phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án bao gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở l luận. Chƣơng 2: Cấu tạo thuật ngữ chỉ bệnh tiếng Anh và chuyển dịch tƣơng đƣơng tiếng Việt. Chƣơng 3: Đặc điểm định danh của thuật ngữ chỉ bệnh tiếng Anh và chuyển dịch tƣơng đƣơng tiếng Việt. Chƣơng 4: Đánh giá chuyển dịch thuật ngữ chỉ bệnh Anh - Việt.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 T NG QU N T NH H NH NGH N CỨU V CƠ S U N 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THU T NG THU T NG CHỈ ỆNH TIẾNG NH VÀ TIẾNG VIỆT 1. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ 1. Trên thế giới Xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ cũng nhƣ các ngành nghề lƣợng thông tin cần trao đổi giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng nhiều giữa các ngành nghề đòi hỏi cần có một hệ thống thuật ngữ chuẩn cho mỗi ngành nghề.
Vì vậy, các nhà ngôn ngữ học đã quan tâm tới vấn đề này từ rất sớm. Vào thế kỷ 18 và 19, giới khoa học đã luôn quan tâm nghiên cứu thuật ngữ. Tuy nhiên, họ chủ yếu chỉ tìm cách phát triển thêm các thuật ngữ mới. Họ chỉ quan tâm đến sự đa dạng của hình thức và mối quan hệ giữa hình thức với khái niệm, mà bỏ qua bản chất của khái niệm cũng nhƣ cơ sở để tạo ra các thuật ngữ mới [Dagmar Sageder 2010].
Đến thế kỷ 20, sự tiến bộ và phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ không chỉ đặt ra yêu cầu đối với việc đặt tên các khái niệm mới mà còn phải thống nhất về các thuật ngữ đã đƣợc sử dụng. Kết quả là công tác nghiên cứu thuật ngữ đã ắt đầu đƣợc tổ chức ở một số lĩnh vực chuyên môn nhất định. Trong nửa đầu của thế kỷ 20, các nhà ngôn ngữ học và khoa học xã hội không phải chƣa dành sự quan tâm đặc biệt cho thuật ngữ. Thuật ngữ học bắt đầu đƣợc hình thành vào những năm 1930.
Công trình của Eugen Wüster, nhà ngôn ngữ học ngƣời Áo đƣợc coi là cha đẻ của thuật ngữ học, có vai trò hết 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sức quan trọng đối với sự phát triển của thuật ngữ học hiện đại. Trong luận án tiến sĩ của mình vào năm 1930 ông đã trình ày luận cứ cho việc hệ thống hóa phƣơng pháp tiếp cận thuật ngữ, thiết lập một số nguyên tắc nghiên cứu và vạch ra những điểm chính của phƣơng pháp xử lý dữ liệu thuật ngữ. Theo Wüster có bốn học giả có thể đƣợc coi là cha đẻ của lý thuyết thuật ngữ: " lfred Schlomann ngƣời Đức ngƣời đầu tiên xem xét bản chất hệ thống các thuật ngữ đặc biệt; nhà ngôn ngữ học ngƣời Thụy Sĩ Ferdinand de Saussure ngƣời đầu tiên đề cập đến bản chất hệ thống của ngôn ngữ; E. resen ngƣời Nga ngƣời đầu tiên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiêu chuẩn hóa thuật ngữ; và J.
Holmstrom, học giả ngƣời Anh tại UNESCO, ngƣời có công phổ biến các thuật ngữ trên quy mô quốc tế" [dẫn theo Cabré, 1992]. Công trình của Eugen Wüster đƣợc coi là cơ sở đầu tiên của khoa học thuật ngữ. a trƣờng phái thuật ngữ cổ điển Áo (Viên), Liên Xô và Cộng hòa Séc (Praha) đều xuất phát từ công trình này. Công trình của Wüster cũng là cơ sở của lý thuyết chung về thuật ngữ và sau này đƣợc những ngƣời kế nhiệm ông phát triển và nâng lên một tầm cao mới.
