. Quy cách phân loại rừng theo Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT được áp dụng trong suốt các hoạt động điều tra kiểm kê rừng giai đoạn 2016 — 2020, cho đến nay vẫn còn sử dụng. Theo tài liệu hướng dẫn xây dựng và biên tập bản đồ điều tra, kiểm kê rừng được ban hành kèm theo Quyết định số 689/QD-TCLN-KL ngày 23/12/2013 của Tổng cục Lâm nghiệp, kiểu rừng lá rộng thường xanh được kí hiệu là TX và trạng thái rừng nghẻo là TXN. Những nghiên cứu về đặc điểm lâm học rừng tự nhiên trên thế giới Khi nghiên cứu về rừng, các nhà lâm học đặc biệt quan tâm đến thành phần loài và vai trò của chúng trong quần xã.
Nhiều nhà lâm học (Curtis, 1950; Richards, 1952; Van Steenis, 1956; Baur, 1976) (Trích dẫn Thái Văn Trừng, 1978) cho rằng: mỗi loại rừng được hình thành bởi những loài cây khác nhau, vì thế khi phân tích tổ thành rừng, nhà lâm học cần phải xác định chính xác tên loài cây và tỷ trọng của mỗi loài. Theo Richards (1952), khi phân tích những đặc trưng lâm học của rừng, nhà lâm học cần phải làm rõ những điều kiện hình thành (khí hậu, địa hình, địa chất, hoạt động của con người và sinh vật) kết cấu, cấu trúc và chức năng của những thành phần hình thành rừng. Nghiên cứu đặc điểm lâm học của rừng, A. Theo Melekhov (1989), trong lâm học, khi nói đến đặc điểm lâm học của rừng người ta thường dé cập đến thành phan và tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, cau trúc đường kính, cấu trúc chiều cao, cấu trúc trữ lượng và tiết diện ngang của rừng, phương hướng quá trình tái sinh và hình thành rừng, điều kiện môi trường rừng (khí hậu, thé nhưỡng, địa hình.) đặc điểm lớp cây bụi và thảm cỏ.
Cấu trúc tổ thành Tổ thành loài là một trong những chỉ tiêu cấu trúc quan trọng, cho biết số loài cây và tỷ lệ của mỗi loài hay một nhóm loài cây nào đó trong lâm phần. Ngoài ra, thông qua tô thành loài cây, người ta có thể biết được mức độ đa dạng sinh học, tính ồn định và bền vững của hệ sinh thái. Curtis và McIntosh (1951) (dan theo Nguyễn Văn Thêm, 2010) đã sử dụng chỉ số giá trị quan trọng (IVI%) (IVI - Important value index) dé biéu thị vai trò của các loài cây gỗ trong quan xã thực vật (QXTV). Chi số IVI là giá trị trung bình hoặc tong của ba tham số: độ thường gặp tương đối của loài (F%), mật độ tương đối của loài (N%) và tiết điện ngang thân cây tương đối của loài (G%).
Tổ thành rừng thực vật là một chỉ tiêu quan trọng dé đánh giá sự phong phú của hệ thực vật rùng tại các vùng địa sinh học khác nhau.W (1952), trong rừng mưa nhiệt đới, trên mỗi hectare luôn có hơn 40 loài cây gỗ, có trường hợp còn trên 100 loài. Nhiều loài cây gỗ lớn sinh trưởng hỗn giao với nhau theo tỷ lệ khá đồng đều, nhưng cũng có khi có một hoặc hai loài chiếm ưu thế. Trong rừng mưa nhiệt đới ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài thân cỏ còn có nhiều loài cây leo đủ hình dáng và kích thước, cùng nhiều thực vật phụ sinh trên thân cây, cành cây. Theo Thái Văn Trừng (1978), nhóm dưới 10 loài cây có tổng IV% > 50% tong cá thé tầng cây cao thi chúng được coi là nhóm loài ưu thé của rừng nhiệt đới hỗn loài (còn gọi là ưu hợp thực vật).
Theo Daniel Marmilod (1982) trong rừng nhiệt đới, loài cây nào có tri số IV% > 5% là loài ưu thế của lâm phần. Dựa vào hai quan điểm trên, loài ưu thế được lựa chọn là những loài có [V% > 5%. Cau trúc ngang và cấu trúc đứng 1. Nghiên cứu về phân bố số cây theo đường kính (N/D,3) Phân bố số cây theo đường kính là quy luật cau trúc cơ bản của lâm phan và được nhiêu nhà lâm học quan tâm nghiên cứu.
Các tác giả đã đưa ra nhiêu hàm phân bố lý thuyết khác nhau dé mô phỏng dạng phân bố thực nghiệm cho N/D,3. Tuy nhiên, một dạng phân bố thực nghiệm chỉ có thể được mô phỏng phù hợp với một dạng hàm số ở mức xác suất cho phép. Theo Kraft (1884), lần đầu tiên đã đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng dựa vào khả năng sinh trưởng, kích thước và chất lượng của cây rừng. Mặc dù phân cấp của Kraft phản ánh được tình hình phân hóa cây rừng nhưng trên thực tế chỉ phù hợp với rừng trồng thuần loài đều tuổi.
Việc phân cấp cây rừng cho rừng gỗ hỗn loài nhiệt đới tự nhiên là hết sức phức tạp, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào đưa ra phương pháp phân cấp được chấp nhận rộng rãi (Nguyễn Văn Thêm, 2002). Theo Prodan (1952) nghiên cứu quy luật phân bố rừng, chủ yếu theo đường kính (D¡ s) có liên hệ với giai đoạn phát dục và các biện pháp kinh doanh. Theo tác giả, sự phân bố số cây theo đường kính có giá trị đặc trưng nhất cho rừng, đặc biệt là rừng hỗn loài, nó phản ảnh các đặc điểm lâm sinh của rừng. Phân bồ cây rừng tự nhiên mà ông xác định đã được kiểm chứng ở rất nhiều nơi trên thế giới.
Đó là phân bồ số cây theo đường kính của rừng tự nhiên có một đỉnh lệch trái. Số cây tập trung nhiều ở cấp đường kính nhỏ do có nhiều loài cây khác nhau và nhiều thế hệ cùng tồn tại trong kiểu rừng. Nếu xét về một loài cây, do đặc tinh sinh thái nên lớp cây kế cận (cây nhỏ) bao giờ cũng nhiều hơn các lớp cây lớn do quy luật cạnh tranh không gian dinh dưỡng và đào thải tự nhiên; những nơi thuận lợi trong rừng cây mới vươn lên để tồn tại và phát triển (dẫn theo Nguyễn Đình Trưởng, 2012). Cấu trúc rừng biểu thị những thành phần và sự tổ chức và sắp xếp của các thành phần vật theo không gian và thời gian.
Richards (1965) và Baur (1979) đã mô tả cấu trúc rừng nhiệt đới bằng những trắc đồ dọc và ngang. Phương pháp trắc đồ rừng có nhược điềm là không định lượng được những đặc trưng cấu trúc rừng. Dé khắc phục nhược điểm này, ngày nay các nhà lâm học đã ứng dụng những mô hình toán dé mô tả cấu trúc rừng (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2002).