Chương I ĐẠI CƯƠNG VỀ NGƯỜI THAI Ở QUỲ CHAU - NGHỆ AN 1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN. Quy Châu (bao gồm ca Quế Phong va Quy Hợp ngày nay) vốn là một đơn vị hành chính được hình thành từ xa xưa trong lịch sử. Năm 1415 (tức năm Vinh Lạc thứ 13) vùng đất này được gọi là Châu Quý.
dưới thời Nguyễn. tổ chức hành chính phủ Quỳ Châu được sáp xếp lại thành 3 huyện là Quế Phong (tức Trung Sơn cũ), Thúy Vân và Nghĩa Đàn. Sang thời Pháp thuộc, phủ Quỳ Châu lại có sự thay đổi lớn. Ngày 22 tháng 10 năm 1907, Toàn quyền Đông Dương đã chia phủ Quỳ Châu thành 2 đơn vị hành chính, đó là phủ Quỳ Châu và huyện Nghĩa Đàn.
Địa giới phủ Quỳ Châu lúc này bao gồm phần đất của hai huyện Quế Phong, Thúy Vân và hai tổng vùng thượng huyện Nghĩa Đàn. Năm 1963, Quỳ Châu được chia làm 3 huyện là Quế Phong, Quỳ Châu và Quỳ Hợp. Huyện Quỳ Châu mới có tổng diện tích tự nhiên là 1198 km? (chiếm khoảng 10% diện tích của toàn tỉnh). Địa giới khu vực này tiếp giáp phía Bắc là huyện Quế Phong, phía Tây giáp huyện Tương Dương, phía Nam giáp huyện Quỳ Hợp và phía Đông giáp huyện Thường Xuân của tỉnh Thanh Hóa.
Theo các nhà địa chất, vùng núi Quỳ Châu được kiến tạo từ đại Cổ sinh và đã trải qua thời kỳ bào mòn xâm thực rất lâu dài. Đây là vùng thung lũng nằm trong thêm lục địa cô có núi lửa hoạt động nên địa hình rất phức tạp. Vùng đất này tập trung chu yếu các day núi loại thấp chạy theo hướng 9 Tây Bac - Đông Nam. Độ cao trung bình của toàn bộ hệ thống các dãy núi so với mặt nước biển là khoảng từ 800 m đến gan 1000 m.
Tuy nhiên, vùng núi Quy Chau cũng có những day núi khá cao như Pu Chó (cao 1.500 m), Pu Quam (cao 1. Những day núi này thường có các sườn đốc rất lớn và bị nhiều dòng chảy chia cat. Nhu vậy, về mặt địa hình vùng thung lũng núi Quỳ Châu là khu vực hết sức đa dạng và được phân ra thành nhiều vùng có những đặc điểm tự nhiên chứa đựng nhiều yếu tố riêng biệt. Những vùng ở độ cao dưới 300 m thì kết cấu địa chất hầu hết là sa phiến, đá vôi, và phổ biến nhất vẫn là đất la tê rít màu vàng đỏ.
Những vùng có độ cao từ 400 m đến 800 m thì có nhiều đá phi rit và đất la tơ rít (hay còn gọi là hoàng nhượng). Còn những vùng có độ cao từ 900 m trở lên thì hầu hết là núi đá vôi. Cho đến nay, những vùng này vẫn còn giữ được dấu tích nguyên thủy của nó. Nhìn chung, vùng núi Quỳ Châu có đặc điểm là các dãy núi cao thường có bề mặt tương đối bằng nhưng hai bên sườn núi lại dốc hoặc rất dốc.
Vùng còn lại là đồi núi thấp, đỉnh núi tương đối bằng phẳng và sườn núi thoải. Với địa hình như vậy vùng núi Quỳ Châu đã hình thành nên những quần thể động - thực vật thích hợp với giới hạn vùng cư dân trong lịch sử. Cụ thể là vùng “bồn địa” của những thung lũng ở Châu Tiến, Châu Binh, Châu Thuận. hoàn toàn khác hẳn với những vùng núi tương đối cao ở Châu Phong, Châu Hoàn và Diên Lam.
