CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm Khái niệm “tín ngưỡng” Tín ngưỡng là phạm trù đã được đào sâu nghiên cứu từ rất lâu, ở nhiều quốc gia, đã trở thành lĩnh vực có tính học thuật và khoa học. Trong giới nghiên cứu hiện nay cơ bản hình thành hai hướng nhận định về khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo.
Một là, không có sự phân biệt quá rõ ràng giữa hai thuật ngữ, hơn nữa, tín ngưỡng và tôn giáo có quan hệ cấp bậc. Hai là, tách biệt độc lập hai khái niệm: tín ngưỡng và tôn giáo. Mục đích của luận văn là tiếp cận đời sống tín ngưỡng của một cộng đồng người dân ở Việt Nam, nên luận văn thiên về cách tiếp cận học thuật “tín ngưỡng” của các tác giả và tài liệu Việt Nam. Về hướng nhận định thứ nhất, điển hình có thể kể đến: Công trình Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam của Đặng Nghiêm Vạn, tác giả cho rằng tín ngưỡng là niềm tin tôn giáo, được hiểu theo 2 nghĩa: niềm tin nói chung và niềm tin tôn giáo nói riêng.
Cụ thể, tác giả viết: “nếu hiểu tín ngưỡng là niềm tin thì có một phần ở ngoài tôn giáo; nếu hiểu là niềm tin tôn giáo thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận chủ yếu nhất cấu thành của tôn giáo” (Đặng Nghiêm Vạn, 2005, tr. Tác giả không đồng tình khi coi tín ngưỡng và tôn giáo như hai cấp độ. Nếu nhà nghiên cứu tôn giáo đã chấp nhận yếu tố quyết định của một tôn giáo là đức tin hay niềm tin, thì đó là thước đo duy nhất về tính hơn kém của những tôn giáo trong cộng đồng, và của những tín đồ với tôn giáo của họ. Và, nếu chấp nhận sự bình đẳng giữa các nền văn hóa (trong đó có tôn giáo) thì không có sự đánh giá tôn giáo này cao hơn tôn giáo khác.
Trong bài viết “Về định nghĩa tôn giáo”, tác giả Trần Mạnh Đức cũng cho rằng không nên phân biệt tín ngưỡng với tôn giáo thành hai thang bậc khác nhau như Đặng Nghiêm Vạn. Bởi theo Trần Mạnh Đức: “thuật ngữ tín ngưỡng, hiểu như là một dạng, 18 một trình độ thấp hơn tôn giáo, là không có từ tương đương trong các ngôn ngữ chính (Nga, Anh, Pháp). Mặc dù trong một số trường hợp có người dịch tín ngưỡng thành belief (trong tiếng Anh) hoặc croyance (trong tiếng Pháp), nhưng khi xem xét ý nghĩa của chúng thì hai thuật ngữ này không hề đại diện cho một trình độ, hoặc một dạng thấp hơn tôn giáo” (Trần Mạnh Đức, 1998, tr. Tác giả Nguyễn Duy Hinh đã dành một phần để bàn về vấn đề tín ngưỡng nói chung trong công trình Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam.
Theo tác giả, tín ngưỡng là những hình thái chưa được thể chế hóa theo khuôn mẫu như các tôn giáo lớn (Nguyễn Duy Hinh, 1996, tr. Những tôn giáo lớn tác giả muốn nhấn mạnh là những tôn giáo có đủ 6 tiêu chí: 1. Niềm tin vào sứ mệnh siêu phàm; 2. Hệ thống nghi lễ; 3.
Tình cảm tôn giáo đặc thù; 4. Tổ chức và chức sắc tôn giáo; 5. Nơi thờ cúng; 6. Đạo đức tôn giáo.
Khi nhận thấy cách hiểu về tôn giáo và tín ngưỡng đang trong cuộc tranh luận, tác giả Nguyễn Duy Hinh cũng đề xuất “sử dụng khái niệm tín ngưỡng như biểu hiện thấp hơn tôn giáo trong khi nghiên cứu các hiện tượng tôn giáo là điều cần thiết” (Nguyễn Duy Hinh, 1996, tr. Về hướng nhận định thứ 2: Trong bài viết “Đặc điểm tín ngưỡng và tôn giáo ở Nam Bộ theo cách tiếp cận dân tộc học – tôn giáo”, Mạc Đường khẳng định:“tín ngưỡng không nên xem là tôn giáo” (Mạc Đường, 2004, tr. Bằng việc so sánh định tính, tác giả Mạc Đường đưa ra các tiêu chí để phân định tín ngưỡng và tôn giáo: Tín ngưỡng: đa thần; không có đấng cứu thế tối cao, giáo lý, giáo luật, tổ chức giáo hội, giáo phái, giáo đoàn; có lòng tin theo phong tục. Tôn giáo thì ngược lại: có đấng tối cao, có giáo lý, giáo luật, giáo hội.
19 Trong công trình Tín ngưỡng & Văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, tác giả Ngô Đức Thịnh tách biệt giữa hai khái niệm tín ngưỡng và tôn giáo. Theo tác giả Ngô Đức Thịnh “về hình thức biểu hiện và trình độ tổ chức có sự phân biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo” (Ngô Đức Thịnh, 2012, tr. Cụ thể, tín ngưỡng như một hình thức thể hiện niềm tin vào cái thiêng liêng của con người ở một cộng đồng nào đó với trình độ phát triển xã hội cụ thể, khi so với tôn giáo, tín ngưỡng chưa có hệ thống giáo lý, chỉ mới có các huyền thoại; chưa thành hệ thống thần điện, mang tính đa thần tản mạn; chưa tách bạch rõ ràng giữa thế giới thần linh với thế giới con người, chưa mang tính “cứu thế”; gắn cá nhân với cộng đồng làng xã, chưa thành giáo hội; nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán, chưa thành quy ước chặt chẽ; mang tính chất dân gian, gắn với đời sống nông dân. Theo khoản 1 Điều 2 Luật tín ngưỡng tôn giáo năm 2016, tín ngưỡng được định nghĩa như sau: Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng.
