Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.Tín hiệu và tín hiệu thẩm mĩ 1. Khái niệm tín hiệu Trong thực tế cuộc sống, chúng ta đã sử dụng nhiều TH (TH) như: tiếng trống báo hiệu giờ học, hệ thống biển báo giao thông, các kí hiệu toán học, vật lý học… như vậy con người đã dùng “một cái gì đó” làm TH thay thế cho một cái gì khác hay một khái niệm trừu tượng. Từ đó, có nhiều quan niệm khác nhau về TH. Khái niệm TH được nhắc đến lần đầu tiên trong học thuyết về THNN của F.
Theo ông, TH có hai mặt cbđ - hình thức vật chất cảm tính và cđbđ - nội dung ý nghĩa. Hai mặt này “gắn bó khăng khít với nhau và đã có cái này là có cái kia” [40, tr. Sau này, Ch.Pierce đã đưa thêm vào cấu trúc nhị diện nhân tố thứ ba là cái lí giải (interpretant) [12, tr. Nhưng phải đến khi Ch.Morris hệ thống hóa và xây dựng một lý thuyết tổng quát về TH thì ba chiều của TH mới thực sự có ý nghĩa trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học và đặc biệt với ngành TH học [12, tr.Morris cũng như Ch.Pierce chia ra ba chiều của TH: thứ nhất là chiều kết học nghiên cứu các TH trong mối quan hệ với các TH khác, thứ hai là chiều nghĩa học nghiên cứu các TH trong mối quan hệ với các sự vật ở bên ngoài hệ thống TH, thứ ba là chiều dụng học nghiên cứu các TH trong những mối quan hệ với người sử dụng nó.
Guiraud: “Một TH…là một kích thích mà tác động của nó đến cơ thể gợi ra hình ảnh kí ức của một kích thích khác” [12, tr. Đây là một quan niệm rộng bởi TH được hiểu bao gồm cả những TH hiểu theo nghĩa hẹp, cả những TH “nhận biết” và TH “giao tiếp” có tính chất bản năng của loài vật. Vì thế, một đám mây đen báo hiệu trời sắp mưa, đám khói bay lên cho biết ở đó có lửa, vết xe trên cát chứng tỏ có người vừa đi qua…đều có khả năng trở thành TH.Schaff định nghĩa TH theo nghĩa hẹp: “Một sự vật vật chất hay thuộc tính của nó, một hiện tượng thực tế sẽ trở thành TH nếu như trong quá trình giao tiếp, nó được các nhân vật giao tiếp sử dụng trong khuôn khổ của một ngôn ngữ để truyền đạt một tư tưởng nào đó về thực tế, tức về thế giới bên ngoài hay về những 9 cảm thụ nội tâm” [12, tr.Schaff chỉ thừa nhận là TH khi nó mang chức năng giao tiếp được con người sử dụng nhằm trao đổi tư tưởng, tình cảm của mình trong đời sống. Dù TH được hiểu theo nghĩa hẹp hay rộng thì các ý kiến đều thống nhất cho rằng TH là khái niệm quan hệ không phải là khái niệm tự thân, muốn một cái gì đó trở thành TH thì nó phải nằm trong một hệ thống nhất định và có mối quan hệ với các sự vật khác.
Để thuận tiện trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi lấy định nghĩa rộng của F. Guiraud làm xuất phát điểm bởi vì nó có tác dụng phát hiện ra những đặc trưng TH học của các THNN. Như vậy, một sự vật muốn trở thành TH phải thỏa mãn các điều kiện sau đây: - TH phải có tính vật chất. Vật chất là một sự vật hoặc một thuộc tính vật chất như ánh sáng, màu sắc, âm thanh, vật thể…Nghĩa là, người ta có thể nghe được, nhìn thấy được, sờ thấy được.