Khí hậu vùng núi Quỳ Châu chịu ảnh hưởng trực tiếp của miền khí hậu sông Mê Công và được chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. So với vùng lưu vực sông Lam thì các mùa ở đây thường đến sớm nhưng lại kết thúc muộn hơn từ 15 đến 20 ngày. Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm. Mùa này có gió từ phương Nam tới và thường gây nên mưa lớn.
Lượng mưa trung bình trong mùa đạt tới 1829,2 mm và thường tập trung vào tháng 9, với cường độ mưa lớn, có năm lên tới 720,5 mm. 10 Mùa khô bat đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau. Day là thời gian có gió lạnh từ phương Bắc thổi mạnh, khí hậu khô hanh và rét đậm kéo dài. Những nơi có độ cao trên 1500 m thường xuất hiện sương muối và bang giá.
Nhiệt độ có lúc xuống dưới 0°C. Lượng mưa trung bình trong mùa rất ít chỉ khoảng 250 mm. Do rét và hạn kéo dài đã làm cho sông suối ở Quy Châu vào mùa khô luôn cạn kiệt. Với khí hau theo “nhip điệu mùa như vậy đã tác động rất lớn đến các hoạt động khác của tự nhiên.
Cụ thể là, mùa hạ lượng mưa lớn, nước sông thường dâng nhanh và gây nên lũ lụt rất nguy hiểm. Nhưng mùa khô, lượng mưa ít không đủ nước để tưới tiêu cho trông trọt. Ngoài ra, các lớp phủ thực vật và hoạt động cua động vật cũng bị chi phối bởi quy luật tự nhiên đó. Ở những vùng núi cao, do ảnh hưởng của một số ngọn núi và các thung lũng giữa núi làm cho khí hậu Quỳ Châu thêm đa dạng và phức tạp hơn.
Đó là những tiểu vùng khí hậu mà nhiều nam nhiệt độ có những lúc xuống dưới 0°C và có sương muối xuất hiện nhiều lần trong năm. Hệ thống sông ngòi, khe suối ở Quỳ Châu tương đối nhiều và phần lớn chảy trong địa hình phức tạp. Do vậy, đã tham gia vào quá trình chia cát địa hình và bóc mòn bề mặt địa chất nói chung để tạo nên những “bồn địa” ở vùng thung lũng núi. Day là nơi quần cư rất quan trọng của các cư dân trồng lúa nước.
Người ta ước tính ở vùng này có khoảng hơn 500 con sông, suối lớn nhỏ hợp thành mạng lưới hình xương cá hay hình cành cây và đều có hướng chảy phổ biến là hướng Tây Bắc - Đông Nam. Trong hệ thống sông, suối ở Quỳ Châu có sông Hiếu là con sông lớn nhất chảy từ biên giới Việt - Lao, xuyên qua giữa huyện theo hướng Tay Bắc - Đông Nam. Năm phụ lưu của con sông Hiếu là Nam Hat, Nam Quang, Nam Cườm. Nam Chang va Nam Tôn.
Day là nguồn nước tự nhiên rat tiện lợi cho việc tưới tiêu trên các cánh đồng lớn ở Châu Tiến, Châu Bính, Châu Thuan, Châu Hội, Châu Binh,. là những vùng lúa chủ yếu của huyện. 11 Đồng thời, hệ thống sông ngòi ở Quy Chau còn chứa dung một tiềm năng về thủy điện rất lớn (như thác Đũa). Và đó đây đồng bào địa phương cũng đã khai thác để lấy điện phục vụ sản xuất và đời sống.
Nằm ở khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm, nên thảm thực vật ở Quỳ Châu phát triển rất mạnh và có đầy đủ những đặc điểm của cảnh quan rừng nhiệt đới. Ngoài những kiểu rừng nhiệt đới điển hình với hệ sinh thái phổ tạp, vùng núi Quỳ Châu còn có thêm kiểu rừng nhiệt đới có rêu hay các trảng thứ sinh. Rừng Quy Châu là nơi gap gỡ của nhiều đại diện thực vật từ Hymalaya qua Vân Nam xuống và từ Malaysia, Indonesia lên. Do vậy, tài nguyên rừng ở đây rất phong phú và đa dạng.
