Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Phát triển nông thôn là một nội dung trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và hiện đại hóa đất nước. Quá trình này đòi hỏi công tác quy hoạch, đầu tư và tổ chức thực hiện phải dựa trên việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng các nguồn lực, nhận diện điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội cũng như thách thức cụ thể của từng địa phương.
Xã Ngán Chiên là một xã vùng cao biên giới thuộc huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang — một trong những huyện nghèo của cả nước được thụ hưởng cơ chế hỗ trợ theo Nghị quyết số 30a của Chính phủ. Sau hơn 5 năm triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (tính đến thời điểm cuối năm 2018), diện mạo nông thôn tại địa bàn đã có những bước chuyển biến ban đầu, song kết quả đạt chuẩn vẫn ở mức khiêm tốn: xã mới chỉ hoàn thành 8/19 tiêu chí. Đời sống người dân còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo ở mức cao, thu nhập bình quân đầu người thấp, trong khi cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. Xuất phát từ tình hình thực tiễn đó, tác giả Lý Thị Lan đã thực hiện đề tài khóa luận: "Nghiên cứu thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới tại xã Ngán Chiên, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang".
Mục tiêu nghiên cứu được xác định rõ ràng gồm:
- Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã Ngán Chiên, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang; từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh tiến độ thực hiện chương trình, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và từng bước nâng cao đời sống của cộng đồng địa phương.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại xã Ngán Chiên.
- Đánh giá thực trạng triển khai 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã trong giai đoạn vừa qua.
- Phân tích rõ những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức (SWOT) trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương.
- Đề xuất định hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh quá trình xây dựng nông thôn mới ở xã Ngán Chiên trong những năm tiếp theo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận được giới hạn như sau:
- Đối tượng nghiên cứu: Hộ nông dân tại xã Ngán Chiên, nhận thức và sự tham gia của người dân đối với chương trình nông thôn mới; bộ máy cán bộ và các tổ chức đoàn thể có liên quan tại địa phương.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn hành chính xã Ngán Chiên, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào thực trạng thực hiện 19 tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã.
- Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra thực địa và thu thập dữ liệu được thực hiện từ ngày 20 tháng 02 năm 2019 đến ngày 20 tháng 05 năm 2019; chuỗi số liệu thứ cấp phản ánh hiện trạng giai đoạn 2016 - 2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận vấn đề xây dựng nông thôn mới từ góc độ khoa học phát triển nông thôn, kết hợp giữa lý luận quản lý nhà nước và các chính sách mục tiêu quốc gia hiện hành:
- Khung lý thuyết và khái niệm: Tác giả hệ thống hóa các định nghĩa về "Nông thôn", "Nông thôn mới", "Phát triển nông thôn" và "Phát triển nông thôn bền vững" (tiếp cận từ dưới lên, tiếp cận đa ngành tổng hợp và quản lý tài nguyên thiên nhiên). Về văn bản quy phạm pháp luật, khóa luận vận dụng:
- Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn;
- Quyết định và hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 (gồm 19 tiêu chí, 49 chỉ tiêu);
- Quyết định số 592/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang về việc ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới trên địa bàn tỉnh;
- Nghị quyết số 209/2015/HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Giang về chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa;
- Nghị quyết số 30a của Chính phủ về chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững;
- Luật Hợp tác xã năm 2012.
- Bài học kinh nghiệm thực tiễn: Khóa luận tổng quan mô hình OTOP (One Tambon One Product) của Thái Lan (bắt nguồn từ phong trào OVOP của Nhật Bản), phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc; đồng thời phân tích thực tế triển khai nông thôn mới tại các tỉnh Cao Bằng, Điện Biên, Thái Nguyên và bức tranh chung của tỉnh Hà Giang, huyện Xín Mần.
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Thu thập số liệu thứ cấp: Tổng hợp các văn bản chỉ đạo, báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội, báo cáo tiến độ xây dựng nông thôn mới của Ủy ban nhân dân xã Ngán Chiên, niên giám thống kê và báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Xín Mần.