Đồng thời thuộc tính vật chất ấy của TH phải có khả năng kích thích vào giác quan con người và được con người cảm nhận bằng giác quan của chính mình. Ở đây, chúng ta cần phân biệt TH của loài người với TH cũng được cảm nhận bởi giác quan của loài vật, thực chất đấy chỉ là phản xạ có điều kiện của loài vật mà thôi. - TH phải gợi ra, đại diện cho một cái gì đó khác với chính nó. Hay nói cách khác TH phải mang nghĩa…Định nghĩa của F.
Guiraud cũng đã chỉ rõ: Ý nghĩa của cái chỉ ra trong TH bao giờ cũng là một thực thể tâm lý thuộc tinh thần. Chẳng hạn hệ thống đèn giao thông màu đỏ, màu vàng, màu xanh đóng vai trò là cbđ. Nó mang chức năng gợi ra ý nghĩa về mặt tinh thần, cụ thể là truyền tải nội dung “đứng lại”, “chuẩn bị”, “đi”… - TH phải được chủ thể tiếp nhận và lý giải được, nói rõ hơn cái quan hệ, cbđ và cđbđ phải được chủ thể nhận thức và lĩnh hội. Muốn thế quan hệ giữa vỏ vật chất của TH và nội dung của TH phải dựa trên quy ước có ý thức của con người hoặc xã hội, được con người nhận thức và lĩnh hội.
Có như vậy, con người mới có khả năng hiểu được mối quan hệ giữa cbđ và cđbđ. Ví dụ 1: Một hồi chuông dài đối với học sinh là báo hiệu hết giờ học nhưng có 10 thể lại là TH tập hợp quân đối với các quân binh. Ví dụ 2: Tia sáng lọt qua khe cửa vào phòng đối với một đứa trẻ sơ sinh chưa phải là TH bởi vì đứa trẻ chưa lí giải được cái gì về tia sáng mặc dù tia sáng vẫn kích thích cảm quan của đứa trẻ và gây được những phản ứng nhất định. Nhưng đối với người lớn, tia sáng là TH bởi vì họ có thể rút ra một ý nghĩa nào đó, như “trời đã sáng”, “có người vừa mở cửa”, “sắp đến giờ đi làm”…[10, tr.
TH phải nằm trong một hệ thống nhất định và có đặc điểm khác biệt với các yếu tố khác cùng hệ thống. Đây là điều kiện bắt buộc một cách hiển nhiên đối với những TH giao tiếp do con người đặt ra. TH sẽ không còn là TH khi tách khỏi hệ thống bởi giá trị của nó có được là nhờ vào mối quan hệ của nó với các TH khác trong hệ thống. Mặt khác, một điều kiện hiển nhiên đó là hệ thống phải là một tổng thể bao gồm nhiều yếu tố và các yếu tố nằm trong quan hệ đối lập nhằm tạo ra giá trị khu biệt của TH trong hệ thống.
Phân loại tín hiệu Các nhà nghiên cứu TH học đã phân các TH thành những phạm trù (hay loại) khác nhau.Buhler chia các TH thành: Symbole (TH chỉ ra sự vật, đối tượng), Symptome (TH bộc lộ trạng thái tâm sinh lí, tư tưởng, tình cảm của người nói), Signal (TH gây tác động tâm sinh lí cho người nghe) [12, tr.Pierce phân chia TH thành ba loại chính: Hình hiệu (icones), chỉ hiệu (index), và ước hiệu (symbol) dựa theo tiêu chuẩn quan hệ giữa cbđ và cđbđ mà F.de Saussure đã đưa ra. Theo đó, đại đa số TH ngôn ngữ là thuộc loại ước hiệu, loại TH mà mối quan hệ cbđ và cđbđ là hoàn toàn võ đoán, không giải thích được nguyên do. Loại TH này sẽ mất tư cách là TH nếu không có người lí giải [12, tr. Morris dựa vào mối quan hệ giữa TH với các loại sự vật mà chúng biểu thị để chia TH thành hai loại: các chỉ hiệu (Single indexes) và định hiệu (Singnes caracterisant).
