Tổng quan luận án
Đề tài "Nghiên cứu thuật ngữ chỉ bệnh trong tiếng Anh và cách chuyển dịch sang tiếng Việt" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hoài thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Văn Chính, bảo vệ năm 2018 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu (mã số: 62 22 02 41).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, y tế là một trong những ngành mũi nhọn tiếp cận tri thức hiện đại. Đội ngũ cán bộ y tế, giảng viên và học viên ngành y thường xuyên tiếp cận các tài liệu chuyên môn bằng tiếng Anh. Tuy nhiên, việc nắm bắt và chuyển dịch hệ thống thuật ngữ y học, đặc biệt là thuật ngữ chỉ bệnh (TNCB), gặp nhiều khó khăn do đặc thù nguồn gốc và cấu trúc từ vựng. Người sử dụng tiếng Anh có thể biết từ vựng thông thường chỉ bộ phận cơ thể (như muscle - cơ, bắp thịt), nhưng các thuật ngữ bệnh học liên quan lại cấu tạo từ gốc Hy Lạp hoặc Latinh (myo- trong myopathy - bệnh về cơ, myoma - u cơ, myosarcoma - u cơ ác tính, myositis - viêm cơ).
Đồng thời, trong tiếng Việt hiện nay tồn tại nhiều biểu thức ngôn ngữ khác nhau để chuyển dịch cùng một tên bệnh tiếng Anh, dẫn đến tình trạng thiếu chuẩn hóa và thiếu thống nhất. Ví dụ, thuật ngữ hypertension được dịch thành tăng huyết áp, cao huyết áp, hoặc tăng xông; osteosarcoma được gọi là u xương ác tính hoặc sarcoma xương; một số tên bệnh giữ nguyên dạng phiên âm như Eczema, Parkinson, Alzheimer. Y học thế giới liên tục phát hiện các bệnh mới với tên gọi chuẩn quốc tế bằng tiếng Anh, trong khi tiếng Việt chưa có hệ thống tiêu chuẩn thống nhất để định danh và chuyển dịch nhóm thuật ngữ này. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống về cấu tạo, định danh và cách chuyển dịch TNCB Anh - Việt nhằm hướng tới chuẩn hóa và biên soạn từ điển chuyên ngành là một yêu cầu khoa học và thực tiễn cấp thiết.
Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: các công trình trong nước trước đây chủ yếu dừng lại ở việc khảo sát thuật ngữ y học chung chung hoặc biên soạn từ điển đối dịch, chưa có công trình nào đi sâu khảo sát chuyên biệt phân hệ thuật ngữ chỉ bệnh trên cả ba bình diện: cấu tạo hình thái học, đặc điểm định danh ngữ nghĩa và cơ chế chuyển dịch tương đương Anh - Việt.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích chính của luận án là nghiên cứu hệ thống thuật ngữ chỉ bệnh trong tiếng Anh nhằm xác định đặc điểm cấu tạo và định danh, tìm ra các đơn vị tương đương trong tiếng Việt, khảo sát cách chuyển dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt; trên cơ sở đó đề xuất giải pháp chuyển dịch, xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ chỉ bệnh tiếng Việt, phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu, biên dịch y khoa và hướng tới biên soạn từ điển thuật ngữ chỉ bệnh Anh - Việt.
Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Khái quát tình hình nghiên cứu về thuật ngữ, thuật ngữ y học nói chung và thuật ngữ chỉ bệnh nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam; xác định cơ sở lý luận về thuật ngữ, thuật ngữ chỉ bệnh và các vấn đề về đối chiếu, chuyển dịch thuật ngữ để xây dựng khung lý thuyết cho luận án.
- Khảo sát hệ thống thuật ngữ chỉ bệnh trong tiếng Anh, từ đó tìm ra các đặc điểm mô hình cấu tạo và các đơn vị tương đương trong tiếng Việt.
- Tiến hành miêu tả đặc điểm định danh của bộ phận thuật ngữ này trên phạm vi các bệnh có tính chất phổ biến và hiện hành trên thế giới hiện nay.
- Nghiên cứu các vấn đề về chuyển dịch thuật ngữ chỉ bệnh Anh - Việt, đồng thời đưa ra một số đề xuất cụ thể liên quan đến dịch thuật ngữ và chuẩn hóa các thuật ngữ chỉ bệnh trong tiếng Việt.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các thuật ngữ chỉ bệnh trong tiếng Anh và tiếng Việt, cùng các phương thức chuyển dịch nhóm thuật ngữ này từ tiếng Anh sang tiếng Việt.
- Phạm vi nghiên cứu: 1.949 thuật ngữ chỉ bệnh tiếng Anh và phần đối dịch tiếng Việt, được tập hợp chủ yếu từ cuốn Từ điển Y học Anh - Pháp - Nga - Latin - Nhật - Việt (NXB Khoa học và Kỹ thuật, 2001), có so sánh, tham khảo và đối chiếu với Bảng phân loại quốc tế bệnh tật Việt - Anh (ICD-10), Từ điển Y học Oxford, Từ điển Y học Dorland và các tài liệu tiếng Anh chuyên ngành y.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trên thế giới
Thuật ngữ học hình thành từ những năm 1930 với công trình luận án tiến sĩ của Eugen Wüster (1930) – người đặt nền móng cho thuật ngữ học hiện đại và lý thuyết chung về thuật ngữ. Eugen Wüster ghi nhận 4 học giả đặt nền tảng cho lý thuyết thuật ngữ gồm: Alfred Schlomann (Đức), Ferdinand de Saussure (Thụy Sĩ), E. Dresen (Nga), và J. Holmstrom (Anh/UNESCO). Lý thuyết thuật ngữ học phát triển qua 3 trường phái cổ điển: trường phái Viên (Áo) xem thuật ngữ là khoa học liên ngành độc lập; trường phái Xô Viết tập trung vào nội dung triết học và phân loại logic hệ thống khái niệm; trường phái Praha (Cộng hòa Séc) tiếp cận theo hướng ngữ dụng học, coi thuật ngữ là thành phần của vốn từ vựng ngôn ngữ. Các giai đoạn phát triển tiếp theo được ghi nhận qua các công trình của Maria Teresa Cabré (1992, 2003), Alain Rey, và Dagmar Sageder (2010).