- Thu thập số liệu sơ cấp: Sử dụng phương pháp quan sát thực địa kết hợp điều tra phỏng vấn nhanh và bảng hỏi cấu trúc. Tác giả tiến hành điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên: khảo sát 90 hộ nông dân tại 3 thôn đại diện cho các vùng địa hình, điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã (mỗi thôn 30 hộ); đồng thời tiến hành phỏng vấn 22 cán bộ, công chức thuộc Ủy ban nhân dân xã Ngán Chiên.
- Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả (tính số tuyệt đối, số tương đối, tỷ lệ phần trăm, giá trị lớn nhất, nhỏ nhất), tổng hợp và xử lý dữ liệu qua phần mềm Microsoft Excel; áp dụng ma trận phân tích SWOT để đối chiếu điểm mạnh, điểm yếu nội tại với cơ hội và thách thức từ môi trường bên ngoài.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc xây dựng nông thôn mới tại một xã vùng cao nghèo như Ngán Chiên. Phần này xác định mục tiêu chung, 4 mục tiêu cụ thể, chỉ rõ ý nghĩa học tập (rèn luyện kỹ năng nghiên cứu, phương pháp phân tích thực địa) và ý nghĩa thực tiễn của đề tài (làm căn cứ tham khảo cho chính quyền địa phương trong việc định hình các giải pháp giai đoạn tiếp theo).
Phần 2: Tổng quan nghiên cứu
Nội dung chương tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về nông thôn, đặc trưng vùng nông thôn và vai trò của nông thôn mới trên các phương diện: kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, con người và môi trường. Tác giả phân tích kinh nghiệm quốc tế (chương trình OTOP của Thái Lan với 4 tiêu chuẩn: có thể xuất khẩu với giá trị thương hiệu, sản xuất liên tục và nhất quán, tiêu chuẩn hóa và gắn với câu chuyện văn hóa bản địa) và bài học kinh nghiệm tại các địa phương trong nước:
- Tỉnh Thái Nguyên là điểm sáng về hoàn thành kế hoạch nông thôn mới với 17 hợp tác xã hoạt động hiệu quả theo Luật Hợp tác xã năm 2012 và các chuỗi liên kết chè, cây ăn quả;
- Tỉnh Điện Biên gặp khó khăn lớn về nguồn lực đầu tư khi tỷ lệ hộ nghèo cao, bình quân toàn tỉnh chỉ đạt 6,29 tiêu chí/xã vào năm 2018;
- Tỉnh Hà Giang đến hết năm 2018 có 23 xã đạt chuẩn, mở mới hơn 400 km đường bê tông và vận động nhân dân hiến 362.418 ngày công;
- Huyện Xín Mần tính đến cuối năm 2018 có tỷ lệ hộ nghèo ở mức 54,51%, huy động được 14.975 triệu đồng cho chương trình nông thôn mới; toàn huyện có 2 xã đạt chuẩn 19 tiêu chí (Khuôn Lùng và Xín Mần), riêng xã Ngán Chiên đạt 8 tiêu chí.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Xác định cụ thể đối tượng điều tra là cán bộ địa phương (n = 22) và hộ dân nông thôn (n = 90 tại 3 thôn). Thiết kế khung nội dung đánh giá từ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến thực trạng chi tiết từng tiêu chí nông thôn mới; mô tả quy trình chọn mẫu ngẫu nhiên, phương pháp quan sát, thu thập thứ cấp, xử lý số liệu bằng Excel và phân tích SWOT.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Đây là phần trọng tâm của khóa luận, phản ánh chi tiết các dữ liệu khảo sát và thu thập tại xã Ngán Chiên:
1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
- Vị trí và địa hình: Xã nằm ở phía Đông huyện Xín Mần, cách trung tâm huyện 20 km; độ cao trung bình trên 1.000 m so với mực nước biển. Địa hình chia cắt mạnh, gồm hai dạng chính: núi cao (600 - 900 m, độ dốc lớn, rừng đầu nguồn) và núi thấp (400 - 600 m, thung lũng xen kẽ tập trung dân cư và sản xuất nông nghiệp).
