Đặt vấn đề Nêu rõ lý do chon đề tài, mục tiêu, phạm vi nghiên cứu và nội dung cần giải quyết trong đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Xác định đúng cơ sở lý luận cho đề tài, nêu lên một số van đề trong định hướng phát triển nông thôn và các phương pháp đã sử dụng dé thực hiện dé tài. Chương 3: Tổng quan Giới thiệu tổng quan chung về địa điểm nghiên cứu với các thông tin về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trình bày những kết quả thu được từ quá trình nghiên cứu: - Về văn hóa làng xã truyền thống và hiện đại ở địa điểm nghiên cứu và mối quan hệ giữa hai loại hình văn hóa này trong chỉnh thể văn hóa làng xã nông thôn.
é Về tác động của văn hóa làng xã đến quá trình phát triển nông thôn. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Từ kết quả nghiên cứu, đưa ra những kết luận chung về vấn dé nghiên cứu. Đưa ra một số kiến nghị nhằm giúp người dân tiếp cận nền văn hóa hiện đại trên cơ sở gìn giữ nền văn hóa truyền thống. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.
Văn hoá làng xã Khái niêm về làng xã Làng là từ chỉ đơn vi tụ cư nhỏ nhất nhưng hoàn chỉnh của người nông dân Việt, là một tế bào sống của xã hội Việt Nam. Là sản phẩm của lịch sử, làng luôn nhận vào nó những đổi thay của đất nước, làng xã. Xã là đơn vị hành chính thấp nhất ở các vùng nông thôn Việt Nam. Xã có thể bao gồm từ một đến nhiều làng.
Thường làng xã được quan niệm như là một hình thái tổng hợp khép kín, hình thành trên quy mô sản xuất nhỏ, đáp ứng nhu cầu tự túc của chính mình. Làng xã Việt Nam là “tế bào” của xã hội nông thôn, là một loại hình tồn tai của quan cư ở nông thôn. Nó là một đơn vị tỗổ chức xã hội. Trên làng còn có huyện, tỉnh, nước.
Các đơn vị đó chỉ có ý nghĩa hành chính để phân cấp theo lãnh thổ. Khác với những đơn vị kể trên, làng là một khâu tổ chức chặt chế hoàn chỉnh về các mặt, là một tụ điểm quần cư, chung quanh làng thường có một lũy tre xanh và ao hồ bao bọc. San lũy tre làng là những con người sinh sống và làng tạo cho con người sống trong đó cảm thấy có một cuộc sống bình yên (Tô Duy Hợp. Làng xã Việt Nam là một cộng đồng có tính chất dân tộc học, xã hội học và tín ngưỡng.
Nó hình thành trong quá trình liên hiệp tự nguyện giữa những người nông dân lao động trên con đường chính phục vùng đất gieo trồng. Làng là đơn vị tụ cư, xã là đơn vị hành chính, còn thôn để chỉ làng nhưng được dùng trong giấy tờ hành chính trong trường hợp làng đó nhập với các làng khác dé trở thành một xã (Trần Từ, 1984). Khái niêm về văn hoá Văn hóa là một tập hợp những quan niệm, những giá trị vật chất và tỉnh thần, những chuẩn mực và những mục tiêu do con người sáng tạo, tích lũy qua oe SL ee eee quá trình hoạt động thực tiễn va cùng nhau chia sẻ trong đời sống hàng ngày của họ. Nó bao gồm cả văn hóa truyền thống và văn hóa hiện đại.
- Văn hóa truyền thống thẻ hiện trên các khía cạnh: Giá trị, chuẩn mực có từ lâu đời, các luật lệ được thể hiện bằng hương ước, các loại hình văn hóa dân gian như: lễ hội, giỗ họ. - Văn hóa hiện đại thể hiện trên các khía cạnh: Tư tưởng mới về các giá trị, chuẩn mực, các sinh hoạt đoàn thể, các loại hình văn hóa du nhập từ bên ngoài, ít bị ràng buộc bởi các tư tưởng cũ. Văn hóa làng xã và nét đặc thi của nó Văn hóa làng xã dùng dé chỉ văn hóa vùng nông thôn Việt Nam xét từ đơn vị làng. Văn hóa làng biểu hiện và trường tồn qua những giá trị vật thể và phi vật thể đang được bảo tồn ở các gia đình, các đòng họ và ở các làng quê.
Văn hóa làng được thể hiện trong những quy tắc ứng xử của làng, lễ hội của làng, và cả những giá trị tín ngưỡng trong tâm linh của mỗi thành viên trong cộng đồng. Trong lễ hội, các nét nổi trội của làng được thé hiện ra thành cái đẹp trong suy nghĩ, đối đáp qua lời ăn tiếng nói, cử chỉ, nét mặt, quần áo. Hội làng có ảnh hưởng mạnh và lôi cuốn sự tham gia của các thành viên trong làng. Các thành viên trong làng chuẩn bị, đóng góp, và cùng nhau tray hội.
Hội làng còn lôi cuốn các con cháu phương xa trở về, cùng nhau vui vẻ. Văn hóa làng còn thé hiện qua phần lễ - cúng tế của lang. Nó tuân thủ những quy tắc nghiêm ngặt mà các thành viên trong làng phải tuân theo. Văn hóa làng còn thể hiện ở văn hóa đạo đức tạo ra nhưng thuần phong mỹ tục, cung cách ứng xử trong làng.