Về lịch sử thuật ngữ y học phương Tây, các tác giả quốc tế như Iulia Cristina Frinculescu (2009), András László Magyar (2009), Nagy Imola Katalin (2013), và David Crystal (1997) đã phân tích tiến trình từ thời cổ đại Hy Lạp (Corpus Hippocraticum của Hippocrates, công trình của Claudios Galenos, Xencritos Callimachus), thời Trung cổ (dịch sang tiếng Latinh qua trung gian tiếng Ả Rập, các trường phái tại Montpellier, tác phẩm của Stephanus, Matthaeus Sylvaticus, Theodorus Borgogogni, Constantinus Africanus, Petrus Hispanus), thời Phục hưng (sự xuất hiện của công nghệ in ấn, từ điển y học của Symphorien Champer, Antonius Nebrissensis, Laurentius Phrisius, Michael Toxites, Henric Stephanus, Bartholomeus Castellus, từ điển giải phẫu của Josephus Amerarius 1551, Caspar Bauhinus 1591), giai đoạn thế kỷ 17–19 (phân loại của J.M. Sagar 1783, Boissier de Sauvages 1768, từ điển chuyên ngành của Jean Duvelle 1644, Stephanus Blancardus 1679), cho đến thế kỷ 20 với sự thống trị của tiếng Anh y khoa.
Về nghiên cứu thuật ngữ y học tiếng Anh chuyên sâu, hệ thống tài liệu gồm:
- Các bộ từ điển giải thích: Dorland’s Illustrated Medical Dictionary, Dorland’s Pocket Medical Dictionary, Taber’s Cyclopedic Medical Dictionary, Mosby’s Medical Dictionary, Oxford Medical Dictionary, Butterworths Medical Dictionary, Miller-Keane Encyclopedia & Dictionary of Medicine, Nursing & Allied Health.
- Giáo trình và tài liệu nghiên cứu: Eric H. Glendinning & Ron Howard (2007) với Professional English in Use Medicine, Eric H. Glendinning & John McEwan với English in Medicine, John H. Dirckx (2004, 2005) với Human Diseases và The Language of Medicine, Gretchen Bloom (1982).
- Các bài báo nghiên cứu: Luu Trong Tuan (2009) nghiên cứu sự tiếp xúc ngôn ngữ trong hình thành thuật ngữ y học tiếng Việt; Tomas Hamar (2014) khảo sát TNCB trong công trình của Caelius Aurelianus; Yasuko Yoshida & Yoshitoku Yoshida (2015) nghiên cứu mức độ nhận thức thuật ngữ y học của bệnh nhân.
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiên cứu thuật ngữ bắt đầu từ công trình Danh từ khoa học (1942) của Hoàng Xuân Hãn với 6.000 thuật ngữ khoa học tự nhiên dựa trên tiếng Pháp, đưa ra 3 phương thức xây dựng và 8 yêu cầu cho thuật ngữ mới. Tiếp theo là các công trình nghiên cứu lý luận của Lưu Vân Lăng, Như Ý, Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Lê Khả Kế, Hoàng Văn Hành (1983), Lê Quang Thiêm (2015), Nguyễn Đức Tồn (2010, 2012), Hà Quang Năng (1995, 2009), Nguyễn Văn Khang (2000a, 2000b).
Trong phân ngành y học tiếng Việt, Giáo sư Đỗ Xuân Hợp là người đặt nền móng với cuốn Morphologie humaine et anatomie artistique (1942, viết cùng Pierre Huard) và bộ sách giáo khoa giải phẫu học tiếng Việt (1952–1971), dịch hàng chục nghìn thuật ngữ y học sang tiếng Việt. Kế thừa thành tựu đó, Giáo sư Nguyễn Quang Quyền cho ra đời Bài giảng giải phẫu học và Danh từ giải phẫu học, chuẩn hóa danh pháp giải phẫu quốc tế vào Việt Nam. Các từ điển y học tiếp tục được xuất bản: Danh từ y dược Pháp - Việt (1963, 1976) của Hoàng Đình Cầu và Bùi Khánh Thuần; Danh từ Y học Pháp - Việt (1971) của Lê Khắc Quyến; Từ điển Y học Nga - Việt (1967) của Hoàng Đình Cầu và Nguyễn Văn Trong; Từ điển Y học Anh - Việt (1991) của Bùi Khánh Thuần (hơn 40.000 thuật ngữ); Từ điển y dược Anh - Việt (1988) của Chu Văn Tường; Từ điển Y học Anh - Pháp - Nga - Latin - Nhật - Việt (2001) của I. Xô Cô Lốp và Trương Cam Bảo; Từ điển Y học Dorland Anh - Việt (ấn bản 30); Bảng phân loại Quốc tế bệnh tật Việt - Anh (ICD-10).