- Khí hậu và thủy văn: Nhiệt độ bình quân 22,8°C - 23°C; mùa mưa tập trung từ tháng 6 đến tháng 8 (lượng mưa tháng 200 - 300 mm, lượng mưa trung bình năm 1.560 mm); mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau với lượng bốc hơi 43,6%. Mạng lưới khe suối nhỏ, lưu lượng biến động mạnh theo mùa dẫn đến nguy cơ lũ quét vào mùa mưa và thiếu nước vào mùa khô.
- Hiện trạng sử dụng đất đai năm 2018:
| STT |
Loại đất |
Diện tích (ha) |
Cơ cấu (%) |
| 1 |
Nhóm đất nông nghiệp |
1.586,59 |
94,16 |
| 1.1 |
Đất sản xuất nông nghiệp |
855,10 |
50,78 |
| 1.1.1 |
Đất trồng cây hàng năm |
840,00 |
49,85 |
| 1.1.2 |
Đất trồng cây lâu năm |
15,10 |
0,90 |
| 1.2 |
Đất lâm nghiệp |
730,94 |
43,38 |
| 1.2.1 |
Đất rừng phòng hộ |
133,00 |
7,89 |
| 2 |
Nhóm đất phi nông nghiệp |
84,60 |
5,03 |
| 2.1 |
Đất ở tại nông thôn |
30,20 |
1,79 |
| 2.2 |
Đất chuyên dùng |
47,10 |
2,79 |
| 2.3 |
Đất sử dụng vào mục đích công cộng |
44,30 |
2,63 |
| 3 |
Nhóm đất chưa sử dụng |
13,70 |
0,81 |
| - |
Đất đồi núi chưa sử dụng |
10,86 |
0,64 |
| Tổng |
Tổng diện tích tự nhiên |
1.684,89 |
100,00 |
2. Thực trạng kinh tế - xã hội
- Sản xuất nông nghiệp: Trồng trọt giữ vai trò nguồn cung lương thực chính. Năm 2018, diện tích lúa mùa đạt 308 ha, năng suất 55,1 tạ/ha, sản lượng 1.697,7 tấn; cây ngô đạt diện tích 197 ha; diện tích đậu tương duy trì 180 ha (sản lượng 255 tấn); lạc 20 ha (sản lượng 27,8 tấn). Chăn nuôi có sự phát triển qua các năm: tổng đàn trâu đạt 904 con (năm 2018), đàn bò 1.254 con, lợn 5.966 con và gia cầm 31.973 con. Tỷ lệ tiêm phòng gia súc đạt 85%, gia cầm đạt 75%.
- Dân số và lao động: Dân số toàn xã gồm 779 hộ với 3.382 nhân khẩu (năm 2018), sinh sống tại 10 thôn bản: Ta Thượng (126 hộ), Ma Ly Sán (92 hộ), Đông Chứ (132 hộ), Ta Hạ (41 hộ), Na Mở (73 hộ), Cốc Chíu (80 hộ), Cốc Mui (100 hộ), Bản Rang (53 hộ), Phố Chợ (43 hộ), Hô Sán (39 hộ). Xã gồm 4 dân tộc anh em: dân tộc Nùng chiếm số đông nhất (49,42%), H’Mông (32,5%), Hoa (5,12%) và Tày (1,33%). Tỷ lệ lao động trong độ tuổi chiếm 70,75% tổng dân số nhưng trình độ chuyên môn kỹ thuật qua đào tạo còn thấp.
3. Bộ máy chỉ đạo và kết quả thực hiện 19 tiêu chí nông thôn mới
Ủy ban nhân dân xã đã kiện toàn hệ thống quản lý theo quy định:
- Quyết định số 68/QĐ-UBND ngày 15/02/2018 kiện toàn Ban quản lý Chương trình nông thôn mới; Quyết định số 74/QĐ-UBND ngày 25/02/2018 kiện toàn Ban quản lý gồm 12 thành viên do Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban.
- Quyết định số 72/QĐ-UBND ngày 17/02/2018 kiện toàn Tổ giám sát, đánh giá.