Khoản 5 Điều 2 Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016 ghi rõ: Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức. Chúng tôi chọn cách hiểu về tín ngưỡng của tác giả Ngô Đức Thịnh trong công trình Tín ngưỡng & Văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam (2012) vì phù hợp với đối tượng nghiên cứu của luận văn. Chúng tôi đồng thời chọn cách tiếp cận định nghĩa tín ngưỡng trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (2016) nhằm đưa tính cập nhật và tính pháp lý cho đối tượng nghiên cứu, cách hiểu cũng tương đồng với cách hiểu của Ngô Đức Thịnh. Từ 2 cách hiểu đã chọn, chúng tôi nhận thấy rằng: tín ngưỡng là niềm tin của con người vào một đối tượng.
Đối tượng này có thể là một thực thể trong thế giới tự nhiên (nhiên thần); có thể là một nhân vật lịch sử hoặc đối tượng nào đó được gọi là thần (nhân thần). Niềm tin vào đối tượng được thực hành qua các hoạt động lễ hội, nghi thức cúng vái,. qua thời gian dài, lặp đi lặp lại trong một cộng đồng, việc sinh hoạt tín 20 ngưỡng trở thành phong tục, tập quán. Trong khi thực hành tín ngưỡng, người ta mong cầu nhiều điều có thể cho bản thân về tương lai hay mong muốn giải quyết những vấn đề của bản thân bằng con đường tâm linh.
Lễ hội Lễ theo từ điển tiếng Việt là “Những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó (nói tổng quát)” (Viện Ngôn ngữ học, 2003, tr. Hội là “Cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo người dự, theo phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt” (Viện Ngôn ngữ học, 2003, tr. Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, tác giả Trần Ngọc Thêm nhận xét về lễ hội như sau: - “Phần lễ mang ý nghĩa cầu xin và tạ ơn: Tạ ơn và cầu xin thần linh bảo trợ cho cuộc sống của mình. (Trần Ngọc Thêm, 1997, 303) - “Phần hội gồm các trò vui chơi giải trí hết sức phong phú, phần lớn được xuất phát từ những ước vọng thiêng liêng của con người nông nghiệp”.
Trong cuốn Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch, Dương Văn Sáu đã đưa ra khái niệm về lễ hội: “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên - thần thánh và con người trong xã hội” (Dương Văn Sáu, 2004, tr. Chung quy có thể hiểu: Lễ hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống của cộng đồng, được lặp đi lặp lại theo một mốc thời gian có ý nghĩa đối với nội dung lễ hội và là sự lý tưởng hóa khát vọng cuộc đời. Nghi lễ Từ điển Tiếng Việt có viết: “Nghi lễ là nghi thức và trình tự tiến hành của một cuộc lễ” (Viện Ngôn ngữ học, 2000, tr. 21 Tác giả Lưu Thị Thanh Huyền đã dẫn ra từ Từ điển nhân học, rằng: “Nghi lễ là những hành động nghi thức diễn ra trong bối cảnh thờ cúng…”, “Theo nghĩa rộng nhất, nghi lễ liên quan không chỉ đến một loại sự kiện cụ thể đặc biệt nào mà cả với khía cạnh thể hiện toàn bộ hoạt động của con người.
Trong chừng mực nó chuyển tải các thông điệp địa vị văn hóa và xã hội của các cả nhân, bất kỳ một hành động nào của con người cũng có khía cạnh nghi lễ”. (Lưu Thị Thanh Huyền, 2017, tr. Như vậy, có thể hiểu: nghi lễ là việc con người thực hiện một hoặc một loạt hành động có quy trình, có ý nghĩa, thực hiện nhằm thể hiện trọn vẹn ý nghĩa đó. Luận văn dùng khái niệm lễ hội và nghi lễ để làm cơ sở lý luận, tiếp cận với hiện tượng Ông Bổn nhập xác và các lễ hội như Vu Lan Thắng Hội, Cúng Vay Lân Đường, v.
Các cơ sở thờ tự Cùng là tín ngưỡng Ông Bổn, nhưng mỗi cơ sở thờ tự lại có danh xưng khác nhau, như: Miếu (Miếu Nhị Phủ, quận 5), Hội quán (Hòa An Hội Quán, Sóc Trăng), Chùa Ông Bổn, Minh Đức Cung,. Theo khảo sát ban đầu, tên gọi những cơ sở tín ngưỡng thờ Ông Bổn của người Hoa ở Việt Nam xoay quanh bốn danh xưng: chùa, miếu, hội quán, cung. Luận văn phân tích, tìm hiểu các tên gọi như thế này không nhằm cố gắng thay đổi tên của một kiến trúc nào theo ý mình, mà mục đích để định vị khách quan hơn, hiểu về nguồn gốc hình thành đối tượng nghiên cứu hơn. Chùa Chùa là một dạng kiến trúc thờ Phật, thiên về tôn giáo nhiều hơn là tín ngưỡng.
Dựa theo nghiên cứu của tác giả Trần Hồng Liên:“Nhiều ngôi chùa Hoa, do các tổ khai sơn là những thiền sư Trung Quốc, có thể đã có mặt tại Gia Định đồng thời với cuộc di dân, nhưng trong quá trình lịch sử, nhiều chùa đã dần dần được Việt hóa, trở thành những ngôi chùa Việt…” (Trần Hồng Liên, 2013, tr.