Người ta đã thống kê được cây rừng ở Quỳ Châu có tới 84 họ và hơn 500 loài. Trước đây, thảm thực vật còn dày, vùng này có rất nhiều giống loài quý hiếm được coi là có giá trị kinh tế cao như gỗ quý pơ mu, lim, vàng tâm, kim giao và nhiều cây đặc sản hiếm như sa nhân, cánh kiến,. Động vật ở Quỳ Châu cũng rất phong phú và đa dạng. Trước đây, rừng Quỳ Châu vốn là nơi có nhiều loại thú quý như voi, hổ, gấu, tê giác, bò tót,.
Ngoai ra, vùng núi Quy Chau còn là nơi có nhiều mỏ khoáng sản quý như thiếc, vàng, đá quy,. Do vậy, Quy Châu là nơi có nhiều tiềm năng để phát triển công nghiệp ở địa phương. Nhìn chung, điều kiện tự nhiên ở Quỳ Châu, nơi tụ cư của đồng bào các dân tộc thiểu số có ảnh hưởng rất lớn đến phương thức tồn tại, phương thức canh tác và các hoạt động kinh tế - xã hội, cũng như những sinh hoạt văn hóa tinh than của con người. Thiên nhiên vùng thung lũng núi Quy Châu với những nét đặc thù như vậy đã làm cho các mối quan hệ xã hội của những tộc người sống trong vùng mang nhiều nét riêng biệt, nhất là về van hóa mang tính tộc người và tính khu vực.
NGƯỜI THÁI Ở QUỲ CHAU. Quỳ châu là vùng đất có con người cư trú và làm ăn từ rất lâu đời. Vào những năm đầu Thiên niên ky thứ nhất. vùng đất này đã có một bộ phan cư dan sinh sống trong các nhà lều, làm ruộng, san ban và đánh cá [9, tr.
Qua một số di vật khảo cổ tìm được ở hang Tham Om (Ban Tham, Chau Thuận) các nhà nghiên cứu cho rang, cách ngày nay khoảng 20 van nam, người nguyên thủy đã có mặt va sinh sống ở Quy Chau [8, tr. Hiện nay trên mảnh đất này có 6 tộc người cùng chung sống, đó là người Thái, Thổ, Kinh, Hmông, Khơmú và Lào. Theo số liệu tổng điều tra dan số ngày | tháng 4 năm 1999, Quy Châu có 49. Trong đó, người Thái chiếm đa số với khoảng 76% dân số toàn huyện, tiếp đó là người Kinh, khoảng 21%, còn lại là các dân tộc khác.
Nếu so với các cư dân khác sống trên địa bàn, thì người Thái ở Quỳ Châu cư trú khá tập trung và thống nhất thành một cộng đồng. Do tiếp xúc với các cư dân sống kề cận và do điều kiện sống mà nhiều yếu tố văn hóa truyền thống ở vùng đất này vừa mang tính thống nhất của văn hóa Thái, vừa mang tính đặc thù của địa phương. Tên gọi và lịch sử cư trú. Tộc danh Thái là tên gọi chung cho các nhóm địa phương ở Nghệ An.
Tên gọi này được khẳng định mang tính pháp lý từ khi có Bảng danh mục thành phân các dân tộc Việt Nam (năm 1979). Bản thân người Thái ở Quỳ Châu cũng rất hài lòng với tên gọi này. Tuy nhiên, trong lịch sử, tên gọi của các nhóm Thái ở Quỳ Châu là một vấn đẻ hết sức phức tạp. Khác với người Thái ở Tây Bác, người Thái ở Nghệ An nói chung và người Thái ở Quỳ Châu nói riêng không có sự phân định rõ ràng theo hai ngành Thái den (Tay đăm) và Thái trắng (Tay khao).
Ở Quỳ Châu, người Thái chỉ được phàn biệt theo các nhóm địa phương (local groups) đúng như tên mà họ tự nhàn. Một nhóm tự nhận là Tay Thanh mà chúng ta quen gọi là Man 13 Thanh, con nhóm kia tự nhận là Tay Muong (người Tay ở Mường), nhưng trong các trường hợp dé phân biệt với nhóm Tay Thanh họ lại tự nhận mình là Tay Do hay Tay Do.