- Quyết định số 73-QĐ/UBND ngày 18/02/2018 kiện toàn Ban chỉ đạo gồm 14 thành viên.
- Toàn bộ 10/10 thôn đã thành lập Ban phát triển thôn.
Đánh giá thực hiện 19 tiêu chí tính đến hết năm 2018, xã Ngán Chiên mới chỉ đạt 8 tiêu chí và còn 11 tiêu chí chưa đạt:
| TT |
Nhóm tiêu chí |
Tên tiêu chí |
Hiện trạng / Kết quả đánh giá |
Kết luận |
| 1 |
I. Quy hoạch |
Tiêu chí 1: Quy hoạch |
Đã lập, phê duyệt và công bố công khai quy hoạch chung |
Đạt |
| 2 |
II. Hạ tầng KT-XH |
Tiêu chí 2: Giao thông |
Đường trục thôn (50,2 km) và nội đồng (20,5 km) đều là đường đất |
Chưa đạt |
| 3 |
II. Hạ tầng KT-XH |
Tiêu chí 3: Thủy lợi |
Kênh mương 36,5 km; tưới tiêu chủ động chỉ đạt ~60%, không có trạm bơm |
Chưa đạt |
| 4 |
II. Hạ tầng KT-XH |
Tiêu chí 4: Điện |
01 trạm biến áp 177 KVA, 540/739 hộ dùng điện an toàn (78%), lưới điện chưa chuẩn |
Chưa đạt |
| 5 |
II. Hạ tầng KT-XH |
Tiêu chí 5: Trường học |
Mầm non, Tiểu học và THCS thiếu phòng chức năng, nhiều điểm lẻ cấp 4, chưa chuẩn quốc gia |
Chưa đạt |
| 6 |
II. Hạ tầng KT-XH |
Tiêu chí 6: Cơ sở vật chất VH |
Chưa có nhà văn hóa và sân thể thao xã; chỉ có 2/10 thôn có nhà văn hóa |
Chưa đạt |
| 7 |
II. Hạ tầng KT-XH |
Tiêu chí 7: Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn |
Có chợ trung tâm diện tích khuôn viên 2.879,4 m², họp định kỳ vào Chủ Nhật |
Đạt |
| 8 |
II. Hạ tầng KT-XH |
Tiêu chí 8: Thông tin và truyền thông |
Có điểm bưu chính, internet tại xã, phủ sóng điện thoại 10 thôn, ứng dụng CNTT quản lý |
Đạt |
| 9 |
II. Hạ tầng KT-XH |
Tiêu chí 9: Nhà ở dân cư |
Còn 70 hộ nhà tạm, dột nát; tỷ lệ nhà ở đạt chuẩn chỉ đạt 43,30% - 50,25% |
Chưa đạt |
| 10 |
III. Kinh tế & TCSX |
Tiêu chí 10: Thu nhập |
Thu nhập bình quân đạt 18,0 - 19,5 triệu đồng/người/năm (chuẩn yêu cầu ≥ 29 triệu) |
Chưa đạt |
| 11 |
III. Kinh tế & TCSX |
Tiêu chí 11: Hộ nghèo |
Số hộ nghèo 365 hộ (46,39% theo chuẩn chung, tỷ lệ nghèo đa chiều 70,72%) |
Chưa đạt |
| 12 |
III. Kinh tế & TCSX |
Tiêu chí 12: Lao động có việc làm |
Số lao động có việc làm thường xuyên đạt 2.012 người (99,7%) |
Đạt |
| 13 |
III. Kinh tế & TCSX |
Tiêu chí 13: Tổ chức sản xuất |
Có hợp tác xã hoạt động theo Luật HTX 2012 và có liên kết sản xuất chủ lực |
Đạt |
| 14 |
IV. Văn hóa - XH - MT |
Tiêu chí 14: Giáo dục và đào tạo |
Đạt phổ cập MN, TH, THCS; nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp (15,85% - 31,85%) |
Chưa đạt |
| 15 |
IV. Văn hóa - XH - MT |
Tiêu chí 15: Y tế |
Trạm y tế xây dựng kiên cố 2 tầng, BHYT đạt 100% nhờ chính sách hỗ trợ vùng cao, suy dinh dưỡng trẻ em 23,44% |
Đạt |
| 16 |
IV. Văn hóa - XH - MT |
Tiêu chí 16: Văn hóa |
Toàn xã chỉ có 2/10 thôn đạt tiêu chuẩn thôn bản văn hóa (tỷ lệ 20,5%) |
Chưa đạt |
| 17 |
IV. Văn hóa - XH - MT |
Tiêu chí 17: Môi trường & ATTP |
Rác thải chủ yếu xử lý bằng đốt thủ công, nước thải xả tự do, chưa có nghĩa trang theo quy hoạch |