Tiếp theo, ông lại phân chia các định hiệu ra thành hình hiệu và biểu trưng (symbole) [12, tr.Schaff xuất phát từ cơ sở chỉ xem TH gắn liền với chức năng giao tiếp, nên ông tiến hành phân loại như sau: đầu tiên ông phân TH thành TH nhân tạo và TH tự 11 nhiên (TH đích thực). TH tự nhiên lại được chia thành TH từ và TH thực có khả năng bộc lộ nhất định. TH thực có khả năng bộc lộ nhất định lại được chia thành lệnh hiệu và định hiệu. Các định hiệu lại được chia thành định hiệu đích thực và Symbole [12, 713].Guiraud từ năm 1950 đã đưa ra bảng phân loại TH.
Ông phân chia TH dựa trên mối quan hệ giữa thực tế với nhận thức của con người. Trong đó, tác giả quan tâm tới những TH biểu hiện (TH không giao tiếp). Những TH biểu hiện về bản chất là các hình hiệu và chức năng của chúng không phải là công cụ giao tiếp mà là công cụ để phản ánh, miêu tả thực tế khách quan. Ví dụ như: bức ảnh, bản nhạc.
Chúng là sản phẩm của các loại hình nghệ thuật và thuộc đối tượng nghiên cứu của nghệ thuật học.Guiraud tiếp tục phân chia TH thành TH tự nhiên và TH nhân tạo. Trong TH nhân tạo ông lại phân chia thành TH giao tiếp và TH không giao tiếp. Ông còn dựa theo đặc tính thể chất của TH mà phân chia các TH thành TH thị giác, TH thính giác, TH xúc giác. Theo đặc tính chuyển mã hay chưa chuyển mã, ông chia các TH thành TH thứ cấp (còn gọi là kí hiệu) và TH sơ cấp.
Guiraud cũng chỉ ra sự xâm nhập lẫn nhau của các loại TH [12, tr. Đỗ Hữu Châu cũng đã đưa ra bảng phân loại TH theo quan điểm riêng của mình. Theo ông, TH là một thực thể đa diện cho nên căn cứ vào các phương diện khác nhau có thể định ra các tiêu chí phân loại khác nhau. Mỗi lần vận dụng một tiêu chí phân loại là có một kết quả phân loại.
Những tiêu chí phân loại mà Đỗ Hữu Châu đưa ra là: 1/ Dựa vào đặc tính thể chất của cái biểu hiện, 2/ Dựa vào nguồ n gốc của TH, 3/ Dựa vào mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện, 4/ Căn cứ vào chức năng xã hội của TH [12,tr. Dựa vào mặt thể chất của TH có thể phân chia ra được các loại TH như: TH màu sắc, TH âm thanh.Trong đó THNN được coi là một loại TH đặc biệt. Tín hiệu ngôn ngữ Ngôn ngữ cũng là một TH bởi ngôn ngữ đáp ứng đầy đủ các điều kiện của một TH. Trong thực tế giao tiếp, ngôn ngữ bao gồm ba mối quan hệ chính: quan hệ giữa TH với TH, quan hệ giữa TH với thực tế và quan hệ giữa TH với nhân vật giao tiếp.
Ba quan hệ này lập thành ba bình diện tạo nên bản chất của TH ngôn ngữ: kết học, 12 nghĩa học và dụng học. Ba bình diện này luôn được đặt trong mối quan hệ khăng khít với nhau.de Saussure xác định THNN như sau: “Tín hiệu ngôn ngữ kết liền thành một không phải một sự vật với một tên gọi mà là một khái niệm với một hình ảnh âm thanh, hai yếu tố này gắn bó khăng khít với nhau và đã có cái này phải có cái kia. Trong đó khái niệm được gọi là cái được biểu đạt (cđbđ) và hình ảnh âm thanh được gọi là cái biểu đạt (cbđ )” [12, tr. Nó như hai mặt của một tờ giấy, nếu mất mặt này thì mặt kia không thể tồn tại, hay nói cách khác, THNN là một tổng thể hai mặt không thể tách rời.