Chính điều này đã tạo dựng và củng cố những mối quan hệ hài hòa, bền vững giữa người với người từ thuở xa xưa cho đến ngày nay. Các yếu tố của văn hóa làng xã. Mỗi một nhóm, cộng đồng xã hội hay một xã hội cụ thể cũng như xã hội loài người nói chung đều có một nên văn hóa. Mỗi nền văn hóa ấy đều có chung những thành té sau: Các chân lý do những quan niệm chung mang lại.
Nhờ những chân lý này mà các thành viên của một nhóm xã hội, của một cộng đồng có được những quan niện “đúng”, “sai”. Nhờ vào đó mà các thành viên có thê cùng chia sẻ, thông hiệu lẫn nhau, chỉ phối nhau trong hoạt động của mình. Hệ chân lý này là những xuất phát điểm để cho các thành viên trong cộng đồng nhìn nhận đánh giá những hành vi ứng xử, để cùng nhau chia sẻ trong hoạt động chung. Nó được nảy sinh trong đời sống, hoạt động của các nhóm, các cộng đồng xã hội.
Hệ các giá trị là cái mà ta cho là đáng có, ta cho là quan trọng, đáng khâm phục, đáng noi theo và là cái ảnh hưởng đến hành vi hoạt động của ta, là cái mà những người khác căn cứ để đánh giá các hành vi khuôn mẫu tác phong của các thành viên trong một nhóm, cộng đồng một xã hội. Chuẩn mực là những quy tắc xã hội của nhóm hay cộng đồng xã hội được mô hình hóa thống nhất giành cho một vị thế xã hội và cho biết phải hành động như thế nào. Đó là những cung cách bắt buộc được mô hình hóa thành hành vi dành cho một vị thế xã hội. Chuẩn mực trong đời sống hoạt động được thé chế hóa thành các quy tắc, quy định, những đòi hỏi của xã hội đối với một khuôn mẫu tác phong của họ.
Những chuẩn mực xã hội được đặt ra cho biết những thành viên của một nhóm xã hội biết phải hành động như thế nào trong một tổ chức xã hội hay trong một tinh huống xã hội nhất định vì có những chuẩn mực trong nền văn hóa này được chấp nhận nhưng trong nền văn hóa khác được coi là không được phép. Tín ngưỡng, phong tục, các nghi lễ được thể hiện trong đời sống hàng ngày như những nghỉ lễ trong giao tiếp và ứng xử xã hội. Chúng tạo thành một nếp sống đặc thù và là những nét đặc trưng độc đáo cho mỗi xã hội. Những quy luật văn hóa đó tạo thành một lối sống, một nếp sống của một xã hội.
Văn hóa được biểu hiện ra trong đời sống, hoạt động của con người dưới dạng lễ Tết, lễ hội. Trong nông thôn Việt Nam có rất nhiều Tết và lễ hội. Đây là địp để mọi thành viên trong gia đình xum họp và cũng là địp để mọi người vui chơi. Những chức năng của văn hóa Văn hóa có những chức năng quan trọng.
Trước hết phải kể đến việc văn hóa làm cho con người trong xã hội hòa nhập với nhau. Chính vì thể, văn hóa ảnh hưởng đến hành vi của các cá nhân, nó quy định các hành vi của mỗi thành viên Ee A ES SS SELL EE Se —— ——— trong xã hội. Mỗi thành viên trong xã hội luôn tiếp thu, học hỏi cách nhìn của nền văn hóa. Kết quả là họ có được một cách nhìn nhận về các sự vật, sự kiện, những hiện tượng, những quá trình của thế giới xung quanh như nhau.
Thứ hai, do quá trình tiếp thu văn hóa mà các cá nhân có được một nhân cách độc đáo của mình. Nhưng ở mỗi cá nhân, nhân cách này là một đặc trưng khu biệt giữa các cá nhân xã hội. Chính vì vậy, văn hóa cũng có chức năng làm khu biệt độc đáo các cá nhân xã hội. Mặt khác, nó góp phần làm thu nhỏ sự khác biệt đó.
Thứ ba, văn hóa còn có chức năng điều chỉnh các hành vi của con người. Bởi vì, văn hóa quy định những cung cách ứng xử xã hội, những chuẩn mực, những giá trị xã hội mà cá nhân phải thực hiện. Thứ tư, văn hóa còn có chức năng duy trì, tổ chức xã hội. Thông qua các chuẩn mực mà xã hội có được cung cách hoạt động, quan hệ giá trị mà có được hệ thống quy định thưởng phạt.
Thông qua văn hóa mà người ta có được ý thức về hành vi của mình, tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với yêu cầu của xã hội. Cấu trúc của văn hóa Đồng Bằng Sông Hồng Đặc điểm bao trùm của nền văn hóa nông thôn ĐBSH xuất phát từ những điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù. Nhìn từ góc độ văn hóa, đây là xã hội mà những hằng số văn hóa xuyên lịch sử vẫn còn đậm nét, được biểu hiện trên cả ba bình điện: kinh tế, chính trị và văn hóa (Trần Thị Lan Hương, 2000). Trong bản thân nội tại của văn hóa, cấu trúc văn hóa truyền thống được thể hiện trên các khía cạnh: sáng tao và tiêu dùng văn hóa, bệ thống giá trị và chuẩn mực, tô chức đời sống văn hóa ở gia đình, làng xã.
Do đó, nói đến văn hóa nông thôn ĐBSH chủ yếu là nói đến một câu trúc văn hóa truyền thống vẫn được bảo lưu và phát huy tác dụng trong đời sống hiện tại của cư đân. Đây là nền văn hóa còn giữ được khá đậm nét các cấu trúc của nền văn minh nông nghiệp — nông dân truyền thống.