Chưa đạt |
| 18 |
V. Hệ thống CT & AN |
Tiêu chí 18: Hệ thống chính trị & Tiếp cận pháp luật |
Bộ máy đủ các tổ chức, Đảng bộ đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh, cán bộ đạt chuẩn |
Đạt |
| 19 |
V. Hệ thống CT & AN |
Tiêu chí 19: Quốc phòng và an ninh |
Lực lượng dân quân vững mạnh, trật tự xã hội ổn định, không có khiếu kiện phức tạp |
Đạt |
Nguyên nhân dẫn đến 11 tiêu chí chưa đạt được tác giả chỉ rõ: công tác tuyên truyền còn mang tính hình thức, chưa làm cho người dân hiểu rõ vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới; địa hình chia cắt phức tạp khiến chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, trường học rất tốn kém; ngân sách nhà nước hỗ trợ có hạn trong khi nguồn lực đóng góp từ nhân dân hạn hẹp do kinh tế hộ gia đình chủ yếu tự cấp tự túc; hủ tục và tập quán sinh hoạt, chăn nuôi lạc hậu gây cản trở hoàn thành tiêu chí môi trường.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng hợp những kết quả đạt được, đồng thời đưa ra các kiến nghị cụ thể cho Ủy ban nhân dân xã Ngán Chiên (tăng cường chỉ đạo, quản lý đất đai, lồng ghép các nguồn vốn, nâng cao chất lượng cán bộ) và các hộ dân trong xã (chủ động vươn lên thoát nghèo, tích cực tham gia các phong trào làm đường giao thông, cải tạo nhà ở và giữ gìn vệ sinh môi trường).
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Xác lập bức tranh dữ liệu toàn diện về tình hình sử dụng 1.684,89 ha đất đai, cơ cấu nhân khẩu 3.382 người thuộc 4 dân tộc thiểu số và hiện trạng kinh tế của 10 thôn bản tại xã Ngán Chiên.
- Phân định rõ ràng tiến độ thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới: xã mới đạt 8/19 tiêu chí (tỷ lệ 42,1% trên danh mục, văn bản tính 37,8%). Bộc lộ những điểm nghẽn nghiêm trọng nhất về mặt kinh tế và hạ tầng:
- Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều chiếm tới 70,72% (470/739 hộ theo chuẩn đa chiều giai đoạn 2016 - 2020) hoặc 46,39% (365/779 hộ theo phân loại năm 2018);
- Thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt từ 18,0 đến 19,5 triệu đồng/năm, cách xa ngưỡng chuẩn ≥ 29 triệu đồng/năm;
- Toàn bộ 50,2 km đường trục thôn, liên thôn và 20,5 km đường nội đồng đều là nền đường đất, thường xuyên lầy lội vào mùa mưa;
- Toàn xã còn 70 hộ sinh sống trong nhà tạm, nhà dột nát, chỉ có 43,30% - 50,25% hộ gia đình đạt chuẩn nhà ở kiên cố.
Hệ thống giải pháp đề xuất
Tác giả đề xuất nhóm giải pháp tương ứng với các tiêu chí đăng ký hoàn thành trong giai đoạn tiếp theo (gồm 4 tiêu chí ưu tiên: Giao thông, Thu nhập, Văn hóa, Giáo dục và đào tạo):
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động: Chuyển từ tuyên truyền một chiều sang nâng cao nhận thức để người dân hiểu xây dựng nông thôn mới là phục vụ chính mình, xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chính sách trợ cấp của Nhà nước.