Về nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ y học Anh - Việt, có luận án tiến sĩ của Vương Thị Thu Minh (2005) về Khảo sát thuật ngữ y học tiếng Anh và cách phiên chuyển sang tiếng Việt, các bài báo của Vương Thị Thu Minh (2004), Nguyễn Phước Vĩnh Cố (2011, 2015), Phạm Thị Minh Chiên (2013).
Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án kế thừa các lý thuyết về thuật ngữ học và dịch thuật học đối chiếu, tập trung giải quyết khoảng trống: đi sâu phân tích hệ thống thuật ngữ chỉ bệnh (tên gọi các loại bệnh tật) trong tiếng Anh về đặc điểm cấu tạo hình thái và các mô hình định danh ngữ nghĩa; phân tích thực trạng chuyển dịch sang tiếng Việt; ứng dụng lý thuyết điển mẫu để xây dựng tiêu chí và đề xuất giải pháp chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ chỉ bệnh tiếng Việt.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm
- Khái niệm thuật ngữ: Luận án tiếp thu định nghĩa của Nguyễn Đức Tồn: "Thuật ngữ là từ, ngữ biểu hiện một khái niệm hoặc một đối tượng trong phạm vi một lĩnh vực khoa học hoặc chuyên môn".
- Tiêu chuẩn thuật ngữ: Dựa trên 12 tiêu chuẩn của ISO-1087:1999 và quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam (Nguyễn Văn Tu, Lưu Vân Lăng, Nguyễn Thiện Giáp, Hà Quang Năng), luận án xác lập 5 tiêu chuẩn của thuật ngữ:
- Tính chính xác (tính khoa học, biểu hiện đúng khái niệm, đảm bảo tính đơn nghĩa);
- Tính hệ thống (hệ thống về nội dung khái niệm và hệ thống về hình thức ký hiệu);
- Tính quốc tế (biểu đạt tri thức chung của nhân loại, thể hiện ở ngữ âm, thành tố cấu tạo hoặc vay mượn);
- Tính ngắn gọn, dễ hiểu (chứa lượng thông tin cao, dễ nhớ, dễ sử dụng);
- Tính dân tộc (phù hợp với cấu trúc ngữ pháp và ngữ âm tiếng Việt).
- Quan niệm về từ và cấu tạo thuật ngữ: Luận án theo quan điểm từ không hoàn toàn trùng với âm tiết (Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Văn Tu, Lưu Vân Lăng, Đỗ Hữu Châu, Vũ Đức Nghiệu, Nguyễn Văn Hiệp): từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có khả năng hoạt động độc lập để tạo câu. Do đó, thuật ngữ được xác định có thể là từ (từ đơn, từ ghép, từ phái sinh) hoặc ngữ (cụm từ cố định).
- Khái niệm thuật ngữ chỉ bệnh (TNCB): Phân biệt giữa pathology (bệnh học - khoa học nghiên cứu bản chất, nguyên nhân bệnh) và disease (bệnh - sự rối loạn, bất thường về chức năng hoặc cấu trúc). Thuật ngữ chỉ bệnh trong luận án là từ, ngữ dùng để biểu thị khái niệm về một bệnh cụ thể (disease), gắn liền với bộ phận cơ quan, cơ chế chuyển hóa, nguyên nhân, trạng thái, tác nhân gây bệnh.
- Lý thuyết định danh và lý thuyết điển mẫu (Prototype Theory): Sử dụng lý thuyết định danh ngôn ngữ học để phân loại các phương thức gọi tên bệnh và ứng dụng lý thuyết điển mẫu trong việc lựa chọn, xác lập thuật ngữ chuẩn đại diện cho một khái niệm bệnh trong tiếng Việt.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án phối hợp các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp phân tích thành tố cấu tạo trực tiếp: Phân tích các thành tố (căn tố, tiền tố, hậu tố, từ tố) nhằm xác định mô hình cấu trúc của TNCB trong tiếng Anh và tiếng Việt.
- Phương pháp mô tả và so sánh đối chiếu: So sánh các điểm tương đồng và khác biệt giữa TNCB tiếng Anh và tiếng Việt về mặt cấu tạo hình thái và phương thức định danh.
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: Xác định đặc điểm định danh, phân tích nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm của các thành tố trong thuật ngữ tiếng Anh và đơn vị dịch tương đương tiếng Việt.
- Phương pháp đối dịch: Khảo sát các thao tác chuyển dịch biểu thức ngôn ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt, đánh giá mức độ tương đương ngữ nghĩa và cấu trúc.
- Các thủ pháp bổ trợ: Thủ pháp thống kê, phân loại định lượng kết hợp phân tích định tính; thủ pháp mô hình hóa và lập bảng biểu.
Nguồn tư liệu và ngữ liệu khảo sát
Ngữ liệu khảo sát gồm 1.949 đơn vị thuật ngữ chỉ bệnh tiếng Anh và phần đối dịch tiếng Việt, trích xuất từ:
- Từ điển Y học Anh - Pháp - Nga - Latin - Nhật - Việt (I. Xô Cô Lốp & Trương Cam Bảo, NXB Khoa học và Kỹ thuật, 2001);
- Bảng phân loại quốc tế bệnh tật Việt - Anh (ICD-10) (Bộ Y tế);
- Từ điển Y học Oxford (Oxford University Press, 1998, 2002);
- Từ điển Y học Dorland và các tài liệu tiếng Anh y khoa chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu thuật ngữ và thuật ngữ y học trên thế giới (từ thời cổ đại Hy - La, Trung cổ, Phục hưng, thế kỷ 17–19 đến hiện đại) và tại Việt Nam (từ các công trình của Hoàng Xuân Hãn, Đỗ Xuân Hợp, Nguyễn Quang Quyền đến các nhà ngôn ngữ học hiện đại). Chương này xác lập khung lý thuyết về bản chất thuật ngữ, tiêu chuẩn xây dựng thuật ngữ, đơn vị từ và ngữ, phân biệt pathology và disease, đặc trưng của ngôn ngữ y học bắt nguồn từ gốc Hy Lạp và Latinh, cùng lý luận dịch thuật chuyên ngành.