Nửa sau thế kỷ 20, những tiến bộ và sự phát triển nhanh chóng của khoa học kĩ thuật đòi hỏi cần phải đặt tên cho các đối tƣợng và khái niệm liên quan đến các lĩnh vực mới và phát triển cao của hoạt động con ngƣời. Quá trình đặt tên là cần thiết và tất yếu. Nhƣ lain Rey đã phát iểu: "Thế kỷ 20 đã cho thuật ngữ một định hƣớng khoa học đồng thời đã coi thuật ngữ là một hoạt động xã hội quan trọng"[dẫn theo Cabré, 1992]. Sự phát triển công nghệ trong nửa sau của thế kỷ 20 đã mang đến những đổi mới quan trọng nhất trong lĩnh vực thuật ngữ.
Cũng trong giai đoạn này ngân hàng dữ liệu đầu tiên xuất hiện và các phƣơng pháp tiếp cận an đầu đã đƣợc thực hiện để chuẩn hoá thuật ngữ trong ngôn ngữ. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giai đoạn thứ ba - sự bùng nổ trong lĩnh vực thuật ngữ từ 1975 đến 1985 đƣợc đánh dấu bởi sự gia tăng của các kế hoạch ngôn ngữ và dự án thuật ngữ (thậm chí một số nƣớc, chẳng hạn nhƣ Liên Xô cũ và Israel đã khởi động các chính sách ngôn ngữ của mình từ trƣớc). Tầm quan trọng đối với vai trò của thuật ngữ trong quá trình hiện đại hóa ngôn ngữ đã trở nên r ràng hơn giai đoạn này. Ngoài ra, sự bùng nổ máy tính cá nhân đã mang những thay đổi lớn trong các điều kiện để xử lý dữ liệu thuật ngữ [Cabré, Maria Teresa, 2003].
Xét về lý thuyết, thuật ngữ học có a trƣờng phái: Áo, Xô Viết, và Praha tƣơng ứng với a hƣớng tiếp cận trong lịch sử phát triển thuật ngữ. Trƣờng phái thứ nhất của các nhà ngôn ngữ học Áo cho rằng thuật ngữ học là một bộ môn khoa học liên ngành nhƣng là một thực thể độc lập khi hỗ trợ và phục vụ cho các bộ môn khoa học và kĩ thuật khác. Trƣờng phái thứ hai, các nhà ngôn ngữ học Xô Viết, họ đã có những nghiên cứu đa dạng và những đóng góp đáng kể về các khía cạnh của thuật ngữ. Đƣờng hƣớng nghiên cứu này tập trung vào nội dung triết học, quan tâm đến sự phân loại mang tính logic của các hệ thống quan niệm.
Trƣờng phái thứ ba, các nhà ngôn ngữ tập trung theo hƣớng ngữ dụng học, thuật ngữ đƣợc xem nhƣ một thành phần của vốn từ vựng trong ngôn ngữ và đƣợc xem nhƣ một ngôn ngữ đặc biệt trong hệ thống ngôn ngữ nói chung. Từ năm 1985 đến nay đƣợc coi là giai đoạn phát triển mở rộng của thuật ngữ, sự phát triển của khoa học, công nghệ, máy tính là một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến sự thay đổi trong lĩnh vực thuật ngữ học. Ngày nay, lý thuyết đại cƣơng về thuật ngữ đƣợc tập trung chủ yếu theo hƣớng đi từ quan niệm, mang tính khái quát cao nhằm tạo ra các thuật 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngữ cho các quan niệm, tức là đi từ quan niệm đến thuật ngữ đây chính là quá trình logic định danh. Ở Việt Nam Thuật ngữ khoa học Việt Nam bắt đầu hình thành và khẳng định vị trí của mình vào khoảng đầu thế kỷ XX.