- Phát triển kinh tế và nâng cao thu nhập: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi; nhân rộng các mô hình chăn nuôi trâu, bò hàng hóa thông qua khai thác nguồn vốn ưu đãi theo Nghị quyết 209/2015/HĐND tỉnh Hà Giang; củng cố hoạt động của hợp tác xã để kết nối bao tiêu nông sản.
- Huy động nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng: Áp dụng cơ chế "Nhà nước hỗ trợ vật liệu (xi măng), nhân dân đóng góp công lao động và hiến đất" để kiên cố hóa các tuyến đường liên thôn, nội đồng và kiên cố hóa kênh mương nội đồng.
- Bảo vệ môi trường nông thôn: Vận động nhân dân chỉnh trang nhà cửa, di dời chuồng trại gia súc ra xa nhà ở, xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh và xây dựng phương án thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt tập trung tại các thôn.
Đóng góp của đề tài
Khóa luận đã cung cấp hệ thống số liệu thực địa khách quan, chi tiết về xã Ngán Chiên ở mốc thời gian năm 2018 - 2019. Báo cáo phản ánh trung thực những rào cản đặc trưng của một xã vùng cao biên giới phía Bắc trong tiến trình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, không che giấu những tiêu chí còn yếu kém.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa tương đối ngắn (3 tháng, từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2019), các cuộc phỏng vấn nhanh mới dừng lại ở quy mô mẫu 90 hộ dân tại 3 thôn trong tổng số 10 thôn của xã.
- Các phân tích số liệu chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê mô tả giản đơn, chưa tiến hành hồi quy định lượng nhằm đo lường cụ thể mức độ tác động của từng yếu tố chính sách đối với thu nhập và chi tiêu của hộ nông dân.
- Chưa tính toán chi tiết dự toán nhu cầu kinh phí cụ thể để hoàn thiện từng công trình giao thông, thủy lợi, trường học trong 11 tiêu chí chưa đạt.
- Hướng nghiên cứu mở rộng:
- Khảo sát mở rộng toàn bộ 10 thôn bản của xã để có dữ liệu so sánh mức độ chênh lệch phát triển kinh tế giữa các thôn vùng cao và vùng thấp.
- Nghiên cứu sâu hơn về hiệu quả của các chuỗi liên kết sản xuất nông sản gắn với đề án "Mỗi xã một sản phẩm" (OCOP) và các chính sách hỗ trợ tín dụng của tỉnh Hà Giang tại địa bàn huyện Xín Mần.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành: Các ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý tài nguyên và Khuyến nông khi cần tìm tài liệu nghiên cứu thực địa về phương pháp điều tra kinh tế hộ và đánh giá tiêu chí nông thôn mới cấp xã.
- Cán bộ quản lý cơ sở: Cung cấp tư liệu thực tế cho Ủy ban nhân dân xã Ngán Chiên, Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới huyện Xín Mần trong việc lập kế hoạch phân kỳ vốn đầu tư và phân công tổ chức thực hiện các chỉ tiêu còn thiếu hụt.
- Phần nội dung có giá trị tham khảo cao: Hệ thống bảng số liệu điều tra hiện trạng đất đai (Bảng 4.1), cơ cấu chăn nuôi, trồng trọt và bản đánh giá chi tiết tình trạng từng tiêu chí trong nhóm Hạ tầng kỹ thuật và Văn hóa - Xã hội - Môi trường.
Câu hỏi thường gặp
1. Tính đến hết năm 2018, xã Ngán Chiên đã đạt được bao nhiêu tiêu chí nông thôn mới và tỷ lệ cụ thể là bao nhiêu?
Theo báo cáo và bảng tổng hợp trong khóa luận, xã Ngán Chiên đạt 8/19 tiêu chí (tỷ lệ 37,8% theo văn bản khóa luận hoặc 42,1% theo danh mục tiêu chí đã đạt), còn 11 tiêu chí chưa hoàn thành. Tám tiêu chí đạt gồm: Quy hoạch (Tiêu chí 1), Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn/Chợ (Tiêu chí 7), Thông tin và truyền thông (Tiêu chí 8), Lao động có việc làm (Tiêu chí 12), Tổ chức sản xuất (Tiêu chí 13), Y tế (Tiêu chí 15), Hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật (Tiêu chí 18), Quốc phòng và an ninh (Tiêu chí 19).