Chương 2: Cấu tạo thuật ngữ chỉ bệnh tiếng Anh và chuyển dịch tương đương tiếng Việt
Chương 2 khảo sát chi tiết cấu tạo hình thái học của 1.949 thuật ngữ chỉ bệnh tiếng Anh và các đơn vị tương đương tiếng Việt.
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| TỔNG THỂ NGỮ LIỆU KHẢO SÁT: 1.949 THUẬT NGỮ CHỈ BỆNH (TNCB) |
+-----------------------------------------+-----------------------------------------+
| Tiếng Anh | Tiếng Việt (Chuyển dịch tương đương) |
+-----------------------------------------+-----------------------------------------+
| 1. TNCB là từ: | 1. TNCB là từ: |
| - Từ phái sinh (Căn tố + Phụ tố) | - Từ ghép Hán - Việt |
| - Từ ghép | - Từ ghép thuần Việt |
| - Từ viết tắt (Acronym/Abbreviation) | - Từ phiên âm / mượn dạng |
| 2. TNCB là ngữ: | 2. TNCB là ngữ: |
| - Cụm Danh từ (N + N, Adj + N...) | - Ngữ danh từ (Trung tâm + Định tố) |
| - Cụm có giới từ | - Cấu trúc có từ chỉ loại bệnh |
+-----------------------------------------+-----------------------------------------+
1. Cấu tạo thuật ngữ chỉ bệnh tiếng Anh
- TNCB tiếng Anh là từ: Chiếm tỷ lệ lớn, chủ yếu là từ phái sinh cấu tạo từ các căn tố (roots/combining forms), tiền tố (prefixes) và hậu tố (suffixes) có nguồn gốc Hy Lạp và Latinh:
- Căn tố: Thường chỉ bộ phận cơ thể hoặc tình trạng bệnh lý (ví dụ: cardi/o - tim, nephr/o - thận, hepat/o - gan, gastr/o - dạ dày, oste/o - xương, my/o - cơ, derm/o - da, neur/o - thần kinh, haem/o - máu).
- Tiền tố: Chỉ trạng thái, mức độ, vị trí, số lượng, thời gian (ví dụ: hyper- [tăng/quá mức], hypo- [giảm/thiếu], a-/an- [không/mất], dys- [khó/rối loạn], brady- [chậm], tachy- [nhanh], poly- [đa/nhiều], oligo- [ít/thiểu], micro- [nhỏ], macro- [lớn], endo- [nội/bên trong], peri- [chu/quanh], epi- [thượng/trên], sub- [dưới/hạ]).
- Hậu tố: Chỉ tình trạng bệnh lý hoặc quá trình bệnh học (ví dụ: -itis [viêm], -oma [u], -osis [tình trạng thoái hóa/tăng sinh bất thường], -pathy [bệnh lý], -malacia [nhuyễn/mềm hóa], -megaly [phì đại/to], -rrhea [chảy dịch], -rrhagia [xuất huyết], -sclerosis [xơ hóa], -stenosis [hẹp]).
- Từ viết tắt: Gồm các dạng viết tắt chữ đầu như AIDS (Acquired Immunodeficiency Syndrome), SARS (Severe Acute Respiratory Syndrome), COPD (Chronic Obstructive Pulmonary Disease).
- TNCB tiếng Anh là ngữ: Cấu tạo theo mô hình cụm danh từ gồm thành tố phụ (bổ ngữ, tính từ, danh từ làm định ngữ) đứng trước thành tố trung tâm (danh từ chỉ bệnh), ví dụ: coronary artery disease, chronic renal failure, acute myocardial infarction.
2. Cấu tạo thuật ngữ chỉ bệnh tiếng Việt
- TNCB tiếng Việt là từ: Thường là từ ghép gốc Hán - Việt mang tính cô đọng (ví dụ: viêm gan, phế viêm, thận suy, dạ dày viêm, tăng huyết áp).
- TNCB tiếng Việt là ngữ: Chiếm số lượng áp đảo. Cấu trúc ngữ pháp điển hình gồm thành tố chỉ loại/trạng thái bệnh lý làm trung tâm đứng trước, kết hợp với các định tố chỉ cơ quan giải phẫu, nguyên nhân hoặc tính chất đứng sau:
[Bệnh/Hội chứng/Viêm/U/Loạn/Suy] + [Bộ phận cơ thể / Cơ quan] + [Tính chất / Nguyên nhân / Vị trí]
- Ví dụ: viêm [trung tâm] + tiểu phế quản [định tố 1] + co thắt [định tố 2]; suy [trung tâm] + tim [định tố 1] + mạn tính [định tố 2].