Hoàng Xuân Hãn là ngƣời đầu tiên đặt nền móng cho nghiên cứu thuật ngữ ở nƣớc ta với tác phẩm “ anh từ khoa học” gồm 6000 danh từ khoa học mô tả những khái niệm trong khoa học tự nhiên dựa trên bản tiếng Pháp. Ông là ngƣời đầu tiên nêu ra a phƣơng thức xây dựng thuật ngữ đó là dựa vào từ ngữ thông thƣờng vay mƣợn từ tiếng Hán, và phiên âm từ tiếng Ấn - Âu đồng thời ông cũng đƣa ra tám yêu cầu khi xây dựng một danh từ khoa học mới. Đây là từ điển đối dịch Pháp - Việt đầu tiên ở Việt Nam về một số ngành khoa học tự nhiên [Hoàng Xuân Hãn, 1942]. Sau Hoàng Xuân Hãn, phải kể đến một số các nhà khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu về thuật ngữ đó là: Lƣu Vân Lăng Nhƣ Ý Nguyễn Văn Tu Đỗ Hữu Châu, Lê Khả Kế,.
với các công trình nghiên cứu tập trung vào các vấn đề về khái niệm, vị trí đặc điểm, tiêu chuẩn để xây dựng thuật ngữ trong tiếng Việt. Sau đó Hoàng Văn Hành (1983) khái quát về sự hình thành và phát triển thuật ngữ tiếng Việt trong một số bài báo nghiên cứu. Về thuật ngữ Anh - Việt, các từ điển đƣợc xuất bản trong nhiều lĩnh vực chuyên môn nhƣ kinh tế, tài chính, luật pháp, tin học, nông nghiệp, du lịch, hàng hải, y học, quân sự, báo chí, v. Theo số liệu thống kê của Lê Quang Thiêm (2015), từ năm 1945 đến năm 2015 có 359 từ điển đối dịch thuật ngữ gồm trên 300 chuyên ngành khác nhau.
Gần đây một số công trình có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực thuật ngữ nhƣ “Sự phát triển thuật ngữ tiếng Việt theo định hƣớng văn hóa (từ 1907 - 2005)” của Lê Quang Thiêm (2015) “Nghiên cứu khảo sát 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuật ngữ tiếng Việt phục vụ cho việc xây dựng luật ngôn ngữ ở Việt Nam” của Nguyễn Đức Tồn (2012), “sự phát triển của từ vựng tiếng Việt nửa sau thế kỷ XX” và “Thuật ngữ học, những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Hà Quang Năng (2009) trong công trình này ông đã khẳng định bốn giai đoạn quan trọng trong lịch sử phát triển thuật ngữ tiếng Việt hiện đại. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu thế hội nhập hiện nay, Nguyễn Văn Khang với một số bài báo mang tính thời sự nghiên cứu về vấn đề xử lý từ ngữ nƣớc ngoài trong tiếng Việt hiện nay nhằm chuẩn hóa thuật ngữ trong tiếng Việt Nguyễn Văn Khang 2000a-b]. Ngoài ra, còn có một số luận án nghiên cứu về thuật ngữ tiếng Việt trong một số ngành khoa học nhƣ: Hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt, đặc điểm và cấu tạo thuật ngữ Quân sự của Vũ Quang Hào (1991); Khảo sát hệ thuật ngữ tin học - viễn thông của Nguyễn Thị Kim Thanh (2005); Đặc điểm ngữ nghĩa và cấu tạo thuật ngữ luật sở hữu trí tuệ tiếng Việt của Mai Thị Loan (2012); Thuật ngữ khoa học kĩ thuật xây dựng của Vũ Thị Thu Huyền (2013); Nghiên cứu các phƣơng thức cấu tạo hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên tiếng Việt (trên tƣ liệu thuật ngữ Toán - Cơ - Tin học - Vật lý) của Ngô Phi Hùng (2013); Nghiên cứu thuật ngữ báo chí tiếng Việt của Quách Thị Gấm (2014); Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa hệ thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt của Nguyễn Quang Hùng (2015). Trong các công trình này, các tác giả đều khái quát đƣợc các điểm riêng biệt của thuật ngữ trong mỗi ngành khoa học, góp phần làm phong phú thêm cho hệ thuật ngữ tiếng Việt.