2. Hiện trạng tiêu chí Giao thông và Thủy lợi tại xã Ngán Chiên gặp phải những rào cản cụ thể nào?
Về giao thông, tuyến đường từ xã đi km26 dài 10 km đã rải nhựa nhưng chất lượng xuống cấp; toàn bộ 50,2 km đường trục thôn, liên thôn và 20,5 km đường nội đồng đều là đường đất, bề mặt hẹp (từ dưới 1 m đến 6 m), đi lại và vận chuyển nông sản rất khó khăn vào mùa mưa. Về thủy lợi, xã có 36,5 km kênh mương nhưng không có trạm bơm nào, diện tích đất canh tác được tưới tiêu chủ động chỉ đạt khoảng 60%, phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nước khe suối tự nhiên.
3. Tỷ lệ hộ nghèo và mức thu nhập bình quân đầu người của xã Ngán Chiên năm 2018 được ghi nhận như thế nào?
Theo báo cáo đánh giá tiêu chí nông thôn mới, thu nhập bình quân đầu người của xã chỉ đạt từ 18,0 đến 19,5 triệu đồng/người/năm (trong khi chuẩn nông thôn mới yêu cầu ≥ 29 triệu đồng/người/năm). Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều của xã giai đoạn 2016 - 2020 chiếm tới 70,72% (470/739 hộ); hoặc theo số liệu hành chính phân loại dân số cuối năm 2018, toàn xã có 365/779 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 46,39%.
4. Xã Ngán Chiên đã thành lập những bộ phận nào trong bộ máy chỉ đạo xây dựng nông thôn mới?
Ủy ban nhân dân xã Ngán Chiên đã ban hành: Quyết định số 68/QĐ-UBND (ngày 15/02/2018) và Quyết định số 74/QĐ-UBND (ngày 25/02/2018) kiện toàn Ban quản lý xây dựng nông thôn mới gồm 12 người do Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban; Quyết định số 72/QĐ-UBND (ngày 17/02/2018) kiện toàn Tổ giám sát, đánh giá; Quyết định số 73-QĐ/UBND (ngày 18/02/2018) kiện toàn Ban chỉ đạo gồm 14 người do Phó Bí thư Đảng ủy - Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban; đồng thời thành lập 10 Ban phát triển thôn tại toàn bộ 10/10 thôn bản trên địa bàn.
5. Trong kế hoạch năm tiếp theo, xã Ngán Chiên đăng ký phấn đấu hoàn thành những tiêu chí nào?
Trong kế hoạch đăng ký thực hiện, Ủy ban nhân dân xã Ngán Chiên đã lựa chọn và đăng ký hoàn thành thêm 4 tiêu chí cụ thể, gồm: Tiêu chí 2 (Giao thông), Tiêu chí 10 (Thu nhập), Tiêu chí 16 (Văn hóa) và Tiêu chí 14 (Giáo dục và đào tạo).
Kết luận
Khóa luận của sinh viên Lý Thị Lan đã phản ánh đầy đủ, trung thực hiện trạng kinh tế - xã hội và tiến trình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tại xã vùng cao biên giới Ngán Chiên, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang tính đến hết năm 2018. Kết quả đánh giá chỉ ra rằng địa phương mới đạt 8/19 tiêu chí, đối mặt với những thách thức lớn về tỷ lệ nghèo đói, hạn chế thu nhập và hạ tầng giao thông - thủy lợi chưa hoàn thiện. Công trình có giá trị thực tiễn đối với chính quyền địa phương trong việc định hình các giải pháp huy động nguồn lực và tổ chức thực hiện các tiêu chí trong giai đoạn tiếp theo.