3. So sánh đối chiếu cấu tạo TNCB Anh - Việt
| Tiêu chí |
Thuật ngữ chỉ bệnh tiếng Anh |
Thuật ngữ chỉ bệnh tiếng Việt |
| Cơ chế hình thành từ |
Trọng tâm dùng hình thái học phái sinh (căn tố Hy - La + tiền tố + hậu tố viết liền thành một từ). |
Trọng tâm dùng ghép từ và tổ hợp ngữ (từ ghép Hán - Việt hoặc ngữ phân tích tính thuần Việt). |
| Trật tự thành tố trong ngữ |
Định tố đứng trước, trung tâm đứng sau (Modifier + Head). Ví dụ: Acute renal failure. |
Trung tâm đứng trước, định tố đứng sau (Head + Modifier). Ví dụ: Suy thận cấp. |
| Mức độ phân tích tính |
Tính tổng hợp cao ở dạng từ phái sinh (nephritis). |
Tính phân tích cao, thể hiện rõ từng khái niệm thành phần (viêm thận). |
| Yếu tố cấu tạo ngoại lai |
Vay mượn và tích hợp gốc từ Hy Lạp và Latinh. |
Vay mượn từ tố Hán - Việt kết hợp từ thuần Việt, mượn một số tên riêng/dạng viết tắt Ấn - Âu. |
Chương 3: Đặc điểm định danh của thuật ngữ chỉ bệnh tiếng Anh và chuyển dịch tương đương tiếng Việt
Chương 3 phân loại và miêu tả các phương thức định danh TNCB dựa trên lý thuyết định danh ngôn ngữ học, khảo sát qua hai trục phân loại chính:
1. Định danh dựa trên các đặc trưng của bệnh
- Theo trạng thái/tính chất bệnh: Xác định mức độ cấp tính, mạn tính, thoái hóa, hoại tử, viêm nhiễm, tắc nghẽn (ví dụ: acute bronchitis -> viêm phế quản cấp; chronic hepatitis -> viêm gan mạn).
- Theo đặc điểm màu sắc: Sử dụng các thành tố chỉ màu sắc phản ánh triệu chứng lâm sàng:
- leuk/o- (trắng): leukemia -> bệnh bạch cầu / ung thư máu;
- erythr/o- (đỏ): erythema -> ban đỏ;
- cyan/o- (xanh tím): cyanosis -> chứng xanh tím;
- melan/o- (đen): melanoma -> u hắc tố;
- xanth/o-, cirrh/o- (vàng): xanthoma -> u vàng, cirrhosis -> xơ gan (vàng);
- jaundice -> bệnh vàng da.
- Theo đặc điểm số lượng: Sử dụng tiền tố chỉ mức độ thừa/thiếu, tăng/giảm:
- hyper- / hypo-: hyperglycemia -> tăng đường huyết, hypothyroidism -> suy giáp;
- poly- / oligo-: polyuria -> đa niệu, oliguria -> thiểu niệu;
- a- / an-: anemia -> thiếu máu, anuria -> vô niệu.
- Theo đặc điểm thời gian: Phản ánh thời điểm phát sinh hoặc diễn tiến bệnh: congenital (bẩm sinh), neonatal (sơ sinh), postoperative (hậu phẫu), nocturnal (ban đêm).
- Theo đặc điểm vị trí: Phản ánh vị trí giải phẫu định khu: anterior (trước), posterior (sau), superior (trên), inferior (dưới), internal (trong), external (ngoài), proximal (gần), distal (xa).
2. Định danh dựa trên các bộ phận và cơ quan cơ thể người
Luận án khảo sát định danh TNCB phân bổ trên 17 nhóm cơ quan/hệ thống giải phẫu:
| Nhóm cơ quan / Bộ phận |
Căn tố tiếng Anh tiêu biểu (Hy Lạp - Latinh) |
Ví dụ TNCB tiếng Anh và chuyển dịch tiếng Việt |
| 1. Đầu |
cephal/o, crani/o, encephal/o |
microcephaly -> tật đầu nhỏ; encephalitis -> viêm não |
| 2. Nửa thân trên |
thorac/o, mamm/o, mast/o, cervic/o |
mastitis -> viêm tuyến vú; thoracodynia -> đau ngực |
| 3. Khoang bụng & Tiêu hóa |
gastr/o, enter/o, hepat/o, cholecyst/o, col/o, appendic/o |
gastritis -> viêm dạ dày; cholecystitis -> viêm túi mật; appendicitis -> viêm ruột thừa |
| 4. Chi |
pod/o, cheir/o, dactyl/o, brachi/o |
podagra -> bệnh gút ở chân; dactylitis -> viêm ngón |
| 5. Da, móng, lông tóc |
derm/o, dermat/o, onych/o, trich/o |
dermatitis -> viêm da; onychomycosis -> nấm móng; trichosis -> bệnh lông tóc |
| 6. Phổi & Hệ hô hấp |
pneum/o, pneumon/o, bronch/o, laryng/o, pleur/o |
pneumonia -> viêm phổi; bronchiectasis -> giãn phế quản; pleurisy -> viêm màng phổi |
| 7. Xương, sụn, khớp |
oste/o, chondr/o, arthr/o, spondyl/o |
osteoarthritis -> thoái hóa khớp / viêm xương khớp; spondylitis -> viêm cột sống |
| 8. Tim, mạch, máu & Tuần hoàn |
cardi/o, angi/o, vas/o, phleb/o, thromb/o |
myocarditis -> viêm cơ tim; phlebitis -> viêm tĩnh mạch; thrombosis -> bệnh huyết khối |
| 9. Thận & Hệ tiết niệu |
nephr/o, ren/o, cyst/o, ureter/o, urethr/o |
nephrolithiasis -> sỏi thận; glomerulonephritis -> viêm cầu thận; cystitis -> viêm bàng quang |
| 10. Hệ sinh dục & Phụ khoa |
hyster/o, metr/o, oophor/o, salping/o, orchid/o, prostat/o |
endometritis -> viêm nội mạc tử cung; salpingitis -> viêm vòi trứng; orchitis -> viêm tinh hoàn |
| 11. Cơ quan nội tiết |
aden/o, thyr/o, parathyr/o, adren/o |
adenoma -> u tuyến; hyperthyroidism -> cường giáp; hypoparathyroidism -> suy cận giáp |
| 12. Mắt |
ophthalm/o, ocul/o, blephar/o, kerat/o, retin/o |
blepharitis -> viêm bờ mi; keratitis -> viêm giác mạc; retinopathy -> bệnh võng mạc |
| 13. Tai - Mũi - Họng |
ot/o, rhin/o, laryng/o, pharyng/o, tympan/o |
otitis media -> viêm tai giữa; rhinitis -> viêm mũi; pharyngitis -> viêm họng |
| 14. Tâm lý |
psych/o, schiz/o, phob/o, man/o |
psychosis -> loạn thần; schizophrenia -> tâm thần phân liệt; claustrophobia -> chứng sợ kín |
| 15. Hệ thần kinh |
neur/o, mening/o, myel/o, poli/o |
meningitis -> viêm màng não; neuropathy -> bệnh thần kinh ngoại biên; poliomyelitis -> bại liệt |
| 16. Các giác quan |
audi/o, gust/o, osm/o, opt/o |
anosmia -> mất khứu giác; ageusia -> mất vị giác; presbycusis -> lão thính |
| 17. Cơ |
my/o, myos/o, muscul/o, rhabdomy/o |
myositis -> viêm cơ; myasthenia gravis -> bệnh nhược cơ; rhabdomyosarcoma -> sarcoma cơ vân |
| 18. Huyết học |
haem/o, hemat/o, leuk/o, erythr/o, thrombocyt/o |
hemophilia -> bệnh máu khó đông; thrombocytopenia -> giảm tiểu cầu |
Chương 4: Đánh giá chuyển dịch thuật ngữ chỉ bệnh Anh - Việt
Chương 4 tập trung đánh giá thực tiễn dịch thuật, phân loại các cấp độ tương đương và đề xuất giải pháp chuẩn hóa TNCB tiếng Việt.
1. Các cấp độ tương đương trong chuyển dịch TNCB Anh - Việt
- Tương đương hoàn toàn (toàn phần): Tương đương 1-1 về cả khái niệm bệnh học và cấu trúc định danh (ví dụ: appendicitis = viêm ruột thừa; gastritis = viêm dạ dày; hypertension = tăng huyết áp).
- Tương đương bộ phận: Tương đương về nội dung khái niệm bệnh học nhưng có sự khác biệt về cấu trúc hình thái hoặc phương thức định danh (ví dụ: một bên dùng từ đơn phái sinh, một bên dùng ngữ giải thích; hoặc dùng các yếu tố từ vựng Hán - Việt thay thế).
- Không có tương đương trực tiếp (khoảng trống từ vựng): Thường rơi vào các hội chứng mang tên riêng người tìm ra bệnh (eponyms), bệnh mới hoặc bệnh đặc thù:
- Sử dụng phương thức phiên âm hoặc giữ nguyên dạng: Parkinson’s disease -> bệnh Parkinson; Alzheimer’s disease -> bệnh Alzheimer; Down syndrome -> hội chứng Down.
- Dịch mô tả khái niệm: dịch nghĩa cơ chế bệnh sinh kết hợp giữ tên riêng.
2. Những vấn đề tồn tại trong thực tiễn dịch thuật TNCB
- Hiện tượng đa biến thể (đồng nghĩa thuật ngữ): Cùng một thuật ngữ tiếng Anh tồn tại nhiều cách dịch tiếng Việt khác nhau giữa các tài liệu, từ điển và bệnh viện (ví dụ: hypertension dịch là tăng huyết áp, cao huyết áp, bệnh tăng xông; diabetes mellitus dịch là đái tháo đường, tiểu đường, bệnh đái đường).
- Thiếu nhất quán giữa yếu tố Hán - Việt và thuần Việt: Ví dụ cùng chỉ viêm tai nhưng dùng lẫn lộn viêm tai giữa (thuần Việt kết hợp) và trung nhĩ viêm (Hán - Việt); loạn dưỡng cơ và teo cơ.
- Xử lý từ viết tắt: Lạm dụng từ viết tắt tiếng Anh nguyên dạng trong văn bản tiếng Việt mà không có chú giải ngữ nghĩa chuẩn xác, gây khó khăn cho người học và người bệnh.
3. Đề xuất chuẩn hóa dựa trên Lý thuyết Điển mẫu (Prototype Theory)
Luận án vận dụng lý thuyết điển mẫu để xây dựng nguyên tắc xác định thuật ngữ điển mẫu (thuật ngữ chuẩn ưu tiên) cho tiếng Việt:
- Thuật ngữ điển mẫu phải là đơn vị thể hiện rõ nhất bản chất khoa học của khái niệm bệnh học, đồng thời có tần suất sử dụng cao và được chấp nhận rộng rãi trong giới chuyên môn y khoa.
- Đề xuất các nguyên tắc chuẩn hóa:
- Nguyên tắc chính xác khoa học: Ưu tiên thuật ngữ phản ánh đúng vị trí giải phẫu và cơ chế bệnh sinh (ví dụ chọn đái tháo đường thay cho tiểu đường, chọn tăng huyết áp thay cho tăng xông).
- Nguyên tắc hệ thống hóa: Thống nhất mô hình cấu tạo ngữ pháp
[Từ chỉ loại bệnh] + [Bộ phận giải phẫu] + [Đặc tính] cho toàn bộ hệ thuật ngữ tiếng Việt.
- Nguyên tắc kết hợp hài hòa Hán - Việt và thuần Việt: Sử dụng yếu tố thuần Việt cho các bộ phận giải phẫu thông dụng, giữ yếu tố Hán - Việt cho các khái niệm bệnh học mang tính khái quát cao hoặc không có từ thuần Việt tương đương chính xác.
- Nguyên tắc tiếp nhận thuật ngữ quốc tế: Phiên âm có hệ thống hoặc giữ nguyên dạng chữ viết quốc tế đối với các tên bệnh mang tên danh nhân y học (Alzheimer, Parkinson), kèm theo từ chỉ loại bệnh hoặc hội chứng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học (lý luận)
- Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống đầu tiên trong nước về phân hệ thuật ngữ chỉ bệnh tiếng Anh và các đơn vị chuyển dịch tương đương trong tiếng Việt trên bình diện ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu.
- Hệ thống hóa và làm rõ mối quan hệ giữa cấu tạo hình thái học (căn tố, tiền tố, hậu tố Hy Lạp - Latinh) và các mô hình định danh ngữ nghĩa (theo đặc trưng bệnh và 17 hệ cơ quan cơ thể) của thuật ngữ chỉ bệnh.
- Ứng dụng lý thuyết điển mẫu vào việc xử lý hiện tượng đa biến thể thuật ngữ, đề xuất khung lý luận cho việc chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ chuyên ngành y học tiếng Việt.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Khảo sát, miêu tả và phân loại chi tiết bộ ngữ liệu gồm 1.949 thuật ngữ chỉ bệnh tiếng Anh và phần đối dịch tiếng Việt, cung cấp nguồn dữ liệu đã được đối chiếu, phân tích ngữ nghĩa và cấu trúc.
- Cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác biên dịch, xử lý tài liệu y khoa tiếng Anh; biên soạn và chỉnh lý giáo trình giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành y tại các trường đại học y dược và Học viện Quân y.
- Đặt nền tảng và cung cấp ngữ liệu trực tiếp cho việc biên soạn cuốn Từ điển thuật ngữ chỉ bệnh Anh - Việt.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Kiến nghị các cơ quan quản lý y tế, các hội chuyên môn y học và các cơ sở đào tạo phối hợp với các nhà ngôn ngữ học thành lập hội đồng chuẩn hóa thuật ngữ y học quốc gia, thống nhất ban hành danh mục thuật ngữ chỉ bệnh tiếng Việt chuẩn.
- Đề xuất áp dụng bộ 5 tiêu chuẩn (chính xác, hệ thống, quốc tế, ngắn gọn dễ hiểu, dân tộc) cùng các nguyên tắc định danh điển mẫu vào thực tế xuất bản tài liệu y học, sách giáo khoa và bệnh án lâm sàng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Ngữ liệu khảo sát (1.949 đơn vị) tập trung chủ yếu vào các thuật ngữ chỉ bệnh phổ biến và hiện hành trong các từ điển đối dịch y học tổng quát và bảng phân loại ICD-10, chưa bao quát toàn bộ các biến thể thuật ngữ ở các chuyên khoa sâu hoặc các bệnh lý hiếm mới phát sinh trong những năm gần đây.
- Luận án chỉ giới hạn khảo sát tiếng Việt hiện đại, không mở rộng khảo cứu tư liệu y học cổ truyền, văn bản chữ Hán hoặc chữ Nôm lịch sử.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng phạm vi khảo sát đối với hệ thống thuật ngữ của từng phân khoa lâm sàng chuyên sâu (như tim mạch can thiệp, ung bướu phân tử, di truyền y học, chẩn đoán hình ảnh kỹ thuật cao).
- Nghiên cứu đối chiếu sự tiếp nhận và biến đổi của thuật ngữ chỉ bệnh tiếng Anh trong các loại hình văn bản y khoa thực tế (bệnh án lâm sàng, biên bản hội chẩn, báo cáo nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng).
- Hoàn thiện bản thảo và xuất bản cuốn Từ điển thuật ngữ chỉ bệnh Anh - Việt có giải nghĩa chi tiết căn tố và ngữ cảnh sử dụng.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ học: Luận án là tài liệu tham khảo về phương pháp nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ chuyên ngành, kỹ thuật phân tích thành tố cấu tạo trực tiếp và ứng dụng lý thuyết định danh, lý thuyết điển mẫu vào dịch thuật học.
- Đối với giảng viên và học viên khối ngành Y - Dược: Cung cấp tài liệu tra cứu hệ thống căn tố, tiền tố, hậu tố Hy Lạp - Latinh (Phụ lục 1, 2, 3) và 1.949 thuật ngữ chỉ bệnh đối chiếu (Phụ lục 5), hỗ trợ học tập, giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành và đọc hiểu y văn quốc tế.
- Đối với biên dịch viên và biên tập viên y khoa: Cung cấp các mô hình chuyển dịch cấu tạo tương đương và tiêu chí lựa chọn thuật ngữ chuẩn, giúp thống nhất cách dùng từ trong các văn bản y tế, dịch thuật sách chuyên khảo và tài liệu hướng dẫn điều trị.
- Đối với các nhà hoạch định chính sách y tế và cơ quan chuẩn hóa ngôn ngữ: Cung cấp cơ sở lý luận và ngữ liệu thực chứng phục vụ việc xây dựng quy chuẩn danh pháp và thuật ngữ bệnh học quốc gia.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng bộ ngữ liệu nào và dung lượng khảo sát là bao nhiêu?
Luận án khảo sát tổng cộng 1.949 thuật ngữ chỉ bệnh tiếng Anh và phần đối dịch tiếng Việt (được tập hợp đầy đủ tại Phụ lục 5). Nguồn ngữ liệu chính được trích xuất từ cuốn Từ điển Y học Anh - Pháp - Nga - Latin - Nhật - Việt (I. Xô Cô Lốp & Trương Cam Bảo, NXB Khoa học và Kỹ thuật, 2001), có đối chiếu và so sánh với Bảng phân loại quốc tế bệnh tật Việt - Anh (ICD-10) của Bộ Y tế, Từ điển Y học Oxford, Từ điển Y học Dorland và các tài liệu tiếng Anh chuyên ngành y.
2. Thành tố cấu tạo nguồn gốc Hy Lạp và Latinh đóng vai trò như thế nào trong TNCB tiếng Anh?
Các thành tố gốc Hy Lạp và Latinh đóng vai trò nền tảng trong việc tạo từ phái sinh chỉ bệnh trong tiếng Anh. Cấu trúc một thuật ngữ thường là sự kết hợp chặt chẽ giữa căn tố chỉ bộ phận cơ thể hoặc tình trạng sinh lý (cardi/o, hepat/o, nephr/o...), tiền tố chỉ trạng thái, mức độ, vị trí (hyper-, hypo-, dys-, a-, endo-...) và hậu tố chỉ quá trình bệnh học (-itis, -oma, -osis, -pathy...). Việc nắm vững các thành tố này cho phép người đọc nhận diện và suy đoán chính xác nghĩa của hàng loạt thuật ngữ chuyên ngành phức tạp.
3. Năm tiêu chuẩn cơ bản nào được luận án xác định để chuẩn hóa hệ thống TNCB tiếng Việt?
Luận án xác định 5 tiêu chuẩn cốt lõi:
- Tính chính xác: Biểu hiện đúng nội dung khoa học, đảm bảo tính đơn nghĩa trong hệ thống khái niệm.
- Tính hệ thống: Thống nhất về cấu trúc hình thức và nội dung khái niệm trong toàn bộ hệ thuật ngữ.
- Tính quốc tế: Thể hiện tri thức chung của nhân loại, tương thích với danh pháp và thuật ngữ quốc tế.
- Tính ngắn gọn, dễ hiểu: Chứa lượng thông tin cao, cô đọng, thuận tiện trong giao tiếp và sử dụng.
- Tính dân tộc: Phù hợp với quy luật ngữ âm và cấu trúc ngữ pháp của tiếng Việt.
4. Tác giả phân loại thuật ngữ chỉ bệnh theo những nhóm tiêu chí định danh nào?
Luận án phân loại định danh TNCB theo hai nhóm tiêu chí chính:
- Theo đặc trưng của bệnh: Định danh dựa trên trạng thái bệnh lý (cấp, mạn, thoái hóa...), đặc điểm màu sắc (leuk/o-, erythr/o-, cyan/o-, melan/o-, xanth/o-...), đặc điểm số lượng (hyper-, hypo-, poly-, oligo-, a-...), đặc điểm thời gian (congenital, neonatal, postoperative...), và vị trí không gian.
- Theo bộ phận cơ thể người: Định danh dựa trên 17 nhóm cơ quan/hệ thống giải phẫu (đầu, thân trên, khoang bụng - tiêu hóa, chi, da - móng - tóc, phổi - hô hấp, xương - khớp, tim - tuần hoàn, thận - tiết niệu, sinh dục - phụ khoa, nội tiết, mắt, tai - mũi - họng, tâm lý, thần kinh, giác quan, cơ, huyết học).
5. Luận án chỉ ra những bất cập gì trong thực tiễn dịch thuật TNCB từ tiếng Anh sang tiếng Việt?
Thực tiễn dịch thuật hiện nay tồn tại ba bất cập chính:
- Hiện tượng đa biến thể (đồng nghĩa thuật ngữ), một tên bệnh tiếng Anh có nhiều biểu thức dịch tiếng Việt khác nhau cùng tồn tại (hypertension -> tăng huyết áp / cao huyết áp / tăng xông).
- Thiếu nhất quán trong việc sử dụng từ tố Hán - Việt và thuần Việt, dẫn đến tình trạng vừa thừa vừa thiếu tính hệ thống giữa các tài liệu.
- Việc xử lý các từ viết tắt chuyên ngành và tên riêng (eponyms) chưa đồng bộ, nhiều trường hợp lạm dụng nguyên dạng hoặc phiên âm thiếu quy tắc, gây khó khăn cho việc tiếp nhận thông tin y khoa chuẩn xác.
Kết luận
Luận án "Nghiên cứu thuật ngữ chỉ bệnh trong tiếng Anh và cách chuyển dịch sang tiếng Việt" của tác giả Nguyễn Thị Hoài là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về phân hệ thuật ngữ bệnh học trên ngữ liệu đối chiếu Anh - Việt. Thông qua việc khảo sát 1.949 đơn vị thuật ngữ, luận án đã làm sáng tỏ các mô hình cấu tạo hình thái học, cơ chế định danh ngữ nghĩa theo 17 hệ cơ quan và các cấp độ tương đương dịch thuật chuyên ngành. Công trình đã vận dụng lý thuyết điển mẫu và xác lập bộ tiêu chuẩn khoa học nhằm định hướng chuẩn hóa thuật ngữ chỉ bệnh tiếng Việt, đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu ngôn ngữ học đối chiếu, đào tạo y khoa và biên soạn từ điển chuyên ngành.